Hôm nay,  

Khí Công Hoa Kỳ

21/09/201300:00:00(Xem: 10055)
Những bước âm thầm của cuộc cách mạng năng lượng tại Hoa Kỳ...

Năm năm sau vụ khủng hoảng tài chánh 2008, khi kiểm điểm lại kinh tế Hoa Kỳ, người ta không nên quên một chuyển động tích cực: nước Mỹ đang lặng lẽ tiến hành cuộc cách mạng năng lượng, với hậu quả có thể đảo lộn quan hệ an ninh và kinh tế trên toàn cầu...

Trong cuộc hội thảo bàn tròn về kinh doanh hôm Thứ Tư 18 tại thủ đô Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama phát biểu rằng người ta lầm tên (misnomer) khi nói đến việc nước Mỹ sẽ tự túc về năng lượng. Lý do là đặc tính toàn cầu của việc mua bán dầu khí. Cách giải thích trừu tượng đó lọt ra khỏi sự quan tâm của giới tiêu thụ khi giá xăng dầu bơm vào xe hơi chưa mấy thay đổi, nhưng thật ra, Hoa Kỳ đã có một lực đẩy mới cho nền kinh tế. Nếu có chơi chữ mà gọi là "khí công" thì cũng đúng...

Trước hết là về bối cảnh của vấn đề.

Một cách nôm na thì ta dùng chữ "năng lượng" để nói về hai lực đẩy phổ biến. Đẩy xe cho nhu cầu vận chuyển, và đẩy chong chóng để phát điện. Muốn có điện, người ta dùng than, khí đốt, lò hạch tâm hay loại năng lượng tái tạo như ánh sáng mặt trời, sức gió và sức nước, gọi cho văn hoa là quang năng, phong năng và thủy điện. Muốn chạy xe, thì xăng dầu vẫn là chính.

Hoa Kỳ đã tự túc về than đá và có thừa cho xuất cảng, sẽ sớm tự túc về khí đốt để có thể xuất cảng kể từ năm 2020 tới đây. Cho nhu cầu vận tải, 90% số năng lượng cần thiết vẫn là dầu thô. Dù có kể thêm trữ lượng dầu thô tại Canada, hai nước Bắc Mỹ chưa sản xuất đủ dầu cho nhu cầu và còn lệ thuộc vào nguồn cung cấp ở nơi khác. Dù mức lệ thuộc này có giảm dần, nước Mỹ chưa thật sự tự túc về dầu. Lời nhắc nhở của ông Obama nhắm vào chuyện đó.

Nhưng vì sao mức lệ thuộc này sẽ lại giảm dần?

Trước hết, vẫn nói về dầu, Hoa Kỳ có tăng sản lượng dầu thô để nâng mức an toàn năng lượng cho nhu cầu vận chuyển. Tuần qua, nhật lượng dầu thô của Mỹ đã lên tới gần tám triệu thùng một ngày, mức cao nhất kể từ đầu năm 1989, và theo đà này, đến năm 2018, Hoa Kỳ sẽ dẫn đầu thế giới. Song song, kỹ thuật cải tiến từ gốc đến ngọn qua hệ thống phân phối, là yếu tố tích cực khác của việc sử dụng, dù sẽ chỉ có kết quả trong dài hạn. Thứ ba, kỹ nghệ xe hơi của Mỹ đang phát triển công nghệ mới để dùng điện và khí thay dầu và chế tạo ra loại bình điện rẻ hơn.

Mà nói đến điện thì người ta có nhiều nguồn cung cấp khác.

Cuộc cách mạng về thuật lý (technology, techno và logos, thuật và lý) cho nhu cầu năng lượng vận tải mới chỉ khởi sự - xe hơi chạy điện vẫn còn đắt. Nhưng việc lái xe chạy điện và tự "xạc" bình điện trong nhà hay trên xa lộ đã là thực tế chứ không còn là chuyện khoa học giả tưởng. Ngoài ra, người ta còn áp dụng kỹ thuật mới để biến khí đốt thành dầu cặn diesel và nhiều sản phẩm khác, nên số cầu về dầu thô cũng giảm. Sau cùng, hiệu năng tiêu thụ với tiêu chuẩn tiết kiệm cao hơn - và cả sự chuyển dịch dân số khiến số xe đăng bộ của giới trẻ tại Nha lộ vận cũng giảm - đang hạ thấp số cầu về dầu thô tại Hoa Kỳ.

Dù chẳng lạc quan nghĩ tới bước đột phá khiến nước Mỹ lập tức bớt dùng dầu, ta không nên đánh giá thấp khả năng sáng tạo của doanh nghiệp Hoa Kỳ. Trong khi chờ đợi, giới nghiên cứu về năng lượng đều cho rằng tới quãng 2040, số tiêu thụ dầu thô tại Mỹ sẽ giảm một phần ba.

Nói cho dễ hiểu thì Mỹ vẫn cần nhập dầu nơi khác, và quan tâm đến an ninh tại Trung Đông, nhưng không còn bị các nước bán dầu bắt bí như trước đây. Ngược lại, nhiều nước khác vẫn bị lệ thuộc vào dầu khí Trung Đông. Sự lệ thuộc đó thu hẹp khả năng ứng phó của họ về ngoại giao.


