Hôm nay,  

Biển Đông: Vụ Philippines kiện Trung Quốc

29/07/201521:04:00(Xem: 5253)

Biển Đông: Vụ Philippines kiện Trung Quốc

 

Diplomat (27-07-2015)

 

Những vấn đề pháp lý liên quan tới việc Trung Quốc không tham gia vào vụ kiện giữa Philippines và trung Quốc

Tác giả: Lan Nguyen

Người dịch: Trần Văn Minh

29-07-2015

Vụ kiện Philippines chống lại Trung Quốc ở hội đồng trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới vì một số lý do, một trong số đó là việc Trung Quốc từ chối tham gia vào thủ tục tố tụng, do Philippines khởi xướng.

Việc một bên vắng mặt trước tòa án quốc tế không phải là hiếm, hoặc cũng không phải là lần đầu tiên một bên quyết định không xuất hiện trước cơ quan giải quyết tranh chấp của UNCLOS. Vào năm 2013, Nga đã lẩn tránh cả hai tiến trình giải quyết tạm thời trước Tòa Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) và hiện nay, như đã xảy ra, họ không xuất hiện trước tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII trong vụ kiện tàu Arctic Sunrise do Hà Lan khởi xướng. Tuy nhiên, điều đặc biệt về vụ Philippines kiện Trung Quốc là, mặc dù Trung Quốc đã chính thức lên tiếng công khai rằng họ sẽ không tham gia vào quá trình tố tụng, nhưng họ đã không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để làm rõ chi tiết về vị thế của họ thông qua cả hai kênh chính thức và không chính thức. Tình thế này làm nảy sinh một số vấn đề pháp lý thú vị.

 

Có thể nào Trung Quốc chọn không tham gia?

Mặc dù luật pháp quốc tế yêu cầu các quốc gia phải có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, khi tìm đến sự phân xử hay trọng tài quốc tế, các quốc gia vẫn dành quyền quyết định có tham gia hay không. Quyết định tham gia tiến trình tố tụng hay không là do vấn đề tự giác, tuy nhiên phải công nhận rằng luật pháp quốc tế cho phép các quốc gia không tham gia. Trong trường hợp cụ thể này, Điều 9, Phụ lục VII của UNCLOS, không hiện diện, và Điều 25 Quy tắc về thủ tục của Tòa trọng tài mô tả tình huống một trong các bên không xuất hiện trước tòa. Tuy nhiên, cả hai điều khoản này nói rằng việc vắng mặt của một bên sẽ không tạo thành bước cản đối với các thủ tục tố tụng và đồng thời cho phép tòa án “có toàn quyền đưa ra quyết định và các tuyên bố phải dựa trên thực tế và luật pháp”.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc từ chối xuất hiện trước tòa của Trung Quốc không phủ nhận sự đồng thuận mà Trung Quốc đã trao cho hội đồng trọng tài quyền tài phán có tính cưỡng hành khi trở thành thành viên của UNCLOS. Việc sử dụng các lập luận cho rằng hội đồng trọng tài không có quyền tài phán như một lý do để không tham gia tố tụng thật là không có căn cứ, ít nhất là như vậy, và thực sự đã bị phủ quyết bởi tòa trọng tài trong vụ kiện Arctic Sunrise chống lại Nga. Trung Quốc vẫn là một bên trong vụ kiện trừ khi và cho đến khi tòa án tìm ra rằng họ không có quyền tài phán.

 

Tác động của truyền thông Trung Quốc là gì?

Mặc dù với vị trí chính thức rằng “họ không chấp nhận vụ kiện trọng tài do Philippines khởi xướng”, Trung Quốc khó có thể áp dụng chính sách “phủi tay” đối với thủ tục tố tụng trọng tài. Trung Quốc đã, thông qua các kênh khác nhau, xác định vị thế của họ đối với quyền tài phán của tòa án cho thế giới biết, trong khi vẫn giữ im lặng về vấn đề đúng sai của vụ kiện. Một cách chính thức, chính phủ Trung Quốc đã công bố tài liệu “Lập trường của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về vấn đề Quyền tài phán của vụ kiện lên Tòa Trọng tài về Biển Đông do nước Cộng hòa Philippines khởi xướng”, trong đó Trung Quốc lập luận khá chi tiết những lý do tại sao họ tin rằng tòa trọng tài không có quyền tài phán. Ngoài ra, các học giả Trung Quốc đã rất tích cực trong việc xuất bản sách và các bài viết chống lại quyền tài phán của tòa án và toàn thể vụ kiện. Một trong số những ấn phẩm này công khai nói rằng đó là “để dùng như một bằng chứng vô tư trước các lập luận pháp lý khả dĩ thay mặt cho bên vắng mặt”.

