Hôm nay,  

Lãi Suất và Đồng Đô La

25/03/201500:00:00(Xem: 7749)

...tiền Mỹ lên giá quá mạnh khiến tư bản chảy ngược về Hoa Kỳ.

Một mối nguy đang đe dọa Âu Châu và các nền kinh tế nhỏ trên thế giới. Đó là tiền Mỹ lên giá quá mạnh khiến tư bản chảy ngược về Hoa Kỳ. Nếu Ngân hàng Trung ương Mỹ lại tăng lãi suất làm tiền Mỹ càng lên giá thì tình hình còn nguy ngập hơn nữa. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện ấy qua cuộc phỏng vấn sau đây của Việt Long với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sáu tháng về trước, ông phân tích việc Mỹ kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nói rằng việc đó có thể dẫn đến nhiều biến động cho các nền kinh tế đang phát triển trong năm 2015 này. Quả nhiên là chúng ta thấy ngay một vụ khủng hoảng về ngoại hối vào Tháng 10 năm ngoái khi Liên bang Nga đột ngột tăng lãi suất để vực giá đồng bạc mà tiền Nga vẫn rớt giá. Tuần qua, người ta còn chứng kiến việc tư bản Âu Châu cùng nhiều xứ khác tiếp tục chảy về Mỹ và chiều hướng này sẽ gia tăng khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nâng lãi suất trong mấy tháng tới. Vì vậy, kỳ này, chúng ta tìm hiểu về việc vì sao Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất và hậu quả sẽ là những gì cho các nước khác.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được bắt đầu với chuyện u Châu, rồi mình sẽ theo dõi tình hình các nước khác, sau đó mới phân tích chuyện lãi suất tại Hoa Kỳ.

Trước hết, Âu Châu chưa ra khỏi khủng hoảng và hồ sơ Hy Lạp đe dọa sự vẹn toàn của đồng Euro khi xứ này đã cạn tiền mà phải trả nợ theo một lịch trình rất khắt khe từ nay đến cuối năm. Tình trạng đó đã là một mối nguy khiến tiền Âu Châu mất giá so với tiền Mỹ và sẽ còn mất giá nữa.

Chuyện thứ hai là khi các thị trường quốc tế đều theo dõi từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ để dự đoán về quyết định tăng lãi suất hay không và bao giờ sẽ tăng thì Ngân hàng Trung ương Âu châu vẫn duy trì lãi suất thấp và khởi sự chương trình bơm tiền để kích thích kinh tế. Hai chiều hướng đó khiến giới đầu tư tìm nơi có tiềm năng sinh lời cao hơn và đấy là thị trường Hoa Kỳ. Họ đổi tiền qua đô la để đầu tư vào nước Mỹ.

Việt Long: Thưa ông, Liên hiệp Âu châu có 28 quốc gia và chỉ có 19 nước là sử dụng đồng Euro, còn nhiều xứ khác tương đối vẫn còn vững mạnh. Thế thì vì sao giới đầu tư không rót tiền về các xứ đó mà lại chọn thị trường Mỹ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việc tư bản Âu châu ra khỏi khối Euro để dồn vào các nước u châu khác đã xảy ra, như khi người ta mua đồng Phật lăng của Thụy Sĩ hay đồng Krone của Đan Mạch. Nhưng hậu quả là lại làm các đồng bạc Âu châu ngoài khối Euro lên giá và gây bất lợi cho việc xuất khẩu nên các xứ này cũng ráo riết cắt lãi suất, bơm thêm tiền, thậm chí còn bắt giới ký thác phải trả thêm tiền thay vì được thưởng khi đem tiết kiệm bỏ vào ngân hàng. Vì thế mà tư bản mới tháo khỏi Âu Châu mà chảy về Mỹ. Ngoài ra, nhiều xứ Trung Đông hay Đông Á cũng tính như vậy và dồn tiền về Mỹ cho an toàn và có lời hơn. Mà điều ấy cũng gây bất lợi cho Hoa Kỳ vì làm cho đồng đô la và Công khố phiếu càng lên giá.

Việt Long: Bây giờ ta mới trở lại chuyện nước Mỹ có thể tăng lãi suất. Sự thể ấy là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, ta cần phân biệt lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn.

Tại Hoa Kỳ, lãi suất dài hạn được thả nổi cho thị trường quyết định theo quy luật cung cầu. Đấy là “phân lời” hay yield của tờ Trái phiếu là tờ giấy nợ. Nó tăng hay giảm là do thị trường. Nếu tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà phân lời lại giảm. Đấy là điều bất lợi cho ai có tiết kiệm vì được trả tiền lời quá thấp. Khi theo dõi tin tức thị trường, ta nên nhớ đến quy luật đó, giả dụ như qua đề tựa của bản tin là “Trái phiếu lên giá” thì có nghĩa là tiền lời giảm. Ngược lại, khi có tin là “Trái phiếu sụt giá”, điều ấy có nghĩa là phân lời tăng.

