Hôm nay,  

Bể Từ Vòng Ngoài

03/10/201400:00:00(Xem: 5737)

Biên vực rạn nứt của lãnh đạo Trung Quốc

Hong Kong có nền kinh tế tự do nhất thế giới, nhưng chưa có dân chủ, và đấy là vấn đề của Tập Cận Bình....

Nhân dịp Quốc khánh của "Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc", ra đời ngày một Tháng 10 năm 1949, người dân Trung Quốc và Hương Cảng được nghỉ lễ một tuần. Nhờ vậy mà biến động tại Hương Cảng có thể tạm nguôi vài ngày.

Nhưng sau đó, vấn đề vẫn còn nguyên vẹn.

Khu vực này từng là thuộc địa Anh từ năm 1842, khiến deo đất tựa hòn sỏi bên bờ nước biến thành thỏi kim cương, một trung tâm kinh tế tài chánh tự do và một xã hội cởi mở, với pháp quyền của Đế quốc Anh. Đấy là một nghịch lý của một đất có tự do mà không có dân chủ, nó kéo dài 155 năm.

Từ năm 1997, một nghịch lý khác bắt đầu. Hương Cảng trở thành... thuộc địa Tầu với quy chế "Đặc khu Hành chánh Tự trị", nơi mà Bắc Kinh muốn khai thác ưu thế tự do kinh tế cho hệ thống kinh tế của nhà nước Trung Quốc. Một đất tu bản dẫn khách cho nền tư bản nhà nước của Bắc Kinh.

Y như tại Hoa lục, lãnh đạo Bắc Kinh muốn bắt cá hai tay: vận dụng tự do kinh tế theo quy luật thị trường để củng cố hệ thống chính trị tập quyền của một đảng độc tài. Từ khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách vào đầu năm 1979, thế giới tham gia trò chơi hai mặt đó, cho nên Trung Quốc mới trở thành cường quốc kinh tế.

Nhưng trò vui đã hết.

* * *

Xin phải nhắc lại: Do kinh nghiệm về quy chế mập mờ của Đài Loan với nguyên tắc "một quốc gia hai chế độ" đã thỏa thuận với Hoa Kỳ năm 1972, khi thương thuyết với Anh quốc về tương lai Hương Cảng, Đặng Tiểu Bình đã đồng ý với quy chế tương tự cho Hương Cảng kể từ Tháng Bảy năm 1997. Hương Cảng thuộc về nước Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc, nhưng có chế độ quản lý riêng. Vi diệu chừng nào cái màn "Nhất Quốc Lưỡng Chế" này.

Tuy nhiên, hơn bảy triệu người dân Hương Cảng, trong đó có năm triệu cử tri, dần dần thấy ra mặt trái của chiến lược vi diệu khi nhà nước Bắc Kinh lặng lẽ thu hẹp quyền quyết định căn bản của cư dân qua mỗi lần bầu cử hệ thống nhân sự có trách nhiệm quản lý đặc khu này. Và phủ nhận dần những cam kết ban đầu với Anh quốc. Dân Hương Cảng có phản ứng, nhưng các nhóm đấu tranh cho quyền dân chủ của Hương Cảng bị ly gián, phân hóa và tê liệt dần.

Thế rồi, ngày 10 Tháng Sáu năm nay, Quốc vụ viện Bắc Kinh (Hội đồng Chính phủ) ra Bạch Thư về Chánh sách Áp dụng Nguyên tắc Nhất quốc Lưỡng chế, với những quy định mới có nội dung bác bỏ quy chế phổ thông đầu phiếu đã được đồng ý là sẽ thực hiện kể từ năm 2017. Sau đó, ngày 31 Tháng Tám, Thường vụ Quốc hội Bắc Kinh đưa chánh sách ma quỷ ấy vào thực tế. Người dân chỉ có quyền bầu cử gián tiếp, theo lối "dân bầu đảng cử": dân Hương Cảng chỉ được bầu lên những người do đảng Cộng sản Trung Quốc đề cử theo tiêu chuẩn mơ hồ là "ái quốc".

Khi các nhân vật hay báo chí phản đối sự áp đặt này thì họ bị sách nhiễu và thậm chí cầm tù.

Phong trào biểu tình ôn hòa trong tinh thần bất tuân dân sự mới nổi lên, với sự tham gia của thanh thiếu niên Hương Cảng và rất nhiều thành phần xã hội khác. Họ yêu cầu viên Hành chánh Trưởng quan Lương Chấn Anh do Bắc Kinh cài đặt vào tổ chức quản lý phải từ chức và Chính quyền Bắc Kinh phải tôn trọng lời cam kết về quyền phổ thông đầu phiếu. Nhưng họ bị cảnh sát Hương Cảng ngăn chặn bằng lựu đạn cay và vòi phun nước....

Kỹ thuật tổ chức tân kỳ và kỷ luật chu đáo của dân biểu tình cho thấy lần này, dân Hương Cảng đã nắm kinh nghiệm biểu tình ở nhiều nơi khác. Đáng chú ý và gần nhất là kỹ thuật của sinh viên học sinh Đài Loan trong cuộc biểu tình hồi Tháng Ba năm nay, gọi là "cuộc vận động Hoa hướng dương", để phản đối Hiệp ước bất cân xứng mà Chính quyền của Tổng thống Mã Anh Cửu thuộc Quốc dân đảng muốn ký với Bắc Kinh. Họ cũng ôn hòa chiếm đóng Lập pháp viện và Hành pháp viện tại thủ đô Đài Bắc cho tới khi Mã Anh Cửu phải nhượng bộ trước sự bực bội của Bắc Kinh.


