Hôm nay,  

Đấu Trí Hơn Đấu Lực

06/12/201300:00:00(Xem: 4386)
Cuộc cờ ‘Phòng Không’ của Bắc Kinh trong thuyết đấu trí...

Chúng ta bình luận thế nào về việc Bắc Kinh đơn phương mở ra "vùng nhận diện phòng không" bao trùm lên các quần đảo đang có tranh chấp với Nhật Bản?

Vào đề thì xin lạc đề mà nói về kinh tế học đã. Chuyện của Bắc Kinh xin cứ để đó.

Năm 1994, một nhà toán học và hai kinh tế gia cùng được giải Nobel về Kinh tế nhờ lý luận về thuyết đấu trí hay "game theory". Đó là nhà toán học John Nash và kinh tế gia John Harsanyi tại Hoa Kỳ cùng kinh tế gia Reinhard Selten người Đức gốc Do Thái. Thuyết đấu trí của họ về sau được gọi là "Mô hình Nash/Harsanyi" vì do ông Nash viết ra khi còn là sinh viên toán và ông Harsanyi giải thích cho tinh vi hơn về mặt tâm lý và kinh tế.

Xin hãy lạc thêm: Về đại lược, thuyết đấu trí giải thích cách ứng xử của hai người căn cứ trên những tính toán lợi hại trong thế tương hằng. Giả dụ như A mà đi nước cờ này thì phản ứng của B sẽ dẫn tới kết quả nào và cục diện cứ thể thay đổi liên tục qua nhiều cân nhắc của đôi bên cho tới sự ngã ngũ sau cùng là thắng hay bại.

Thói thường, khi lâm trận như vậy, ai cũng muốn được tối đa và bị mất tối thiểu nhưng sau cùng thì đành nhượng bộ một phần vì gặp rủi ro là bị mất hết. Người ta cứ nghĩ là trong cuộc đấu trí hay đàm phán như vậy, đôi bên đều biết tiến và lùi để sau cùng nhường nhau một phần quyền lợi hầu đạt một tỷ lệ chia chác hay nhượng bộ quân bình là 50-50.

Tức là bất phân thắng bại hoặc đôi bên cùng có lợi, còn hơn là chẳng được gì.

Nghịch lý được ba giải Nobel Kinh tế nêu ra là trong mọi cuộc đấu trí, duy nhất có một kết quả chung cuộc là tỷ lệ 65-35, tức là một phe lại được nhiều hơn. Ông Harsanyi giải thích sự ngược ngạo mà nhà toán học John Nash đã tìm ra: là vì một phe có khả năng chịu đựng rủi ro thấp hơn và vì sợ mà nhượng bộ nhiều hơn.

Về nội dung của Mô hình Nash/Harsanyi thì sự thể biến hóa vô lường và chúng ta bước vào Đông Á qua một bát trận đồ.

Thứ nhất, cuộc đấu trí có nhiều đối tác chứ không chỉ có hai người, như ả Hoa đòi vuốt mũi kép Nhựt. Vì còn có Nam Hàn, Hoa Kỳ, Đài Loan, Bắc Hàn và cả Hiệp hội ASEAN của 10 Quốc gia Đông Nam Á, lẫn Ấn Độ và Úc Đại Lợi, tức là có ít ra 18 nước! Thứ hai, trong tập thể ấy, hãy tưởng tượng đến sự tính toán giữa từng cặp, ví dụ như Hoa Kỳ với Trung Quốc, Nhật Bản với Nam Hàn căn cứ trên những quan hệ song phương của họ. Bước thứ ba là nghĩ đến thế liên kết đa phương để từng nước tranh thủ hay thuyết phục nhau, ví dụ như giữa bốn nước dân chủ theo kinh tế thị trường và có hiệp ước phòng thủ hỗ tương là Mỹ, Nhật, Hàn, và Đài Loan. Từ đó thì từng nước hay từng nhóm đối tác có nhiều chiến lược trong tinh thần biến hoá là liên kết hay đối lập với nhau, kể cả chiến lược hăm dọa có thể sử dụng, thí dụ như những thiệt hại khả dĩ xảy ra nếu không đạt nổi đồng thuận.