Trên thực tế, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), đã từng có dịp đối phó với tình trạng vắng mặt của bị đơn trong một số các trường hợp, thường lưu tâm đến thông tin từ các nước không hiện diện trước tòa. Tòa án thường tham khảo các thông tin đó để xác định lập luận của bên vắng mặt như họ có thể đặt ra nếu xuất hiện trước tòa. Hội đồng trọng tài trong trường hợp này dường như đang theo phương cách tương tự. Trong thông cáo báo chí, tòa tuyên bố rằng sẽ “xem xét các thông tin của Trung Quốc (bao gồm cả Tài liệu Lập trường) như cấu thành một thỏa thuận điều đình liên quan tới quyền tài phán của Tòa án trọng tài”.

Do đó, Trung Quốc được lợi từ cả việc làm cho tòa án hiểu biết về lập trường của họ và duy trì vị thế không công nhận tính hợp pháp và kết quả của tòa án. Tất nhiên điều này đặt ra câu hỏi về sự công bằng cho quốc gia hiện diện trước tòa, như Philippines, đã hoàn toàn tuân thủ tất cả các yêu cầu thủ tục của họ.

Tuy nhiên, người ta có thể biện giải rằng nếu chúng ta nhìn tình hình từ một góc độ khác, có lẽ sẽ tốt hơn nếu Trung Quốc hoàn toàn giữ im lặng? Như mong muốn được sự tham gia và hợp tác từ các bên trong vụ kiện, thực tế của vấn đề là Trung Quốc đã nhất quyết từ chối chấp nhận trọng tài và tòa án trọng tài vẫn cần phải xác định quan điểm của cả hai bên. Kết quả là, một số dấu hiệu phản đối của bị đơn có thể là hữu ích như một điểm khởi hành. Đối với Philippines, Trung Quốc cho biết lập trường của họ bằng một số cách thức nào đó sẽ làm giảm số lượng các dự đoán liên quan và giúp cho Philippines sửa soạn kế hoạch phản biện để biện hộ một cách kỹ lưỡng hơn. Điều này có vẻ như chính những gì Philippines đã làm trong quá trình tố tụng bằng miệng hồi đầu tháng Bảy. Dù thế nào đi nữa, hình thức thông tin không chính thức không thể và không nên thay thế cho sự hiện diện thực sự của Trung Quốc trước tòa án, vì lợi ích của công lý và nguyên tắc cốt yếu “thỏa thuận phải được tôn trọng” (pacta sunt servanda) theo luật pháp quốc tế.

Lập trường của Trung Quốc cho đến nay chỉ liên quan đến vấn đề quyền tài phán. Điều này có vẻ phù hợp với chính sách lâu dài của Trung Quốc “cố tình nhập nhằng” xung quanh các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Do đó, không chắc rằng Trung Quốc sẽ đưa ra lập trường liên quan đến sự đúng sai của vấn đề, giả sử rằng tòa án tìm thấy có quyền tài phán và tiến hành tới giai đoạn này. Đây là một vụ kiện mà tòa án phải đối mặt với một số lượng các chi tiết kỹ thuật và dữ liệu vô cùng lớn, phán quyết từ 4000 trang hồ sơ của Philippines. Do đó, có vẻ như sự không tham gia của Trung Quốc vào giai đoạn xét xử sẽ đặt để nhiều trở ngại cho tòa trọng tài hơn là trong giai đoạn quyền tài phán.

 

Hậu quả sự vắng mặt của Trung Quốc là gì?

