Hôm nay,  

Tìm Học Về Ngày Đản Sinh

28/05/201300:00:00(Xem: 7653)
Bài này tìm học rõ ngày sinh của đức Phật. Trên thế giới ngày nay có năm tôn giáo lớn: đạo Cơ Đốc, đạo Hồi, đạo Ấn Độ, đạo Do Thái và đạo Phật. Hai tôn giáo có tính cách cục bộ là đạo Ấn Độ (Hinduism) và đạo Do Thái (Judaism). Đạo Ấn Độ vào đầu thiên niên kỷ Ba đếm 700 triệu tín đồ, tức là 13% dân số thế giới. Đạo Do Thái rất ít tín đồ, 18 triệu người trên dân số thế giới gần 7 tỉ, thế nhưng ảnh hưởng bao la trên lịch sử, chính trị và kinh tế thế giới. Còn lại ba đức tin nhiều tính cách phổ biến là đạo Cơ Đốc, đạo Hồi và đạo Phật. Hồi giáo (Islamism) dạy rằng thượng đế Allah là tất cả, uy quyền vô biên, thế nhân không thể tìm hiểu ngày sinh của ngài. Đạo Cơ Đốc (Christianism) phát xuất từ người da trắng phương Tây, ngày nay sa sút, đang tìm cách chinh phục, dụ dỗ dân nghèo lam lũ ở châu Á và châu Phi. Đạo dạy là thượng đế (chúa Cha) cho người con của ngài là chúa Jesus xuống trần gian cứu vớt thế nhân. Jesus thay mặt thượng đế, tin ngài là tin đạo, người không tin là ngoại đạo, không biết tôn giáo là gì. Thượng đế cho Jesus xuống trần ngày Nol, thay mặt ngài vì vậy ngày sinh nhật của Jesus là ngày Giáng sinh.

Đạo Phật dạy chúng ta không tin vào ý niệm thượng đế và thần thánh. Thích ca là một con người như chúng ta, có sống có chết, nhưng khác với chúng ta là Ngài đã bỏ qua tất cả đi tìm nghĩa lý của sự sống, và Ngài đã tìm được, đã giác ngộ. Ngài cũng đã được cha mẹ sinh ra, vì vậy ngày sinh của Ngài là ngày đản sinh. Ngày nay ta đồng nhất và gọi đúng từ ngữ ngày sinh đức Phật là ngày Phật Đản.

Chúng ta có thể tóm lược chủ đề Phật Đản làm hai phần:

Phần thứ nhất, lễ đản sanh truyền thống, và phần thứ hai lễ đản sanh như ta quan niệm ngày hôm nay. Quy cách truyền thống trình bày lễ đản sinh qua hai bộ kinh quan trọng:

Bộ kinh thứ nhất thuộc Phật giáo Nam Tông, Jataka Kinh Bổn Sinh là phần lớn nhất của Tiểu Bộ Kinh (Khuddada nikaya), gồm 547 bài, kể lại sự tích, tiền kiếp của đức Phật, giảng rõ nghiệp (karina) đời trước đóng vai trò gì trong kiếp này, áp dụng vào thân kiếp đức Phật.

Bộ kinh thứ hai thuộc hệ phái Bắc Tông, Buddhacarita Phật Sở Hạnh Tán, là một tác phẩm văn vần của Mã Minh (Asvaghosa), nói rõ vào toàn bộ cuộc đời Thích Ca, gồm 28 bài thơ (ngày nay còn lại 13 bài, chữ Phạn Sanskrit và một số bản dịch qua tiếng Tây Tạng). Kinh này rất được ưa chuộng trong dân gian ngày xưa, vì lối thơ tả cuộc đời của đức Phật rất bình dị, nhẹ nhàng và hấp dẫn.

Trong hai bộ kinh vừa kể, một thuộc Nam Tông Theravada, hai thuộc Bắc tông Mahagana, sự tích đản sinh cũng được trình bày làm hai phần: mẹ đức Phật thụ thai, và hoàng hậu sinh đức Phật ra sao.