Bước thứ năm, sau khi tính ra những chiến lược khác nhau mà từng nước có thể áp dụng khi đấu trí hay đàm phán thì ta vẫn trở lại chuyện thế và lực. Tức là từng nước phải nghĩ đến phương tiện kinh tế hay quân sự họ có thể huy động được từ bên trong, hoặc vận dụng từ các nước liên kết khác ở vòng ngoài. Bước thứ sáu là trong lối tính toán về huy động và vận dụng ấy, phải nghĩ đến quyền lợi có thể chia cho nước khác căn cứ trên sự đóng góp của họ: thế gian không có chuyện hợp tác hay yểm trợ miễn phí. Thứ bảy và quan trọng nhất trên một trận thế có nhiều giải pháp và chiến lược khả dụng, từng nước phải châm thêm yếu tố rủi ro hoặc khả năng chịu đựng hiểm tai trong cách tính toán về quyền lợi của mình. Nếu chỉ nghĩ đến giải pháp ta cho là có lợi nhất mà không lý đến rủi ro hay thiệt hại thì mình bị nhược điểm duy ý chí trong cuộc đấu trí.

Sau cùng, chuyện rất quái trong cuộc cờ bát quái, nếu có người chủ quan mà đòi tự sát thì sao?

Chúng ta trở lại nước cờ của Bắc Kinh.

* * *

Thiên hà ngôn tai, trời chẳng nói gì mà quốc tế cũng không có quy định gì về quyền thiết lập hay quản trị vùng phòng không của các nước.

Nhiều quốc gia lập ra vùng phòng không, gọi là ADIZ Air Defense Identification Zone, để theo dõi phi cơ dân sự bay vào không phận của họ trên đất liền hay ngoài biển hầu bảo vệ an ninh lãnh thổ. Mọi phi cơ dân sự đi vào vùng ADIZ phải xác nhận căn cước và đối thoại với cơ quan phòng không của nước "chủ nhà". Khu vực này phải rộng hơn không phận để bộ máy phòng không kịp thời ứng phó với mối đe dọa khả dĩ xảy ra. Gặp trường hợp khả nghi, Không quân mới đưa chiến đấu cơ lên trực tiếp nhận diện máy bay lạ và kịp đối phó theo phép hỏi han, dụng lễ rồi mới dụng binh, nếu có phi cơ đòi.... tự sát!


Ngoài Hoa Kỳ, gần hai chục nước kể cả Việt Nam, cũng có vùng bảo vệ như vậy. Là một quốc gia quần đảo, Nhật có vùng ADIZ từ lằn ranh do Hoa Kỳ vạch ra sau Thế chiến II, nhằm bảo vệ không phận từ hướng Tây. Vùng ADIZ do Nhật thiết lập năm 1969 trùng với vùng đặc quyền kinh tế EEZ, nhưng Tháng Sáu vừa qua, Nhật mở vùng ADIZ thêm 22 cây số về hướng Tây, và khi ấy, Đài Loan than phiền là "đáng tiếc". Rồi thôi. Đài Loan không sợ Nhật đòi tiền mãi lộ!

Chi tiết lý thú là lằn ranh xa nhất của Nhật nằm cách lãnh thổ Trung Quốc có 130 cây số. Cho nên, Bắc Kinh không phát minh ra trò này mà chỉ phản ứng.

Khốn nỗi, vùng ADIZ của họ đi tới mức xa nhất về hướng Đông, trùm lên đảo Jeju của Nam Hàn, vùng ADIZ của Đài Loan và nhất là vùng ADIZ mới của Nhật. Việc Bắc Kinh vẽ ra lằn ranh phòng vệ lên vùng phòng không của các lân bang mới bị cho là có thái độ khiêu khích, hoặc gây bất ổn vì làm thay đổi hiện trạng.

Trở lại "Mô hình Nash/Harsanyi", ta thấy vấn đề không chỉ là trận đấu trí giữa Bắc Kinh và Tokyo trên không phận của cụm đảo Senkaku của Nhật mà Trung Quốc nhận là của mình và gọi là Điếu Ngư.

Nhưng rồi sao?

Trên bậc thềm không gian trước khi bay vào lãnh thổ, Thiên triều Bắc Kinh giao hẹn với thiên hạ là từ nay ra vào thì phải xin phép. Nếu không, máy bay vi phạm sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Các hãng hàng không dân sự đều cân nhắc rủi ro và lấy quyết định an toàn cho khách hàng, theo kiểu tránh voi chẳng xấu mặt nào. Sau khi ngần ấy nước than phiền thì mọi hãng máy bay đành tuân thủ để tránh họa. Yếu tố rủi ro trong màn đấu trí khiến Thiên triều coi như thắng một keo!