Nói về mặt pháp lý, sự tồn tại của Điều 9, Phụ lục VII và quy tắc 25 của Quy định về thủ tục được thiết kế để ngăn ngừa bất kỳ hậu quả xấu nào cho bên không tham gia vào quá trình tố tụng. Theo ghi nhận, bên không hiện diện vẫn là một bên trong vụ án và vẫn bị ràng buộc bởi các quyết định của tòa án cho dù họ có đồng ý hay không.

Tuy nhiên, theo luật học trước toà án quốc tế chỉ ra rằng, bên không hiện diện phải chấp nhận họ không thể mong đợi tòa án hiểu biết đầy đủ về lập trường của họ, giống như là họ hiện diện. Điều này vẫn đúng ngay cả khi họ công bố công khai lập trường bằng các phương tiện truyền thông khác. Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) trong trường hợp vụ Nicaragua kiện Mỹ tuyên bố rằng tòa “không thể bằng sự điều tra của riêng mình hoàn toàn bù đắp cho sự vắng mặt của một trong các bên” và rằng “vắng mặt, trong một vụ xử… liên quan đến nhiều câu hỏi về điều thật, chắc chắn sẽ giới hạn mức độ mà tòa biết về các điều thật”. Hoàn cảnh này thoạt nhìn có vẻ có lợi cho Philippines, nhưng như đã nói, sự thiếu hợp tác của Trung Quốc có thể dẫn đến việc thiếu các bằng chứng cần thiết để tòa đi đến quyết định.

Trong vụ Artic Sunrise, các nhà bình luận cho thấy rằng các biện pháp tạm thời mà ITLOS sử dụng có lẽ không thiên về (hoặc gần giống) yêu cầu của Hà Lan nếu như Nga quyết định tham gia và tự bào chữa. Nga rõ ràng bị “trừng phạt” do vắng mặt bằng một phán quyết nhiều phần đi ngược lại lợi ích của họ. Trong ý kiến ​​riêng khác, Thẩm phán Wolfrum và Kelly phê phán kịch liệt bên vắng mặt. Các thẩm phán đã chỉ ra rằng tòa án hoặc tòa án quốc tế, trong trường hợp vắng mặt, có thể “phải dựa trên các sự kiện và lập luận pháp lý do một bên trình bày mà bên kia không có được cơ hội lắng nghe. Điều này không thể được bù đắp đầy đủ bằng cách dựa vào các sự kiện ở phạm vi công cộng”. Một cách để hiểu câu này là, bất kể các yêu cầu của Điều 9, các thẩm phán có thể có cảm tình hơn với quan điểm của bên hiện diện, chỉ đơn giản là vì không có gì được phản bác lại từ phía bên kia. Một câu hỏi được mở ra là phải chăng tòa trọng tài trong trường hợp này sẽ phản ứng theo cách tương tự như ITLOS. Cần lưu ý rằng hội đồng trọng tài hiện nay gồm ba thẩm phán ITLOS trong vụ xử Artic Sunrise và, điều thú vị là luật sư chính của Philippines cũng là luật sư chính trong một trong những trường hợp nổi tiếng nhất về sự vắng mặt, là vụ Nicaragua. Vì thế, sẽ rất hào hứng để xem những hiệu ứng gì, nếu có, mà khả năng này có thể có trên kết quả của vụ kiện.

 

Cơ cấu chế tài gì hiện đang có?

Như đã đề cập, quyết định của Trung Quốc không xuất hiện trước tòa trọng tài không xóa bỏ vai trò là một bên trong cuộc tranh chấp, có nghĩa là phán quyết trọng tài sẽ là tối hậu và có tính chất ràng buộc. Tuy nhiên, thật không may, hệ thống giải quyết tranh chấp của UNCLOS không bao gồm cơ chế thực thi pháp luật tương đương với hệ thống của Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) của Hội đồng Bảo an, ít nhất là trên lý thuyết. Điều này có nghĩa là nếu Trung Quốc từ chối tuân theo một quyết định được xem là bất lợi cho họ, không chắc rằng có thể có bất kỳ biện pháp trừng phạt pháp lý nào đối với việc không tuân theo đó.