Bây giờ, ta mới nhìn qua nguồn năng lượng cho điện lực – khác với năng lượng cho vận tải.

Đặc tính của nguồn năng lượng này là địa phương tính. Khác với dầu thô là sản phẩm dễ di chuyển và mua bán, năng lượng cho điện lực như than, khí, quang phong năng hay thủy điện thường khó bán cho các thị trường ở xa. Đấy là lý do khiến giá biểu có khác biệt lớn và nước nào mà sản xuất nhiều thì có lợi lớn ở tại chỗ, và ít bị thị trường quốc tế chi phối.

Hoa Kỳ thuộc vào trường hợp này, lại còn đang cải tiến khả năng tồn trữ và vận chuyện để sẽ thành đại gia bán than và bán khí trong tương lai!

Hãy chỉ nhìn vào thực tại, của thị trường nội địa.

Nước Mỹ có thừa than và sẽ thừa khí đốt, là nguồn cung cấp cho hai phần ba nhu cầu về điện lực, cho nên có điện rẻ hơn nhiều xứ khác (phân nửa giá Âu Châu và một phần ba giá của Nhật). Trong các nhập lượng cần thiết cho sản xuất (đất đai, tư bản, kỹ thuật, lao động, nguyên nhiên vật liệu, v.v...) điện năng khá rẻ tại Hoa Kỳ là một ưu thế kinh tế. Đấy là một nguồn kích thích đầu tư và sản xuất mà nhiều nước công nghiệp hoá khác không có được.

Hiệu năng tiêu thụ và tiêu chuẩn cao về môi sinh khiến nền kinh tế này sản xuất nhiều hơn và sạch hơn. Nghĩa là cuộc cách mạng năng lượng tại Hoa Kỳ chưa làm rung chuyển thị trường giá cả thế giới, nhưng đã tạo ra một lực đẩy khác cho kinh tế Hoa Kỳ.

Một chuyện nữa ít được truyền thông chú ý và loan tải. Trong một giai đoạn quá lâu, từ vài chục năm nay, ta cứ thấy chính trường Mỹ tranh luận về việc doanh nghiệp tham lời mà đầu tư ra ngoài, tạo việc làm cho xứ khác và rút ruột khu vực chế biến tại Hoa Kỳ. Cho đến nay, lý luận này của cánh tả lạc hậu vẫn được nhiều người cho là chân lý kinh tế chính trị.

Sự thật đã đổi khác mà họ không thấy, hay chưa thấy. Sự thật là giới đầu tư đã lặng lẽ triệt thoái về thị trường Hoa Kỳ, là nơi mà sự sáng tạo trong kinh doanh và tổ chức đang làm thay đổi cơ cấu phí tổn và lời lỗ. Nhiều doanh nghiệp Mỹ và quốc tế đã thấy lập nhà máy tại Hoa Kỳ lại có lời hơn.

Trước hết là về giá điện như vừa nói ở trên. Thứ nữa, nhiều ngành sản xuất áp dụng thuật lý tự động (robotics) và ráp chế chạy điện để khai thác lợi thế giá cả này. Đã vậy, ngoài công nghệ gạn cát ra khí lỏng, Hoa Kỳ còn có trữ lượng rất cao về khí đốt và sẽ là đại gia trong một tương lai lâu dài hơn các đại gia bán dầu hiện nay như Saudi Arabia hay Liên bang Nga.

Ngay trước mắt, một số nước ăn nên làm ra nhờ nhân công rẻ đã bắt đầu đụng trần vì lương tăng và bổng lộc bốc giá trên thời, trường hợp nổi bật của Trung Quốc. Cho nên suy đi tính lại thì doanh nghiệp Mỹ kết luận "ao nhà vẫn hơn", trong, lành và lắm cá hơn!

Kết luận ở đây?

Từ năm 2006, kỹ nghệ Hoa Kỳ đã có nhiều thay đổi và cuộc cách mạng năng lượng đang đảo lộn nhiều tính toán về kinh doanh, kinh tế và an ninh khiến Hoa Kỳ vẫn là siêu cường giàu mạnh nhất. Giàu mạnh tới mức chịu đựng được nhiều sai lầm về chính sách hay chính trị, lẫn sự lúng túng của lãnh đạo tay mơ. Nhờ vậy mà nước Mỹ vẫn có khả năng xoay trở rộng rãi hơn.

Hoa Kỳ vẫn phải quan tâm đến tình hình Trung Đông và sự ổn định tại một trung tâm dầu khí của thế giới vì chiến tranh có thể gây suy trầm kinh tế toàn cầu. Nhưng trong kịch bản gọi là bất lợi chung cho cả thế giới, thí dụ như khủng hoảng Syria lan rộng hoặc Iran phong tỏa Eo biển Hormuz, nước Mỹ vẫn giữ được thế mạnh hơn tất cả các cường quốc kinh tế như Âu Châu, Nhật Bản, Trung Quốc hay Liên bang Nga.

Gọi đó là "Khí công Hoa Kỳ" cũng không ngoa.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.