Hôm nay,  

Trung Quốc Trăm Năm

09/08/201300:00:00(Xem: 8380)
Giấc mơ và Ác mộng trong Tiềm thức Trung Hoa...

Sau khi lên lãnh đạo từ Đại hội 18, "thế hệ thứ năm" gồm những Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường của Bắc Kinh nói đến "Trung Quốc Mộng" qua một mớ khẩu hiệu được truyền thông Hoa Kỳ mau mắn phổ biến và bình luận.

Giấc mơ phú cường của một quốc gia là chủ trương của mọi lãnh tụ vào mọi thời. Nhưng xây dựng các chế độ cộng sản thường là những nhà lập thuyết, họ nói nhiều, viết khoẻ và diễn giải mục tiêu phú cường dưới nhiều khía cạnh khác nhau để cho thấy rằng họ làm cái gì và thời nào cũng đúng. Từ Marx, Lenin, đến Stalin, Mao, Hồ và nhiều thế hệ nối tiếp đã có cả ngàn trang và triệu chữ về cuộc cách mạng sẽ biến giấc mơ thành hiện thực. Bên trong, người ta có thể thấy ra nhiều mâu thuẫn xuất phát từ các chiến lược được áp dụng trong từng giai đoạn.

Thí dụ cụ thể là giấc mơ của Đặng Tiểu Bình có khác với kỳ vọng và thành tích sát nhân của Mao Trạch Đông, hoặc sự nghiệp "đổi mới" để làm khác những gì mà Hồ Chí Minh đã áp dụng vẫn nằm trong dòng "tư tưởng Hồ Chí Minh"! Và củng cố chế độ tư bản nhà nước theo kiểu Bắc Kinh hiện đại chính là con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc, dưới màu sắc Trung Hoa....

Khi Tập Cận Bình mơ ước xây dựng một xã hội trung lưu vào năm 2020 để kỷ niệm trăm năm thành lập đảng Cộng sản Trung Hoa (1921), với lợi tức đồng niên của một người dân sẽ lên tới 10 ngàn đô la, chúng ta nhớ rằng hiện nay, lợi tức trung bình của một người dân ở Đài Loan đã gấp đôi số đó. Khi họ Tập mơ ước đưa Trung Quốc từ trình độ "đang phát triển" lên trình độ "đã phát triển" vào năm 2049 để kỷ niệm trăm năm ngày thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, ta nhớ rằng Nhật Bản đã công nghiệp hoá từ trăm năm trước. Hoặc Nam Hàn hay Đài Loan ngày nay là hai nước "đã phát triển" mà chẳng phải giết người vì bước nhảy vọt vĩ đại kiểu Mao....

Chúng ta khó thi đua tranh cãi hay diễn giải lý luận của các lãnh tụ mà nên lùi lại và nhìn từ xa hơn: ngay trong tiềm thức lâu dài của một quốc gia, đâu là những động lực chi phối quyết định của lãnh đạo? Vì thế, sau loạt bài về ngàn năm của Trung Quốc, kỳ này xin nói chuyện trăm năm. Từ cuộc "Cách mạng Tân Hợi" năm 1911 cho đến hiện tại và giấc mơ của Tập Cận Bình....

Nếu có thể tóm lược dù rằng không dễ thì trăm năm qua, Trung Quốc có hai cuộc cách mạng.

Sau mấy trăm năm bị dị tộc cai trị trong ngàn năm đầy mặc cảm, Hán tộc vùng dậy qua hai cuộc cách mạng này, với nhiều việc làm nhẹ ra thì gọi là cũng đáng trách mà một số người trong chúng ta vẫn cứ xem là mẫu mực!

Cuộc cách mạng thứ nhất chấm dứt chế độ quân chủ và Đế chế Trung Hoa để lập ra chế độ Cộng hoà mà họ gọi là Dân quốc. Đấy là biến cố 1911 với kết quả đẹp nhất được thu gọn vào Đài Loan. Cuộc cách mạng thứ hai ăm 1949 thì dựng chế độ Cộng sản và... tái lập Đế chế Trung Hoa xuất hiện từ thời đại của Tần Thủy Hoàng Đế vào năm -221 (trước Công nguyên).

