Hôm nay,  

Nguy Cơ Giảm Phát

29/10/201400:00:00(Xem: 7228)

Hậu quả sẽ là khủng hoảng tài chính ngân hàng dẫn tới việc doanh nghiệp phá sản dây chuyền...

Không chỉ tại Nhật Bản và Âu Châu, nhiều khối kinh tế trên thế giới đang bắt đầu nói đến một nguy cơ khác, là nạn giảm phát, một hiện tượng trái ngược với lạm phát với ảnh hưởng tệ hại không kém. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về hiện tượng đó qua những phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả nghe Vũ Hoàng nêu vấn đề.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Từ vài tuần nay, dường như giới quan sát kinh tế bỡ ngỡ vì cùng lúc lại xảy ra nhiều hiện tượng trái ngược mà thính giả của chúng ta cần được giải thích. Thưa ông, trước hết là việc dầu thô sụt giá mạnh trên thế giới, trong vài tuần đã giảm khoảng 30 đô la một thùng. Khi năng lượng hạ giá thì phí tổn sản xuất cũng giảm nên có thể là điều tốt cho giới tiêu thụ vì họ thừa tiền mua cái khác và giúp cho sản xuất kinh tế. Nhưng không chỉ có dầu thô sụt giá mà nhiều mặt hàng khác cũng thế nên người ta bắt đầu nói đến một mối nguy khác, đó là nạn thiểu phát hay giảm phát, là điều đã xảy ra cho kinh tế Nhật Bản và đang xảy ra tại nhiều nước Âu Châu. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích cho hiện tượng đó là gì.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, ta nên chú ý tới định nghĩa, xem một hiện tượng nào đó là cái gì và trong phạm vi đó thì còn phải nhớ rằng ngôn từ của chúng ta có giới hạn nên thường xuyên phải tìm ra những từ mới, trước đây chưa hoặc là ít dùng. Tôi xin đề nghị vài định nghỉa như sau:

- Trong một giai đoạn khá lâu tới mấy chục năm, ta nghe nói đến "lạm phát" là khi vật giá gia tăng vì có quá nhiều tiền để mua quá ít hàng. Tại Việt Nam, giới lãnh đạo kinh tế thời đó không có kiến thức tối thiểu về kinh tế học nên lý luận rằng "lạm phát là hiện tượng đặc thù của tư bản chủ nghĩa" chứ kinh tế xã hội chủ nghĩa không bị lạm phát. Sự hiểu lầm này vẫn chưa chấm dứt cho đến khi Việt Nam bị khủng hoảng vì lạm phát tới 700% sau những sai lầm về chính sách "giá lương tiền" vào các năm 1986-1987. Hai chục năm sau, Việt Nam lại có lần bị lạm phát nữa khi vật giá gia tăng quá 20% vào năm 2008 vì sai lầm trong quản lý vĩ mô. Nói chung, nỗi e sợ về nạn lạm phát là hiện tượng phổ biến đã từng làm nhiều chế độ sụp đổ khiến người ta quên mất một hiện tượng trái ngược. Đó là "giảm phát", một mối nguy cũng đã từng xảy ra.

- Về định nghịa, "giảm phát" hay "deflation" là khi hàng hóa giảm giá mà vẫn bán không chạy và là biểu hiện của nạn suy thoái kinh tế với tình trạng thất nghiệp cao và doanh nghiệp phá sản.

Vũ Hoàng: Thưa ông, ở trong nước, nhiều người cũng dùng chữ "thiểu phát" thì đấy có là cùng một hiện tượng không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng ngôn ngữ chỉ là quy ước, và mỗi khi gặp một hiện tượng gì mới trên thế giới được các nước khác đặt tên rồi thì ta mới tìm cách phiên dịch sao cho đúng và dễ hiểu rồi từ đó sẽ được chấp nhận. Tôi cứ hay nói đùa rằng đó là "có mặt thì đặt tên".

- Chữ "inflation" thì ai cũng đã quen dịch thành "lạm phát". Nhưng khi vật giá tăng chậm hơn thì ta có thể gọi là "dis-inflation", hoặc như tờ The Economist của Anh vừa bày ra một từ mới vào tuần qua là "lowflation". Nội dung có nghĩa là giá cả có tăng mà tăng chậm hơn tiêu chí hay dự báo. Gặp trường hợp đó, tôi nghĩ là chữ "thiểu phát" có thể là một từ thích hợp với hàm ý "thiểu" là ít hơn. Nhưng khi giá cả không tăng, dù là nhanh hay chậm hơn trước, mà lại giảm tức là bị hiện tượng "deflation", thì nên dùng từ "giảm phát" mà ta đã có từ trước 1975, và chính xác hơn.