Việt Long: Thưa ông, đấy là lãi suất dài hạn. Còn lãi suất ngắn hạn thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãi suất ngắn hạn là thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Trung ương Mỹ.

Đây là định chế độc lập có quyền quyết định về lãi suất ngắn hạn theo hai yêu cầu là 1) ổn định tiền tệ, là không để lạm phát xảy ra tại Hoa Kỳ và 2) là tạo điều kiện phát triển kinh tế cho dân Mỹ có công ăn việc làm, tức là giảm thiểu nạn thất nghiệp. Định chế này có một ủy ban hữu trách về chính sách tiền tệ và tín dụng, gọi tắt là FOMC, thường thì sáu bảy tuần lại họp một lần, một năm tám lần, để rà soát tình hình kinh tế và quyết định về lãi suất ngắn hạn nếu thấy cần.

Lãi suất ấy được gọi là “federal funds rate”, hay Fed Fund, hay lãi suất liên ngân hàng mà các ngân hàng tính cho nhau khi nhất thời thiếu thanh khoản hay bạc mặt. Từ lãi suất nền đó, các ngân hàng tính thêm nhiều nấc tiền lời cho thân chủ đi vay tùy mức rủi ro. Nếu lãi suất cơ bản này mà thấp thì người ta vay tiền rẻ và dễ hơn nên sẽ nâng mức lưu hoạt kinh tế. Ngược lại, nếu tiền quá rẻ thì dễ gây ra lạm phát nên lãi suất có thể tăng, làm lượng tiền lưu hành trong kinh tế lại giảm.

Việt Long: Thưa ông, khi người ta nói rằng Ngân hàng Trung ương Mỹ bơm tiền hoặc in bạc thì chuyện ấy có nghĩa cụ thể như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi ta nghe tin Ngân hàng Trung ương bơm tiền hoặc in tiền thì đấy không là việc có ai vào nhà máy in của viện phát hành bấm nút để in ra vài tỷ bạc rồi đưa cho ai đó xài. Việc “phát hành tiền tệ” là do hành động của các ngân hàng và người đi vay để tiêu thụ hay sản xuất. Mỗi nghiệp vụ đi vay hay chi tiêu lại là một quyết định phát hành tiền tệ của thị trường và lãi suất cao thấp là quyết định của Ngân hàng Trung ương để điều tiết lượng tiền hút vào hay bơm ra của thị trường. Lãi suất ấy có thể chỉ nhích vài điểm - một điểm cơ bản là một phần trăm của 1% - là ảnh hưởng đến nhiều tỷ bạc và đến trị giá của đồng đô la. Tức là một cách gián tiếp và trong lâu dài sau nhiều tháng thì lãi suất ngắn hạn ấy cũng chi phối phân lời trái phiếu, là lãi sất dài hạn của thị trường.

Việt Long: Bây giờ ta mới tìm hiểu về yếu tố quyết định của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Như ông vừa trình bày thì có phải là định chế này tập trung chú ý vào tình hình vật giá hay thất nghiệp tại Hoa Kỳ chứ chẳng mấy quan tâm đến hậu quả rộng lớn cho các nước khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi rất hay vì cho thấy cơ quan chuyên môn này có chức năng phục vụ các mục tiêu viết trên giấy trắng mực đen dưới sự giám sát của Quốc hội. Nội việc đó cũng đã không dễ, mà Ngân hàng Trung ương Mỹ còn hay bị phê phán theo hai hướng. Xu hướng thiên tả thường muốn có lãi suất hạ và tiền nhiều mà chẳng sợ lạm phát. Xu hướng hữu khuynh bảo thủ thì cho là nên canh chừng lạm phát và nâng lãi suất để giới tiết kiệm có lời khi gửi tiền vào ngân hàng cho người khác vay. Cả hai xu hướng này đều không mấy quan tâm đến hiệu ứng cho xứ khác.

Điều ấy cho thấy là nhiều người có thể nghĩ sai khi lý luận rằng Hoa Kỳ có âm mưu tăng lãi suất hay nâng giá đồng bạc để đánh gục kinh tế của một xứ nào khác, thí dụ như Nga hay Tầu!