Trong các thế kỷ ngoại thuộc, Hán tộc có đấu tranh cho độc lập qua các phong trào như Bạch Liên giáo và vụ khởi nghĩa Hồng Cân nổi lên từ thời Nguyên Mông vào thế kỷ 14. Nối tiếp là một chuỗi hội kín như Thiên Địa hội, Hồng Hoa hội hay Nghĩa Hòa đoàn, v.v... vào đời Thanh. Hiện tượng hội kín ấy dễ đưa tới tình trạng tâm thần phân liệt zchizophrenia vì thực giả bất minh, dối trá là biểu hiện của khôn ngoan sáng suốt.

Sau đó là Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) vào cuối thể kỷ 19 lập ra Hưng Trung hội và Đồng Minh hội với chủ trương ba điểm, theo thứ tự là 1) lật đổ nhà Mãn Thanh, 2) giành quyền tự chủ cho người Hán và 3) thiết lập chế độ cộng hoà. Phong trào chưa có kết quả ban đầu cho đến khi trí thức tham gia, đa số là sinh viên du học bên Nhật nhờ chính sách cải tổ giáo dục của... nhà Thanh. Nhưng phong trào tập trung vào đối tượng cần đả phá là Mãn Thanh và vì nhà Minh chẳng còn đại diện chính thống, họ mới nói đến nền cộng hoà.

Chủ điểm chưa là xây dựng dân chủ mà mới chỉ là diệt Thanh sùng Hán.

Thế rồi nỗi căm phẫn với Thanh triều bùng nổ, dẫn đến việc tàn sát Mãn tộc trong cái trớn cách mạng vào năm 1911, và chủ nghĩa sùng Hán với tinh thần kỳ thị các sắc tộc khác lại được đề cao. Hãy nhớ đến cách Tôn Trung Sơn miệt thị Việt Nam với các nhà cách mạng của ta vào thời ấy thì rõ! Ta cũng chẳng quên là khi Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch qua Đài Loan thì cũng đã mở màn bằng tàn sát dân bản địa vào Tháng Hai năm 1947, và chỉ coi trọng lớp người từ Hoa lục mà họ cho là người Hán thật.

Cho nên cuộc cách mạng năm 1911 có màu sắc thanh tẩy chủng tộc hơn là đổi đời để xây dựng một chế độ cai trị tốt đẹp hơn. Nó cũng giải thích vì sao thể chế liên bang cho một xứ đa chủng lại khó thành hình.

Từ đó, xin ngẫm về chuyện hiện đại và ký ức tập thể:

Lịch sử cận đại của Trung Quốc cứ nói đến vụ "Cưỡng bức Nam Kinh" (The Rape of Nanjing) của người Nhật vào năm 1937 mà quên vụ thảm sát Nam Kinh vào Tháng 12 năm 1911, khi mọi gia đình người Mãn đều bị giết sạch, dù là tiến bộ hay phản động đều chết. Trước đấy vào Tháng 10 đã có vụ tàn sát tại Vũ Xương trong cuộc khởi nghĩa ở đó.

Kết quả là vài con số: Cuối đời Thanh, dân số Trung Quốc ở vào khoảng 300 triệu, từ 1 đến 3% là người Mãn, tức là có từ ba đến chín triệu dân. Ngày nay số người thuộc Mãn tộc chỉ còn là 10 triệu trong một tỷ 350 triệu dân, tức là trong trăm năm qua dân số không tăng, chỉ vì họ đổi tên đổi họ thành người Hán để khỏi bị sát hại. Ngay trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Mao (1967-1976) nhiều người Mãn bị đàn áp vì tội danh là "gián điệp". Năm 2007, chỉ còn chừng 100 người biết nói tiếng Mãn và ngày nay, người Hán vẫn gọi người Mãn là "bọn Do Thái của Trung Quốc". Nếu có nói đến một vụ thanh tẩy chủng tộc hay ethnic cleansing thì không sai.

Những chuyện xa xôi ấy cho thấy giấc mơ Trung Quốc nhiều khi là cơn ác mộng cho các sắc tộc khác: chuyện Tân Cương và Tây Tạng ngày nay chỉ là tái diễn tinh vi hơn.