Nhưng nếu mối nguy không đến từ phi cơ dân sự mà từ một quốc gia thì Thiên triều tính sao?

Tính gì thì tính, sau khi vạch ra luật chơi mới thì phải có khả năng động thủ nếu quả thật là bị đối thủ khiêu khích. Khả năng đó gồm có hai mặt. Một là phải theo dõi được mọi chuyện trên không phận trùng lập với lằn phòng thủ của xứ khác. Thứ hai là phải thi hành được lời răn đe.

Khả năng theo dõi đó đòi hỏi sự phối hợp giữa lục quân, hải quân với không quân và "Đệ nhị Pháo binh" (hệ thống hỏa tiễn). Bắc Kinh chưa có khả năng phối hợp này nếu so với đối thủ thật, là Nhật Bản. Nước Nhật là quần đảo có cơ sở quân sự nằm sát Hoa lục, với trình độ kỹ thuật cao hơn. Hệ thống bảo vệ trên đất liền của Trung Quốc lại ở quá xa "hiện trường" là lằn ranh ADIZ nằm mãi ngoài khơi.

Thứ hai, khi hữu sự thì phải có khả năng ra đòn và đỡ đòn khi bị phản đòn. Cụ thể là muốn thật sự bảo vệ không phận thì còn phải xác định đối tượng, chứ không thể bắn hạ hay hăm dọa bắn hạ những vật lạ mình chưa biết là gì và bắn hạ bằng võ khí nào là thích ứng. Yêu cầu ấy đòi hỏi loại chiến đấu cơ có thể ngăn chặn và tiêu diệt đối thủ theo đúng lời hăm, và các chiến đấu cơ phải có căn cứ ở gần hiện trường.

Vì nhoài mình quá xa ra ngoài, Bắc Kinh cũng chưa có khả năng đó.

Cho nên, Thiên triều mới chỉ dọa già trong khi ráo riết thi đua để tiến tới trình độ ta gọi là "lực tòng tâm". Nhưng kết quả thì thần dân hỷ hả khi thấy lãnh đạo đơn phương vẽ lằn ranh lên trời mà người đời đều sợ. Thế gian này thiếu gì người đã tránh voi và không giây với hủi!

Nhưng kết luận như vậy vẫn chưa là đấu trí thật trên trận đồ bát quái!

* * *

Nhật từng là đại cường hải dương khi Thiên triều còn ăn mắm mút giòi, mắt đăm đăm nhìn vào trong núi và bị đánh cho tơi tả. Không có Mỹ đế nhập cuộc và dứt điểm bằng hai quả bom nguyên tử vào năm 1945 thì chưa chắc Mao Trạch Đông đã lên ngôi Hoàng đế. Cũng từ cục diện đó mà Nhật bị giải giới, trong mọi chuyện thì chỉ có thế thủ chứ không được phép công.

Là quốc gia quần đảo, ngày nay Nhật chỉ có một đất lùi là lùi ra biển. Trên đầu thì đến Bắc Hàn còn có thể tung hứng hỏa tiễn làm vui, dưới nước thì Thiên triều Bắc Kinh lại vẽ ra lằn ranh mới. Trên lãnh thổ bát ngát của mình, khi gặp rủi ro, lãnh đạo Trung Quốc còn có đất lùi là khu vực nội địa. Nhật Bản thì không.

Vì vậy, trong khi Hoa Kỳ dẫn rượu và ăn nói nước đôi với nhiều bửu bối yểm sẵn ngoài khơi, và Trung Quốc tưởng bở mà lấn đất giành hơi, Nhật Bản nghĩ tới kịch bản tệ nhất của trận đấu trí. Không ồn ào múa may như anh Sơn Đông mãi võ ngoài chợ đời, họ tự chuẩn bị cho trận đấu lực. Trên cuộc cờ rắc rối ấy, giữa cái danh giả của một Trung Quốc hung hăng mà đầy mặc cảm và nỗi lo thật của Nhật Bản, yếu tố nào mới thật sự đáng sợ?

Và khi có chuyện, các lân bang và thế giới sẽ phản ứng thế nào? Bênh vực Trung Quốc? Ảo!

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.