Ta có thể tóm lược phần thụ thai như sau:

"Bốn vị hộ pháp hiện ra và nhấc bổng tấm niệm hoàng hậu Maya đang nằm, bay đến chân núi Hi Mã Lạp Sơn (hay phiên âm hỉ-mã-lạp-sơn của từ Himalaya). Lập tức bốn bà vợ của bốn vị hộ pháp đến tiếp tay, nâng hoàng hậu đến hồ Anattada, tắm gội cho ngài sạch sẽ tất cả bụi trần. Nơi tắm ở gần đền Bạc, trong đền có một tòa nhà kết vàng. Người hầu trải một tấm nệm đầu hướng về phía Đông, và hoàng hậu được mời nằm trên nệm. Vào lúc này đức Phật hoá thân thành một con voi trắng vô cùng xinh đẹp. Voi bước lên đền Bạc, đi vòng quanh tấm nệm hoàng hậu đang nằm ba lần, lấy vòi chạm vào người hoàng hậu về phía hữu và đi thẳng vào tử cung của mẹ. Đó là sự kiện hoàng hậu Maya thụ thai. Khi tỉnh giấc, hoàng hậu tâu lên đức vua giấc mộng. Các vị sư sãi đồng tấu:

"Xin Hoàng Thượng an tâm, Hoàng Hậu sẽ sẽ sinh được một hoàng tử. Và nếu sau này hoàng tử tiếp tục sống trong cung điện, người sẽ trở thành một đấng minh quân. Nhưng nếu hoàng tử từ giã cung điện Ngài sẽ trở thành một vị Phật, giải tỏa mọi điều u muội và tội lỗi cho tất cả chúng sinh trong cõi đời. Vua Tịnh Phạn vui mừng, và 32 phép thần diệu xẩy ra. Thế giới 10 phương rung động, nấc lên và rung rẩy từng cơn. Lửa bừng cháy trên mọi ngọn đồi, trong khoảnh khắc mọi người ốm đau đều tìm lại đuợc an bình, mọi cây đàn không gảy mà rung rinh tiếng nhạc, nước trong bốn bể trở nên dịu ngọt và toàn thế giới ta bà được kết dãi bằng chùm hoa đẹp.

Tại vườn Lâm Tì Ni, giữa rừng cây bồ hòn hoàng hậu hạ sinh thái tử. Khi hoàng hậu chuyển bụng, ngài đau vói tay tìm một cành cao để đứng cho vững thì cành cây tự nhiên khum xuống cho ngài vịn. Hoàng hậu tay vịn nhánh cây cao, ở thế đứng hạ sanh thái tử. Đức Phật từ dạ con của mẹ ra đời như một vị thầy từ ghế giảng bước xuống, duỗi hai tay, duỗi hai chân xuống sàn đất, bước bảy bước về hướng Bắc, đầu đội chiếc vòng trắng, mắt nhìn bốn phương, xướng giọng như ngọc: "Ta là chúa tể mười phương, ngự trị muôn loài, và đây là lần tái sinh cuối cùng của ta."

Tiếp theo, kinh tả mọi điều mầu nhiệm lúc đức Phật lớn lên trong cung điện, ngài sống bên những thiếu nữ xinh đẹp chiêm ngưỡng ngài khi ngài dạo chơi. Kinh tả lại tỉ mỉ mọi điều xẩy ra trong thời thơ ấu của đức Phật.

Dĩ nhiên người chép kinh không bao giờ xem các biến cố vừa kể có tính cách huyền bí và truyền thuyết.

Bây giờ ta tìm đọc một bản tiểu sử mới, nói về ngày sanh của đức Phật, cũng đến từ miếu đường, do chính phủ nước cộng hoà Tích Lan/Sri Lanka, quốc gia thờ đạo Phật làm quốc giáo, bổn Phật Đản đã được chính thức phổ biến tại học đường và tại các nơi thờ phụng. (Manual of Buddhism, published by the Government of Sri Lanka, Colombo, 1990)

