Hôm nay,  

Trung Quốc Vùng Lên

29/07/201500:00:00(Xem: 8395)

...giai đoạn họ gọi là “quật khởi” cũng cáo chung sau mấy chục năm đầy ảo tưởng.

Sau hai tuần tạm lắng, thị trường cổ phiếu Trung Quốc lại tuột giá mạnh và gây mối quan tâm cho các nước trên thế giới. Nhưng hình như vấn đề của Trung Quốc không chỉ là biến động trên các thị trường tài chính mà còn có nhiều nguyên nhân sâu xa hơn. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu vì sao giai đoạn tăng trưởng vừa qua của Trung Quốc chỉ là một sự trỗi dậy ngắn ngủi và sau vài chục năm nữa thì xứ này lại trở về vị trí cũ với khá nhiều bài toán phải giải quyết. Xin quý thính giả theo dõi phần phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa với Nguyên Lam.

Nguyên Lam: Thưa ông, sau biến động dồn dập của thị trường chứng khoán Trung Quốc, Nguyên Lam đã tìm hiểu lại về sức mạnh kinh tế của xứ này và thấy là từ lâu rồi tiết mục chuyên đề của chúng ta đã nói đến những giới hạn của kinh tế Trung Quốc. Trong một chương trình từ đầu năm 2012, ông còn nhấn mạnh đến sự kiện dân số như một định mệnh khiến dân Tầu chưa giàu mà đã già và xứ này sẽ đi vào chu kỳ suy trầm chậm rãi và khó tránh được. Kỳ này thưa ông, xin đề nghị là chúng ta lại trở về những vấn đề ấy.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng cách cô nêu vấn đề là điều có ích cho thính giả. Lý do là nhiều người trẻ mới chỉ thấy sự thay đổi tại Việt Nam, Trung Quốc hay Liên bang Nga trong có vài chục năm qua mà ít cơ hội nhìn sâu hơn trong thời gian và xa hơn vào không gian để đánh giá tiềm năng của phát triển hay sức mạnh trường kỳ của một quốc gia.

- Trước hết, ta cần đả phá một huyền thoại, là điều không có thật mà cứ được loan truyền. Đó là đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong 30 năm, từ 1979 đến 2009, là hiện tượng bình thường đã từng thấy ở nhiều nơi bắt đầu áp dụng quy luật thị trường, chứ không là sự kỳ diệu, là phép lạ. Thứ hai là sau giai đoạn tăng trưởng cao mà thật ra thiếu phẩm chất, Trung Quốc bắt đầu bước qua chu kỳ đình trệ như rất nhiều quốc gia đi trước. Thứ ba là nhìn trong trường kỳ thì Trung Quốc còn bị giới hạn bởi yếu tố dân số hay nhân khẩu. Một cách cụ thể, họ quá sớm gặp hiện tượng lão hóa dân số vì chính sách “mỗi hộ một con” nên chỉ vài chục năm nữa thôi xứ này sẽ chấm dứt thời họ gọi là “quật khởi”. Hậu quả sẽ là nhiều thay đổi lớn cho cả khu vực Đông Á….

Nguyên Lam: Chúng ta sẽ lần lượt đi vào các khía cạnh nói trên. Trước hết, thưa ông, vì sao thành quả phát triển của Trung Quốc không là phép lạ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhiều người mới chỉ có cơ hội nhìn ra thế giới bên ngoài từ khi Việt Nam đổi mới kinh tế, lại còn bị giới hạn về nhận thức lịch sử nên khó biết được rằng “ngoài vòm trời này còn có vòm trời khác” và rằng mô hình của Trung Quốc không thể là mẫu mực cho Việt Nam. Một số thính giả của chúng ta có nêu câu hỏi ấy nên từ mấy năm trước diễn đàn này mới có loạt đề tài về những yếu tố thật sự đóng góp cho sự thịnh vượng của một quốc gia.

- Sau 30 năm hoang tưởng của Mao Trạch Đông từ 1949 đến 1978 khiến mấy chục triệu người chết oan mà dân Việt Nam không biết, thậm chí còn không được quyền biết, y như người Tầu, thì Đặng Tiểu Bình mới tiến hành cải cách và cởi mở kinh tế từ đầu năm 1979, ngẫu nhiên cũng vào một năm Mùi như năm nay. Khi ấy, Trung Quốc học chiến lược phát triển của nhiều xứ Đông Á đã chuyển theo kinh tế thị trường từ trước, như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan và cả Singapore.