Vũ Hoàng: Với quy ước này rồi thì ta qua phần nội dung để tìm hiểu vì sao lại có rủi ro giảm phát như giới phân tích kinh tế đang báo động. Ông giải thích thế nào về hiện tượng đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vừa rồi, ông nhắc đến giá dầu thô đã sụt mạnh. Tôi xin mở ra nhiều mặt hàng khác gọi chung là "thương phẩm" hay "commodity" mà Việt Nam cứ mơ hồ dịch sai thành "hàng hóa". "Commodity" là các loại nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất như xăng dầu, kim loại như đồng thau, quặng sắt, nông sản như ngũ cốc, đậu tương, nước cam, v.v... được thị trường buôn bán với nhau dưới dạng rời hay để xá. Thề rồi, ngoài dầu thô, người ta còn nghiệm thấy hiện tượng chung là từ ít lâu nay các thương phẩm trên thế giới đều sụt giá mạnh.

- Lý do là số cung thì vẫn tăng mà số cầu lại giảm. Số cầu sở dĩ giảm vì kinh tế nhiều nơi trì trệ, đầu tư không tăng, tiểu biểu là trường hợp kinh tế Trung Quốc, một xứ đói ăn và khát dầu và thèm nguyên liệu mà nay bị tồn kho ế ẩm. Từ nhiều năm qua, diễn đàn này của chúng ta có cảnh báo hiện tượng thương phẩm sụt giá vì Trung Quốc làm các nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu như Úc hay Brazil đều bị thiệt hại. Điển hình là giá quặng sắt sụt rất mạnh, có khi chỉ còn 50 đô la một tấn, việc ấy khiến ta nhớ đến hai tai họa song hành của dự án bô xít tại Tây nguyên!

Vũ Hoàng: Thưa ông, vì sao vật giá đã sụt mà vẫn bán không chạy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thấy ra hiện tượng "vòng luẩn quẩn" theo thế biện chứng hay "tương hằng", là tự nuôi nhau trong một vòng xoáy đi xuống, ngày một nhanh và một sâu hơn.


- Khi thấy hàng hóa hạ giá liên tục thì ta có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để được giá rẻ hơn. Nhà tiêu thù mà chần chờ như vậy thì ở đầu kia nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và cần trả nợ nên phải cố bán tháo, là bán còn rẻ hơn nữa, nên càng khiến nhà tiêu thụ thấy mình có lý. Và hai bên từ từ dìm nhau xuống vực vì nhà tiêu thụ mặt hàng này có thể là nhà sản xuất mặt hàng khác. Kết quả là kinh tế không bị suy trầm, là tăng trưởng thấp hơn, mà bị suy thoái, là không tăng mà còn giảm. Hậu quả là doanh nghiệp sa thải nhân viên làm thất nghiệp tăng rồi vỡ nợ vì không thể trả các khoản nợ đáo hạn và sau đó phá sản, dẫn tới khủng hoảng vì ngân hàng mất nợ. Hiện tượng giảm phát dây chuyền đầy kinh hoàng như vậy đã xảy ra trong vụ Tổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào những năm 1929-1933.

Vũ Hoàng: Trở lại chuyện thực tế ngày nay thì vì sao sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Hoa Kỳ, rồi Tổng suy trầm toàn cầu vào các năm 2008-2009, các nước trên thế giới đều có nhiều biện pháp kích thích kinh tế mà tình hình lại có vẻ u ám như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng ban đầu chỉ là sự trùng hợp vì tai họa xảy ra cho từng khu vực, nhưng vì kinh tế thế giới đã đi vào trạng thái "nhất thể hóa" hay "toàn cầu hóa", cho nên tác động dây chuyền đã cùng xảy ra cũng theo kiểu vòng xoáy đi xuống.