"Vào ngày trăng tròn tháng Năm, 623 năm trước Tây lịch (quốc gia Tích Lan cũng dùng Tây lịch, chú thích của người viết), tại quận Nepal, sinh ra đời một vị hoàng tử họ ?akya (Thích) tên là Gotama (Cổ Đàm). Vua cha là Suddhodana (Tịnh Phạn), mẹ là hoàng hậu Maya Maya (Ma Dza). Sinh con được vài ngày hoàng hậu qua đời và đứa bé được người em của hoàng hậu Maha Pajapati (Ma Kha Ba Xa Đề) chăm sóc nuôi dưỡng. Đến tuổi mười sáu, thái tử kết hôn với một người em họ xinh đẹp là công chúa Yasodhara (Dza Thâu Đà La). Đời sống tiếp tục trong mười ba năm hôn lễ, gia đình thái tử sống trong nhung lụa, thái tử hoàn toàn không biết tới những điều bất hạnh ngoài cung điện. Nhưng qua thời gian, thái tử dần dần hiểu những khổ đau của đời sống con người. Năm 29 tuổi, thái tử làm cha, công chúa sinh được con trai Rahula (La Hầu La). Thái tử xem con người là một bước cản trên đường tìm chân lý, vì Ngài thấu hiểu mọi chúng sanh đều phải sống trong vòng sinh lão bệnh tử. Thái tử quyết tâm tìm một lối thoát cho nỗi khổ đau không phải cho riêng mình và của mọi chúng sinh. Vì vậy Ngài rời bỏ đời sống vương giả, một đêm Ngài xuống tóc đi tu, quyết tìm chân lý của sự sống."


Như vậy ta đã lướt qua hai hình thức trình bày Phật Đản. Hình thức thứ nhất của người xưa, đầy thần bí huyển hoặc, do trí tưởng tượng của người tin Phật hư cấu. Đức Phật được xem như là một nhân vật siêu phàm, có nhiều kỳ vĩ, thời gian và không gian un đúc nên ngày sanh và các giai đoạn của cuộc đời đức Phật phần lớn không có cơ sở thực tế. Cách mô tả Phật Đản như thế này bây giờ không còn ai tin, mà nếu xung quanh ta còn có người tin thì người dân bình thường xứ ta gọi những người tin đó, một cách nôm na, và xin lỗi, có vẻ quê mùa là những người tin Phật "bà già trầu." (!)

Đúng thế chăng? Trên thực tế, nếu không có những người tin vào huyền thoại, liệu trong hai mươi sáu thế kỷ đã trôi qua, bị bao nhiêu thế lực bên ngoài dầy xéo, đạo của Thích Ca có còn tồn tại đến bây giờ chăng? Từ thế kỷ thứ Tám Tây lịch, Phật giáo bị quân Hồi giáo xua đuổi khỏi đất Ấn Độ là nơi chôn nhau cắt rốn của đạo Thích Ca ("Giết quân tà đạo, chôn lũ trọc đầu"), đạo Phật phải tìm con đường sống lên phương Bắc với người Trung Đông và người Trung Hoa, phát triển mạnh trong các dân tộc Trung Hoa và các dân tộc ảnh hưởng văn minh Trung Hoa (Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam...). Đi về hướng Đông, đạo Phật hòa đồng với các dân tộc Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, quần đảo Nam Dương và dưới triều Đại Đường bên Tàu, đạo Phật đã chinh phục một nửa người sống trên trái đất. Rồi đến thế kỷ Mười Sáu, Mười Bảy Tây lịch, một cuộc tàn phá đạo Phật khủng khiếp hơn do người da trắng và đạo Gia Tô. Giáo hoàng Alexander VI, rất hư đốn lại làm đại diện cho Thượng đế, ban hành huấn lệnh Patroado, chia thế giới ra làm hai (vị giáo hoàng lấy bút chì gạch một đường chia thế giới ra làm hai, và lúc đó chưa biết thế giới hình tròn!) một nửa cho Bồ Đào Nha và một nửa kia cho Tây Ban Nha để chinh phục linh hồn, thật ra là chinh phục đất làm thuộc địa. Trong phạm vị rất nhỏ và hết sức đau thương của đất nước Việt Nam ta, người Pháp không tuân hành huấn lệnh Patroado nhưng những tên thực dân đội lớp nhà tu như Pigneau de Béhaine, như Alexandre de Rhodes đã dẫn quân viễn chinh da trắng xâm chiếm đất nước ta, đặt ách thống trị Pháp lên đầu dân tộc ta hơn một trăm năm, để cho quân da trắng thả cửa đập phá chùa chiền.