- Chiến lược ấy lấy đầu tư làm lực đẩy cho sản xuất và sản xuất nhiều và rẻ thì tìm sức kéo ở xuất khẩu. Trung Quốc chẳng phát minh ra chiến lược này nhưng có ưu thế là dân số rất cao, nhân công nhiều và rẻ được giải phóng khỏi chế độ tập trung kế hoạch nên đạt mức tăng trưởng bình quân là gần 10% trong ba chục năm. Với sức tăng trưởng đó thì mỗi bảy năm sức nặng kinh tế của xứ này coi như nhân đôi, làm nhiều người gọi là sự kỳ diệu. Họ không thấy chuyện tương tự ở các nước Đông Á đi trước, khi ấy từng được ngợi ca là “tân hưng”, với phẩm chất rất cao của tăng trưởng chứ không tệ như Trung Quốc. Sau đó các nước này đã chuyển hóa từ lượng thành phẩm và thoát ra khỏi hiện tượng giới kinh tế gọi là “cái bẫp xập của lợi tức trung bình” để có đà tăng trưởng thấp hơn nhưng người dân có mức sống cao bằng các nước công nghiệp hóa tiên tiến. Chi tiết cần chú ý ở đây mà nhiều người Việt, Tầu hay Nga không thấy là các nước này cũng đã tự chuyển hóa qua chế độ dân chủ nên từng bước có khả năng tìm ra và áp dụng giải pháp có lợi nhất cho đa số.

Nguyên Lam: Xin đề nghị ông nêu ra một vài con số để thính giả của chúng ta có thể so sánh.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Theo một công trình nghiên cứu của Ngân hàng Dự trữ Hoa Kỳ tại khu vực Minneapolis vừa công bố vào Tháng Năm thì lợi tức bình quân một đầu người của Trung Quốc đã từ 1.300 đô la vào năm 1980 tăng đến 7.700 đô la vào năm 2010, là tăng 500% trong 30 năm. Đấy là sự ngoạn mục nếu ta không thấy dân Nhật, Nam Hàn hay Đài Loan lại giàu gấp bội, với lợi tức đồng niên, hay năng suất một đầu người, ngày nay là hơn 36.000, hơn 28.000 hay hơn 22.000. Đó là nhìn vào không gian. Nhìn theo trục thời gian thì ta thấy một trào lưu chung là sau thời tăng trưởng cao như khi một phi cơ mới cất cánh thì các nước đó bước vào thời trưởng thành với đà tăng trưởng thấp hơn.

- Nhật Bản đã cất cánh từ 1951 và Nam Hàn từ 1954 và sản lượng bình quân một đầu người đã tăng rất mạnh trong mấy thập niên đầu rồi chậm dần. Của dân Nhật thì khởi đầu bình quân là 6,1% một năm rồi 5,4% một năm vào thập niên 1970, rồi chỉ còn 2,2% từ thập niên 90 trở đi. Nam Hàn cũng thế, sản lượng bình quân một đầu người tăng 8,5% một năm trong thập niên 80, rồi 5,8% trong 10 năm sau, và từ quãng 2000 trở đi thì chỉ còn 3,8% một năm. Trường hợp Trung Quốc cũng không khác và họ đang bước vào thời đình trệ, nhưng với lợi tức trung bình một năm vẫn ở dưới 10 vạn đồng và lạc quan lắm thì năm 2030 sẽ bằng 32,8% của dân Mỹ hoặc quãng 2061 thì bằng được phân nửa của dân Mỹ.


Nguyên Lam: Thưa ông, với dân số rất lớn, bằng 20% của dân số toàn cầu, kinh tế Trung Quốc có sức nặng tổng hợp khiến nhiều tổ chức quốc tế dự đoán kinh tế xứ này đã bắt kịp Hoa Kỳ từ năm ngoái hoặc sẽ bắt kịp nước Mỹ vào năm tới. Nhưng nếu so sánh bình quân một đầu người, mà ông gọi là năng suất của từng người dân, thì Trung Quốc đang vào thời trì trệ như các quốc gia đi trước và lạc quan lắm phải 45 năm nữa thì mới bằng phân nửa dân Mỹ. Đã vậy và chúng ta đi vào phần chính của đề tài, dân số Trung Quốc lại sớm bị lão hóa. Chuyện ấy là như thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đi vào loại chuyển động chậm rãi, lâu dài mà khó cưỡng nên mới gọi là “định mệnh” của quốc gia. Số là do hạn chế về nhận thức của lãnh đạo, rằng mỗi người dân lại là một miệng ăn và nạn nhân mãn sẽ làm xứ sở nghèo đi, khi tiến hành cải cách từ đầu năm 1979, Bắc Kinh cũng ban hành chính sách kiểm soát dân số do một Nghị quyết đề ra từ năm 1978. Họ quy định là mỗi hộ chỉ được có một con. Hiện tượng gọi là “hậu quả bất lường” khiến cho 36 năm sau, là bây giờ, Trung Quốc có dân số già lão dần với những ảnh hưởng tai hại cho tương lai.

- Theo một cuộc khảo sát dân số vào năm 2010, thì 14% dân số toàn quốc ở vào tuổi cao niên trên sáu chục và 10% là lão niên trên 65 tuổi. Đà lão hóa này sẽ còn tăng với nhịp độ gia tốc, tỷ lệ cao niên sẽ là 20% vào năm 2030 và 25%, tức là một phần tư dân số, vào năm 2050. Một cách đếm khác là “tuổi trung vị” theo đó có phân nửa lớn hơn và phân nửa nhỏ hơn: tới năm 2050, là 35 năm nữa, tuổi trung vị tại Trung Quốc là 49 và tại Hoa Kỳ là 40. Nói vắn tắt là dân Mỹ vẫn trẻ hơn.