Trung Hoa Dân Quốc ra đời ngày đầu năm 1912 với Tôn Dật Tiên làm Tổng thống hờ được có một tháng là nhường chức cho một tay đại gian hùng và cực lưu manh là Viên Thế Khải, một ông tướng đệ nhất công thần của triều Mãn Thanh có tham vọng lên làm Hoàng đế. Sau đó Tôn Dật Tiên mới hợp nhất Trung Quốc Đồng Minh hội với các nhóm cách mạng khác thành Trung Hoa Quốc Dân Đảng, khi Trung Quốc trôi vào nội loạn với các lãnh chúa mọc như nấm.

Chúng ta đều hiểu rằng nhiều cuộc cách mạng đã xuất hiện như vậy, với kết quả trái ngược, và thí dụ chói lọi mà cũng là tấm gương cho các đồ tể của cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

Lãnh đạo của Bắc Kinh thời nay đều biết và nhớ chuyện đó khiến ta phải suy ngẫm về cuộc cách mạng thứ hai.

Tháng 10 năm 2011, họ cho tổ chức rầm rộ sinh hoạt kỷ niệm trăm năm của cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 và còn cho dựng chân dung Tôn Trung Sơn tại quảng trường Thiên An Môn. Họ cho thần dân ăn mừng biến cố cách mạng là sự kết thúc của chế độ quân chủ, khởi đi từ Tần Thủy Hoàng, thần tượng của Mao Trạch Đông, được phim ảnh Hoa lục và những Trương Nghệ Mưu hay Trần Khải Ca làm phim ca tụng....

Nhưng ngay sau đó, Bắc Kinh nghĩ lại và tắt đèn!

Thứ nhất, vở nhạc kịch ngợi ca cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Trung Sơn bỗng dưng bị hủy. Lý cớ được thông báo là vì hậu cần, tiếp vận. Thứ hai và ly kỳ hơn vậy, cuộc hội thảo do các học giả Nhật Bản chuẩn bị từ nhiều tháng trước về cuộc Cách mạng Tân Hợi cũng bị cấm, mà không cho biết lý cớ. Lý do thì ta có thể đoán ra, nếu chịu khó nhìn vào trăm năm lịch sử đó.

Ban đầu, nhà cách mạng Tôn Dật Tiên chưa muốn lập Quốc hội và chỉ làm Tổng thống là bị cướp mất quyền hành, xứ sở lâm nội loạn triền miên với vai trò của các sứ quân lãnh chúa. Trong cảnh hỗn loạn ấy duy nhất có một yếu tố xứng danh cách mạng là trào lưu tự do tư tưởng và khuynh hướng lập hội lập đảng để canh tân xã hội.

Ngày nay, khi nói đến sự nghiệp cách mạng Tôn Dật Tiên, Bắc Kinh giải thích và giải quyết thế nào về trào lưu tự do tư tưởng của xã hội Trung Quốc cách đây một thế kỷ? Giải thích thế nào về chế độ kiểm duyệt thông tin và đàn áp dân chủ hiện vẫn áp dụng trên toàn quốc? Giấc mơ Trung Quốc vẫn là ác mộng và bị giới trẻ vượt bức tường lửa vào không gian điện toán để chế diễu tưng bừng!

Lý do thứ ba, Tôn Dật Tiên là người thí thức Công giáo, có hậu cứ vận động từ hải ngoại là Hoa Kỳ và nhiều lần tìm nguồn yểm trợ tại Nhật Bản, một quốc gia phú cường, tiến bộ và tự do hơn Trung Quốc gấp bội. Nhật Bản còn là nước đại thắng trong cuộc chiến Hoa-Nhật năm 1894-1895, góp phần đáng kể cho sự sụp đổ của nhà Đại Thanh. Vì vậy mà Tháng 10 năm 2011, các học giả Nhật mới sốt sắng tổ chức cuộc hội thảo về Các mạng Tân Hợi và bị Bắc Kinh hạ màn!

Trong hoàn cảnh của ngày nay, nhắc đến Tôn Dật Tiên là lòi ra vai trò cách mạng hoặc diễn biến thiếu hoà bình của Hoa Kỳ và Nhật Bản.... Mà lý do không chỉ có vậy!

Sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh là niềm tự hào chính đáng của Hán tộc. Khi Mãn tộc tiêu diệt nhà Đại Minh năm 1644 thì đấy là nỗi nhục khó rửa cho người Hán vì vậy, "Phản Thanh - Phục Minh" là khẩu hiệu huy động nhiều thế hệ ái quốc là một chủ trương của Tôn Dật Tiên. Nhưng cũng dị tộc Mãn Thanh xấu xa tồi bại ấy đã bành trướng lãnh thổ, cho Bắc Kinh ngày nay có thể viện lẽ chính danh từ đời Thanh mà đòi thống trị Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, v.v....

Chẳng lẽ sau cuộc cách mạng 1949, chế độ Cộng sản Trung Quốc ưu việt mà kế thừa di sản Đế quốc của ngoại tộc Mãn Thanh sao? Huống hồ, kẻ kế thừa di sản Tôn Dật Tiên lại là Tưởng Giới Thạch! Sau khi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc được Mao thành lập ở Hoa lục thì Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Văn được Tưởng Giới Thạch đem qua Đài Loan. Đảo quốc mang tiếng là lãnh thổ ngàn đời của Trung Hoa lại gợi nhớ đến những tranh chấp về chủ quyền trên đảo Đài Loan từ đời Thanh. Mà hậu thân của cái gọi là "ngụy quyền" Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan ngày nay lại xây dựng được một nền kinh tế tiên tiến với một chế độ chính trị thật sự dân chủ của một quốc gia đã phát triển.

Từ cuộc cách mạng thứ nhì là Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, thì 30 năm đầu (1949-1979) là thời hoang tưởng chết người, một chuỗi dài các chiến dịch như "Đại dược tiến", "Bách hoa tề phóng" hay "Đại văn cách" khiến xứ này có sự ổn định của bãi tha ma trên xương máu của mấy chục triệu nạn nhân. Nhưng "về cơ bản thì Mao Chủ tịch vẫn là vĩ đại" với tỷ lệ đúng/sai là 70/30! Sau bốn năm đảo chính chậm rãi của Đặng Tiểu Bình, từ 1976 đến 1979, Trung Quốc mới có 30 năm nhảy vọt vĩ đại khiến Trung Quốc hy vọng tái xuất hiện như một cường quốc đáng nể.

Nhưng cũng kể từ năm 2009, kinh tế Trung Quốc trôi vào một bước ngoặt và ngày nay thì bắt đầu phải chuyển hướng mà chỉ sợ loạn trong khi đã vội gây hấn với nhiều xứ khác.

Truyền thông Hoa Kỳ cứ ưa tìm hiểu và ngợi ca thành quả hay giấc mơ Trung Quốc mà quên rằng khi Tập Cận Bình nói đến giấc mơ này thì cũng là lúc Trung ương đảng ra chỉ thị về bảy điều cấm không được giảng dạy trong các đại học – cho các thanh niên đã trưởng thành (xin đọc lại bài "Thất Bất Giảng" trên cột báo này từ hồi Tháng Năm).

Số là Văn phòng Biện Công Sảnh của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc vừa ra một chỉ thị được lặng lẽ phổ biến cho các đại học. Bộ phận lo công việc thường vụ của bộ Chính trị và ban Chấp hành Trung ương, kể cả việc ban hành chỉ thị từ trung ương xuống các cấp bộ ở dưới, ra chỉ thị về bảy điều không được bàn cãi giảng giải. Đó là 1) Các giá trị phổ cập trên hoàn vũ, "universal values"; 2) quyền tự do báo chí; 3) "xã hội dân sự" hay "civil society"; 4) dân quyền; 5) về những sai lầm của đảng trong lịch sử; 6) không được nhắc đến "mạng lưới thân tộc" của con cháu các đảng viên cao cấp; và 7) quyền tư pháp độc lập....

Bước vào thế kỷ 21, khi nhân loại nói đến cách mạng tín học và kinh tế tri thức với động lực là khả năng phê phán để phát huy quyền tự do sáng tạo, mà lãnh đạo Bắc Kinh còn tụt hậu so với tư tưởng khai phóng được Tôn Dật Tiên và thanh niên trí thức đề cao từ trăm năm trước thì giấc mơ Trung Quốc vẫn là cơn ác mộng.

Nực cười thay, hình ảnh một tỷ con kiến vẫn theo bầy kiến chúa bò quanh miệng chén....

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.