Cũng là đức tin mà người ta đùa "đạo bà già trầu" nói ở trên đã xây dựng lên các công trình kiến trúc làm kiêu hãnh và vinh dự cho loài người như quần thể các ngôi chùa Borobudur, Mendut, Pawon (Borobudur Temple Compounds) tại Nam Dương, như đền Angkor Vat tại Cao Miên, Đông Đại Tự tại Nhật, cung điện Potala tại Tây Tạng, động Đôn Hoàng tại Trung Hoa và hàng trăm nghìn ngôi chùa, ngôi đền khác mà bàn tay nhỏ bé của con người đã xây dựng nên nơi thờ phượng đức Phật.

Hình thức thứ hai miêu tả Phật Đản, đượm màu lý trí, gần với chúng ta ngày nay hơn. Gạt sự tích thần thoại sang một bên, đạo Phật đã thấm vào tim óc của giới trẻ, đặc biệt là người trẻ trí thức trong thế giới Tây phương. Riêng tại Hoa Kỳ số trí thức người Mỹ trong thập niên 1980 được công bố là 7 triệu, và năm 2000 là 10 triệu. Gần 1 triệu người gốc Việt sống tại California đã phải nghĩ đến niềm vinh hạnh là vị Thống đốc hiện tại, ông Jerry Brown là một người theo đạo Phật. Kỷ niệm ngày Phật Đản, ta nhớ đến câu nói của Albert Einstein: "...Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được với các nhu cầu của nền khoa học hiện đại, thì chính là đạo Phật. Phật giáo không hề cần phải tu chính quan điểm giáo lý để theo được khoa học vì Phật giáo vừa bao gồm khoa học và vừa vượt xa khoa học nữa. (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to surrender its views to science, because it embrasses science as well as goes beyond science).

Bài tìm học nhỏ này cũng nhằm mục đích nhắc nhở các bạn trẻ sống xa quê hương đang suy nghĩ và tìm kiếm những di sản truyền thống của cha ông chúng ta ngày xưa đang bị những người cộng sản ở Ba Đình chủ trương "khoa học hóa con người" làm tiêu diệt dần mòn. Chúng ta cũng nên nhìn nhận là các tài liệu nghiên cứu dữ kiện xã hội và tín ngưỡng ở xứ ta rất nghèo nàn. Suốt hơn một thế kỷ sống dưới ách đô hộ khắc nghiệt của người da trắng Pháp với sự tiếp tay khinh mạn và chà đạp của giáo sĩ Gia Tô xem dân bản xứ là "ngoại đạo" - tức là không biết tôn giáo là gì!! thì làm sao có những cuộc tìm hiểu tín ngưỡng bản địa.

Lại nữa, tiếp theo cuộc sống nô lệ là cuộc chiến đấu điêu tàn triền miên giữa bên thiện và bên ác. Cộng sản miền Bắc vì lợi ích của bè đảng cương quyết áp đặt đường lối "bác đi!" trên toàn quê hương, thử còn ai có thì giờ và phương tiện tìm học hiểu cặn kẽ các sinh hoạt tín ngưỡng, như lề lối và ý nghĩa các phong tục đã dày nghìn năm trên đất nước.

Tại Hà Nội ngày nay đã có một viện Quốc Học, chuyên nghiên cứu những vấn đề khoa học xã hội. Ta đoán chắc phải có phần cho việc tìm hiểu các tín ngưỡng và phong tục thực hiện các tín ngưỡng đó, cho dù nhà cầm quyền có chủ trương loại bỏ Tự Do Tôn Giáo ra khỏi đời sống nhân dân. Ở ngoài nước cũng vậy, ước mong các bạn trẻ dùng chất xám của mình làm phương tiện yểm trợ cho sự nghiên cứu vốn rất phong phú tại đất Mỹ và thế giới Tự Do, kể cả các công trình dã ngoại, để cho các sinh hoạt xưa như việc thiết trí một bàn thờ (chỉ đơn cử một chi tiết nhỏ trong cách thiết lập hoàn chỉnh một bàn thờ Tổ Quốc và các vị Anh Hùng Tử Sĩ vị quốc vong thân theo di sản truyền thống mang theo từ trong xã hội Miền Nam Tự Do) khỏi phải bị quên lãng trong một tương lai rất gần. Mong lắm thay!

(Xin liên lạc E-Mail: [email protected] để có bài viết này hay bài viết khác của tác giả Bửu Tập)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.