Nguyên Lâm: Ông nói là trẻ hơn, tức là có sức lao động lâu dài hơn, với năng suất cao hơn nếu ta nhớ đến sản lượng hay lợi tức bình quân một đầu người. Nhìn cách khác thì có phải rằng thống kê ấy cũng cho thấy thành phần trẻ, ở tuổi lao động từ 14 đến 60, cũng sẽ giảm tại Trung Quốc không? Thưa ông, hậu quả sẽ là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta hãy nhớ đến quy ước rằng người trẻ ở tuổi lao động là thành phần sản xuất ra phúc lợi cho người cao niên đã về hưu, và nói chung, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người ta có kéo dài tuổi thọ thì cũng kéo dài thời gian sống nhờ hưu bổng mà chi phí y tế cho sức khỏe cũng tăng. Theo giới nhẩu khẩu học, tôi xin tạm gọi là “tỷ số lệ thuộc” để nói về thành phần cao niên phải lệ thuộc vào sức sản xuất của thành phần thanh niên hay tráng niên.

- Năm 2010, Trung Quốc có 116 triệu người ở lớp tuổi thanh niên từ 20 đến 24. Đến năm 2020, số thanh niên ấy sẽ chỉ còn 94 triệu, và giảm thành 67 triệu vào năm 2030. Trong 20 năm tới, tỷ số người lao động so với người về hưu tại Trung Quốc sẽ từ năm trên một xuống còn có hai trên một. Ngay trong hiện tại, dân Tầu đã nói đến con số đáng sợ là 124, có nghĩa là một người đi làm phải nuôi hai vợ chồng và tứ thân phụ mẫu. Đấy là hiện tượng chưa giầu mà đã già!

Nguyên Lâm: Thưa ông, vì thành phần trẻ cũng là tuổi đẻ con thì trong một xã hội mà tỷ lệ trẻ tuổi lại giảm thì có phải là dân số cũng giảm hay không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa cô rằng đúng như vậy, và ta nói đến “sinh suất” là tỷ lệ sinh đẻ.

- Trung Quốc là một xứ đói ăn, khát dầu và thiếu nước, với diện tích khả canh của đất đai chỉ bằng một phần ba của bình quân toàn cầu. Vì vậy, xứ này là một nước nghèo. Đã vậy, Trung Quốc cũng có số sinh suất thuộc loại thấp nhất thế giới, bình quân là 1,4, tức là mấy chục năm của tuổi sinh đẻ thì chỉ có ngần ấy đứa con thôi. Sinh suất tại các nước đã phát triển là 1,7 và tại Mỹ lại còn cao hơn, là 2,6. Theo cơ quan Liên hiệp quốc thì nếu Trung Quốc giữ được mức sinh đẻ ở khoảng 1,5-1,6 thì đến năm 2050, dân số xứ này sẽ sụt dưới một tỷ 300 triệu và đến năm 2060 thì còn dưới một tỷ. Chi tiết này rất quan trọng vì ưu thế đông dân với nhân công rẻ đang chấm dứt.

Nguyên Lam: Thưa ông, hồi nãy, ông nói đến chiều hướng đã thấy tại các nước đi trước rằng kinh tế Trung Quốc cũng sẽ có đà tăng trưởng thấp hơn. Nếu kết hợp với hiện tượng sụt giảm dân số thì tình hình tương lai của xứ này đâu có gì là lạc quan?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật là như vậy, vì sau 30 năm tăng trưởng ở gần 10%, đà gia tăng ấy đã chỉ còn 7,8% vào năm 2012, nay chỉ còn khoảng 7% và thực tế thì sẽ còn thấp hơn nữa. Nếu ta châm thêm hiện tượng dân số co cụm dần thì đà tăng trưởng kinh tế xứ này sẽ chỉ còn là vài ba phần trăm trong hai thập niên tới.

- Khi dân số bị lão hóa và còn giảm sút thì trong vài chục năm tới, Trung Quốc hết còn thành phần lao động dồi dào cho kinh tế, hết còn lực lượng trai tráng đông đảo cho quân đội và cũng chẳng thể xưng hùng xưng bá được nữa. Hiện tượng “chưa hùng mà đã hung” sẽ kết thúc và giai đoạn họ gọi là “quật khởi” cũng cáo chung sau mấy chục năm đầy ảo tưởng. Nhiều người chưa tự chuẩn bị cho kịch bản ấy vì cứ tưởng tương lai là một nối tiếp của quá khứ thật ra quá ngắn ngủi. Ngược lại với những phê phán tràn lan về sự lụn bại của nước Mỹ, Hoa Kỳ vẫn có dân số rất trẻ và tinh thần năng động của một xã hội tự do. Trung Quốc chỉ có thể thoát khỏi cảnh ngộ u nám này nếu có một bước đột phá về công nghệ, là điều bất khả trong một xứ độc tài và thiếu tự do.

Nguyên Lam: Chúng tôi xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.