Chúng ta thấy ra cùng lúc hai vấn đề ở hai nơi, là Đài Loan và Hương Cảng.

* * *

Nguyên tắc "nhất quốc lưỡng chế" đề ra từ 1972 cho Đài Loan rồi từ 1997 cho Hương Cảng đã không được Bắc Kinh tôn trọng. Đấy là vấn đề cho Tập Cận Bình khi muốn kiểm soát các vùng biên vực, ở vòng ngoại vi của lãnh thổ Trung Quốc. Hai vấn đề kia là Tân Cương và Tây Tạng.

Sau khi Mao Trạch Đông thôn tính đất Tân Cương của dân Hồi vào năm 1949 và xâm lăng năm 1950 rồi thôn tính Tây Tạng của dân Tạng vào năm 1959, Trung Quốc cũng lập ra "Đặc khu Hành chánh Tự trị" ở hai khu vực bát ngát này. Nhưng sự chống đối của các sắc tộc vẫn tiếp tục, rồi chuyển dần theo hai hướng khác biệt.

Người theo Hồi giáo ở Tân Cương, thuộc sắc tộc Hồi Hột (Đột Quyết, sau gọi là Duy Ngô Nhĩ) thì đòi giành lại nền độc lập cho nước Đông Thổ của họ và đấu tranh ngày càng bậo động hơn. Những năm gần đây, nhiều khuynh hướng đã áp dụng phương pháp khủng bố, với sự yểm trợ và huấn luyện của các lực lượng xưng danh "Thánh Chiến", kể cả tổ chức khủng bố al-Qaeda.

Người Tây Tạng thì đấu tranh theo chủ trương trung dung của đức Đạt Lai Lạt Ma: không đòi độc lập mà chỉ xin quyền tự trị để bảo tồn văn hóa và Phật giáo Tây Tạng. Đòi hỏi ôn hòa đó không được đáp ứng. Một thể hệ trẻ bèn nghĩ đến phương thức đấu tranh cực đoan hơn, khi bậc lãnh đạo tinh thần là đức Đạt Lai Lạt Ma gần đến tuổi bát tuần.

* * *

Lãnh đạo Trung Quốc là những người có mưu lược sâu xa và ưu thế của một thị trường hơn một tỷ ba trăm triệu dân.

Họ nghĩ đến việc củng cố để kiểm soát biên vực thành vùng trái độn, từ Tây Tạng đến Tân Cương, Nội Mông và Mãn Châu (nay là ba tỉnh Đông Bắc của lãnh thổ). Sau đó là mở rộng vùng trái độn qua tới lãnh thổ Việt Nam và ngoài Đông Hải của Việt Nam. Về kinh tế thì trung tâm sầm uất Hương Cảng là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài để bổ sung cho sự yếu kém lạc hậu bên trong. Về chính trị, thì Đài Loan là lãnh thổ sẽ phải thống nhất, bằng cách sát nhập ôn hòa hay thôn tính thô bạo - với sự chọn lựa dễ hiểu là tránh binh đao bằng trò phủ dụ một đảo quốc dân chủ, có hiến pháp và những ước mơ riêng.

Sau khi lên lãnh đạo từ Đại hội 18 vào cuối năm 2012, Tập Cận Bình ra sức tập trung lại quyền lực trong đảng để giải quyết nhiều khó khăn bên trong hầu tránh được một vụ khủng hoảng kinh tế chắc chắn sẽ dội vào hệ thống chính trị của chế độ. Nhưng ông ta vẫn tăng cường kiểm soát vòng ngoại vi là biên vực và vùng trái độn.

Thế giới có thể nhu nhược làm như không thấy gì về thực trạng của Tân Cương và Tây Tạng, chứ khó làm ngơ về tình hình Đông Hải, đó là chuyện năm nay.

Còn lại, Hương Cảng vẫn có thể là mồi nhử tư bản quốc tế về kinh tế và mồi nhử Đài Loan về lời thề "nhất quốc lưỡng chế". Khốn nỗi, dân Hương Cảng lại không muốn thủ vai phụ diễn cho màn hát bội của Bắc Kinh. Phản ứng của họ sẽ xác nhận sự hoài nghi của dân Đài Loan và cảnh tỉnh thế giới, kể cả các doanh gia, về một nền kinh tế chỉ có tự do ở dưới mà thiếu dân chủ ở trên.

* * *

Hương Cảng có tự do nhất thế giới về kinh tế với lợi tức đồng niên của người dân là hơn bốn vạn đô la, thuộc loại cao nhất địa cầu, gần gấp đôi dân Đài Loan và gấp bảy dân Tầu ở Hoa lục. Tại nơi văn minh đó mà Bắc Kinh còn dở trò ma thì mấy ai tin vào "Trung Quốc mộng" của Tập Cận Bình - hay vào "pháp quyền nhà nước" của Trung Quốc? Tư bản sẽ tháo chạy.

Với cùng Hán tộc tại Hương Cảng hay Đài Loan mà lãnh đạo Bắc Kinh còn hành xử như thế thì các "dị tộc" Mông, Mãn, Hồi, Tạng (hay Việt, Ba Đình ơi!) còn mơ ước được gì? Họ sẽ phất cờ.

Chúng ta đều có thể đoán năm Ngọ này có nhiều sự biến. Sự biến Hương Cảng tại nơi biên vực đang phá vỡ vùng trái độn của Bắc Kinh, và mở đầu cho chuyện hợp tan muôn thuở của Trung Quốc.

Tập Cận Bình muốn hợp mà tan, từ vòng ngoại vi lan vào tới trung tâm.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.