Việt Long: Ra khỏi lập luận thiên về chính trị như ông vừa giải thích mà chỉ lưu tâm vào quyền lợi của Hoa Kỳ theo hai mục tiêu là ổn định vật giá và giảm thiểu thất nghiệp với hậu quả lâu dài là làm hạ lãi suất dài hạn, thì giới chức Ngân hàng Trung ương Mỹ họp hành tính toán ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Định chế này có cả chục trung tâm nghiên cứu rất có uy tín của hệ thống ngân hàng dự trữ ở 12 khu vực trên toàn quốc và tại trung ương họ cũng có bộ phận thường xuyên theo dõi tình hình kinh tế Hoa Kỳ để dự đoán về tương lai. Từ nhiều năm nay, họ thông báo là sẽ áp dụng một chính sách linh động để thứ nhất duy trì mức lạm phát ở khoảng 2% mà thôi và thứ hai là đạt tỷ lệ thất nghiệp trong dài hạn ở khoảng từ 5% đến 5,5%. Sau mỗi kỳ họp của Ủy ban Tiền tệ FOMC thì Thống đốc cũng có một thông báo ngắn gọn về quyết định của Ủy ban.

Vì lãi suất ngắn hạn được duy trì quá lâu ở gần số không, khi thất nghiệp tại Mỹ đã giảm tới mức 5,5%, các thị trường tài chính tại Hoa Kỳ và quốc tế đều cho là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng. Họ theo dõi các thống kê kinh tế lẫn từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương để dự đoán là tăng bao nhiêu điểm qua mấy đợt, vào thời điểm nào, như Tháng Sáu hay Tháng Chín, Tháng 10 năm nay hay năm tới. Các phát biểu và bình luận ấy đều tác động ngay vào thị trường theo kiểu biện chứng.

Thí dụ như hôm Thứ Sáu mùng sáu đầu tháng, khi Bộ Lao động cho biết thất nghiệp đã giảm thì lập tức cổ phiếu tại Mỹ sụt giá mạnh. Tức là một tin vui về kinh tế dẫn tới kết luận là lãi suất sẽ tăng, mà lãi suất tăng thì doanh lợi giảm nên thị trường chứng khoán mất giá. Cùng lúc ấy, thị trường hối đoái hay ngoại hối cũng biến động vì lãi suất tăng sẽ làm đô la lên giá nữa và nếu đô la lên giá thì các tập đoàn thiên về xuất khẩu sẽ khó bán hàng hơn và mất lời, nên cổ phiếu của các doanh nghiệp này cũng sụt giá từ một tin vui!

Việt Long: Phải theo dõi từng loạt tin tức và những chuỗi lý luận theo kiểu liên hoàn mắc mứu với nhau như vậy thì ông dự đoán ra sao về lãi suất ngắn hạn tại Hoa Kỳ, và về đồng đô la?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thật khó biết trước được vì hoàn cảnh tôi xin gọi là “tranh tối tranh sang” hiện nay. Quả thật là thất nghiệp đang trở lại mức bình thường trên bề mặt, nhưng bên dưới thì phẩm chất vẫn rất kém vì số người thật sự tham gia thị trường lao động còn ở mức thấp nhất từ mấy chục năm nay. Xét theo một khía cạnh khác thì lợi tức của lực lượng lao động này, đo ở mức lương bình quân, thì cũng còn quá thấp mà đa số thành phần kiếm ra việc đều có lương thấp nên hy vọng có thể tăng mức tiêu xài và kích thích sản xuất thật ra vẫn còn mong manh. Vì thế, chưa chắc là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng vào Tháng Ba này như một số người dự báo.

Huống hồ là ta nhìn vào tình hình vật giá tại Mỹ. Lãi suất có thể tăng khi lạm phát lên gần tới 2%, nhưng các chỉ số đều cho thấy vật giá của nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu lại giảm. Việc dầu thô sụt giá có góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát nên Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa vội tăng lãi suất. Vì thế người ta thiên dần về kịch bản lãi suất tại Hoa Kỳ chỉ tăng rất nhẹ từ Tháng Chín, Tháng 10, qua tới năm sau mới nhúc nhích. Nhưng chẳng vì vậy mà đô la sẽ ngừng lên giá vì hối suất hay tỷ giá đồng bạc này còn tùy vào các nền kinh tế và ngoại tệ khác.

Kết luận ở đây là Hoa Kỳ lấy quyết định là vì quyền lợi của mình, nhưng các quyết định ấy đều có thể chi phối xứ khác và người ta nên mở tầm nhìn thật rộng để hiểu ra các yếu tố có thể tác động vào lợi tức, tài sản hay sự an toàn của mình.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc phân tích này.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.