- Trước hết, kinh tế Nhật Bản đã từng bị suy trầm và giảm phát khá lâu trong gần hai chục năm liền và mới chỉ có những biện pháp thoát hiểm khá táo bạo từ hai năm nay và chưa có kết quả. Sau đó, khối Euro lại bị khủng hoảng từ những năm 2009-2010 và tới nay chưa dứt khiến nhiều quốc gia bị nạn thiểu phát và các nước lâm nạn ở miền Nam thì thật sự bị giảm phát. Khác với Nhật Bản là một xứ thuần chủng và người dân giữ tinh thần ái quốc và kỷ luật là rau cháo có nhau để cùng hứng chịu tai họa, Âu Châu là một tập thể nhiều quốc gia buôn bán với bên ngoài. Khi mà khối kinh tế này bị suy trầm và không thể tiêu thụ hàng xuất khẩu của xứ khác thì các nền kinh tế trông chờ vào việc xuất khẩu đều bị họa lây, là trường hợp Brazil hay Trung Quốc. Ta nên nhớ xứ này vốn dĩ đã bị đình trệ với đà tăng trưởng thấp hơn và đang phải chuyển hướng.

- Trong năm năm qua, các quốc gia đều cố đối phó với bài toán đó qua các biện pháp kích thích như tăng chi, bơm tín dụng hoặc thậm chí in tiền cho các ngân hàng dư thanh khoản cho vay ra, vậy mà tình hình vẫn chẳng khá hơn. May lắm thì Hoa Kỳ là một ngoại lệ, mà vẫn chưa chắc!

Vũ Hoàng: Thưa ông, khi đó, người ta còn lo rằng việc ào ạt bơm tiền kích thích có khi lại gây ra lạm phát như trường hợp đã thấy tại Việt Nam. Thế thì vì sao thế giới không bị lạm phát mà nay lại lo sợ hiện tượng trái ngược là giảm phát?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả là ban đầu khi thấy tiền nhiều và rẻ được bơm ra thì ai cũng sợ rủi ro lạm phát. Nhưng tiền bơm ra lại không đẩy mạnh đầu tư và ngân hàng dư thanh khoản cũng thiếu người vay để đưa vào sản xuất nên đem tiền mua trái phiếu kiếm lời. Lý do chính thì có thể là vì thị trường hay các nhà đầu tư sản xuất vẫn chưa thấy tin tưởng và đấy là một lý do thuộc về chính trị của các chính quyền lâm nạn. Khi tình hình thiếu sáng sủa như vậy thì bình thường ra, các ngân hàng trung ương đã có thể áp dụng biện pháp tiền tệ cố hữu là hạ lãi suất. Khốn nỗi, lãi suất các ngân hang trung ương Âu-Mỹ và cả Nhật Bản đều đã hạ tới sàn, là tiếp cận với số không nếu tính thêm lạm phát, cho nên người ta hết đất lùi hay sức bật.

- Cuối cùng thì hiện tượng suy trầm đã xảy ra, tức là đà tăng trưởng sản xuất cứ giảm dần mà vật giá lại không tăng. Riêng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc, chỉ số gia tăng giá tiêu dùng đều thấp hơn tiêu chí về lạm phát nên người ta mới lo sợ là sẽ thấy nạn giảm phát tái xuất hiện.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, rồi đây sự thể sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu nhớ lại từ đầu thì mình phải công nhận rằng các chính quyền và cả hệ thống ngân hàng trung ương của các cường quốc đều bị bất ngờ ngay từ đầu mà vì lý do chính trị, ít ai dám công nhận như vậy. Bây giờ, trước nguy cơ giảm phát tai hại này, các nước đều khó giải quyết vì tâm lý bất an và bi quan của thị trường. Những cuộc tranh luận đang bùng nổ về các giải pháp, thí dụ như giữa các nước cột trụ của Âu Châu là Đức, Pháp, Ý, hoặc trong Quốc hội Hoa Kỳ trước ngày bầu cử chỉ khiến người ta thêm âu lo về khả năng ứng phó của chính quyền.

- Trong khi đó và ta trở lại vấn đề chính của nhiều quốc gia đang phát triển, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, giai đoạn vừa qua lại là giai đoạn tích lũy nợ nần chẳng kém gì các nước Âu Châu. Trong môi trường lạm phát thì khách nợ có lời vì được trả tiền ít hơn. Trong cảnh giảm phát thì khách nợ chết kẹt vì phí tổn trả nợ sẽ tăng, tức là càng mắc nợ nhiều thì càng dễ vỡ nợ. Hậu quả sẽ là khủng hoảng tài chính ngân hàng dẫn tới việc doanh nghiệp phá sản dây chuyền và thất nghiệp tăng vọt. Xứ nào mà thiếu ổn định xã hội sẽ bị loạn trước tiên.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc phân tích này.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.