Tuy nhiên, phản ứng của các nước không tham gia các vụ kiện sau khi có quyết định thật đa dạng. Mặc dù khẳng định sự từ chối phán quyết của tòa, một số bên không tham gia vụ kiện cuối cùng đã hành động phù hợp với phán quyết cuối cùng. Ví dụ, trong vụ Artic Sunrise, Nga tuyên bố sẽ không tuân theo các biện pháp tạm thời theo quy định của ITLOS. Tuy nhiên, gần nửa năm sau khi các biện pháp tạm thời được đưa ra, họ đã phóng thích các nhà hoạt động và chiếc tàu, mặc dù – Moscow khẳng định – theo quyết định trong nước và không phải quyết định của ITLOS. Những nước khác có vẻ ương ngạnh hơn. Trong vụ Nicaragua, Mỹ liên tục bất chấp phán quyết của ICJ và từ chối tham gia vào bất cứ cuộc đàm phán nào với Nicaragua về bồi thường. Nicaragua đã cố gắng thi hành án thông qua các cơ chế khác nhau bao gồm cả việc nhờ vả Hội đồng Bảo an, Đại hội đồng LHQ, và Tòa án một lần nữa, với những mức độ thành công khác nhau.

Phải chăng điều này có nghĩa tòa trọng tài là vô ích? Sau cùng, ích lợi gì khi theo đuổi một vụ kiện tốn kém tiền bạc và thời gian nếu phán quyết cuối cùng coi như bị làm ngơ? Khi đánh giá tính hữu ích của việc kiện tụng cho người đệ đơn, một cuộc khảo sát về mục đích của người đệ đơn trong việc đưa vấn đề ra trước tòa án là việc làm hữu ích. Chỉ tập trung vào vấn đề làm cách nào để sự tuân theo được thực thi một cách lý tưởng là bỏ qua vấn đề quan trọng về mức độ đối với quyền hạn của người đệ đơn có được, hoặc tiếp tục bị vi phạm mà không cần một phán quyết. Trong trường hợp này, Philippines đã tuyên bố rằng họ xem vụ kiện không phải là kết cuộc cho các tranh chấp ở Biển Đông, mà là sự khởi đầu. Điều này cho thấy, Philippines hoàn toàn nhận thức được mức độ mà phán quyết trọng tài có thể giải quyết tất cả các tranh chấp. Những gì Philippines đang tìm kiếm dường như là để Trung Quốc phải làm rõ yêu sách của mình và giúp đưa những yêu cách đó phù hợp với luật pháp quốc tế. Điều này tự nó chỉ là bước đầu tiên trong việc gỡ rối các tranh chấp ở Biển Đông và tạo điều kiện cho các bên giải quyết các tranh chấp trên một nền tảng công bằng và bình đẳng. Để đối phó với một nước láng giềng hùng mạnh hơn mình trong tất cả các khía cạnh, tòa trọng tài cũng là một cách để thu hút sự chú ý của công chúng tới các tuyên bố và hành động của Trung Quốc và để tạo ra áp lực quốc tế lên Trung Quốc để họ xét lại vị trí.

Một cách vắn tắt, sự vắng mặt của Trung Quốc trước Tòa trọng tài theo Phụ lục VII, trên thực tế không ngăn cản được tòa trọng tài hướng về phía trước. Tuy nhiên, lập trường chính thức từ chối trọng tài của Trung Quốc có vẻ khá hùng biện. Các phương tiện khác nhau mà theo đó Trung Quốc dùng để đưa ra các lập luận của họ liên quan đến vụ kiện, thực ra, đã tạo nên một hình thức hiện diện nửa vời. Cho dù luật pháp quốc tế và các tiền lệ không ngăn cấm hành động như vậy, nhưng nó chứng tỏ sự thiếu vắng nghiêm trọng về lòng tin trong các nỗ lực để đạt được một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp thật phức tạp. Thế đứng bất định này chắc chắn cũng làm cho thủ tục tố tụng trọng tài khó khăn hơn so với những khó khăn sẵn có.

 

Lan Nguyễn là một ứng viên tiến sĩ tại Khoa Luật, Đại học Cambridge. Cô có bằng Cao học Luật từ Đại học Cambridge và đã từng là giảng viên và nghiên cứu sinh về luật pháp quốc tế tại Học viện Ngoại giao Việt Nam


.
.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.