Hôm nay,  

Đông Hải Bốc Khói

31/10/201500:00:00(Xem: 7218)
Mới Chỉ Là Khói, Sự Ngần Ngại Của Hoa Kỳ Mới Dễ Bốc Lửa

Sau nhiều tháng bật tín hiệu và cả tháng báo trước, cuối cùng, Hoa Kỳ giữ đúng lời hứa là bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển Đông Nam Á. Hôm Thứ Ba 27 vừa qua, khu trục hạm có hỏa tiễn dẫn đạo USS Lassen đã kín đáo vào trong phạm vi 12 hải lý của hai cụm đá do Bắc Kinh xây dựng và củng cố thành hải đảo có trang bị võ khí. Khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện gặng hỏi, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter xác nhận việc đó, nhưng không nói thêm chi tiết. Ở tại chỗ, các viên chức Bắc Kinh gay gắt cáo buộc rằng Hoa Kỳ leo thang chiến tranh và xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Rồi xuống giọng.

Quyết định nhỏ nhoi này lại có ý nghĩa cụ thể, rằng Hoa Kỳ bác bỏ việc Bắc Kinh khẳng định lãnh hải từ mấy cụm đá họ đã chiếm đóng. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không đứng ở phe nào trong vụ tranh chấp chủ quyền trên nhiều cụm đá hay đảo chìm nổi của vùng biển Đông Nam Á. Vì không thiên về quan điểm của Trung Quốc hay của các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Phi Luật Tân, Hoa Kỳ chẳng muốn thách thức Trung Quốc, và còn thông báo là sẽ làm vậy trên các biển đảo đang do Việt Nam và Phi Luật Tân chiếm đóng để giữ vị thế trung lập nhằm khẳng định quyền tự do lưu thông theo luật lệ quốc tế.

Trước khi đi vào ý nghĩa chiến lược của một hành động nhẹ nhàng, chúng ta cần nhắc lại vài chi tiết rắc rối về pháp lý.

Quốc tế chỉ công nhận là hòn đảo, có lãnh hải 12 hải lý và đặc quyền kinh tế trong phạm vi 200 hải lý, nếu mảnh đất này ở trên mặt biển vào lúc thủy triều cao nhất. Còn lại, các cụm đá chìm, chỉ nổi trên mặt nước khi thủy triều rút, thì chỉ được vùng an toàn là 500 thước vây quanh thôi. Bắc Kinh cơi đất và xây dựng kiến trúc trên các cụm đá chìm ấy rồi gọi là đảo và khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo mà Hoa Kỳ gọi là “nhân tạo”. Cách gọi của Mỹ là “đảo nhân tạo” không nêu vấn đề về hành động chiếm đóng của Bắc Kinh mà chỉ nhắm vào một chi tiết pháp lý. Rắc rối!

Năm 2013, khi Bắc Kinh tuyên bố sẽ mở rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ (Air Defense Identification Zone) trên vùng biển Đông Nam Á thì Hoa Kỳ đưa ngay hai oanh tạc cơ B-52 vào khu vực để bác bỏ quan điểm của Trung Quốc và khẳng định rằng đấy là không phận quốc tế. Qua hai quyết định này, B-52 vào năm 2013 và USS Lassen năm nay, Chính quyền Barack Obama đã đi một nước cờ nhẹ thay vì đưa vào cuộc những phương tiện tối tân và quy mô hơn. Chúng ta sẽ phân tách chuyện đó ở đây.

*

Tháng Tư năm 2001, Chính quyền George W. Bush vừa nhậm chức thì đã có vụ thử lửa ngoài Đông Hải khi một máy bay trinh sát của Mỹ bị Không quân Trung Cộng uy hiếp và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam. Phi cơ bị câu lưu sau khi phi hành đoàn được thả. Hành động khiêu khích ấy đã khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách của mình tại Đông Á, nhưng vụ khủng bố 9-11 đã đảo lộn tất cả và dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến kéo dài lan rộng chống khủng bố Hồi giáo trên toàn cầu.

Mười năm sau, dưới Chính quyền Obama, Hoa Kỳ tuyên bố “chuyển trục” về Đông Á nhưng chưa có hành động gì cụ thể. Trong khoảng thời gian 10 năm ấy, Bắc Kinh liên tục mở rộng ảnh hưởng kinh tế và bành trướng quân sự, từ vùng Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ Dương.

Ngày nay, khi Hoa Kỳ vẫn khẳng định mục tiêu chiến lược và lâu dài là quyền tự do lưu thông ngoài biển, hành động của Bắc Kinh lại gây ra vấn đề mới.

Thứ nhất, các đồng minh của Mỹ trong vùng Đông Á, từ Nhật Bản tới Phi Luật Tân và Úc Đại Lợi, đều yêu cầu Obama phải có quyết định cụ thể hơn về chiến lược chuyển trục. Họ mất cả tháng nhắc nhở rồi mới thấy USS Lassen xuất hiện. Chuyện thứ hai là Obama tưởng mình đã đạt thỏa thuận với Chủ tịch Tập Cận Bình trong Thượng đỉnh Mỹ-Hoa vào tháng trước tại thủ đô Hoa Kỳ về 1) nạn tin tặc trên không gian điện não, 2) nạn nhiệt hóa địa cầu, và 3) không quân sự hóa vùng biển Đông Nam Á.

Kết quả là một sự thất vọng nên sau khi lần lữa trước lời yêu cầu của Quốc hội và giới chức quân sự, Tổng thống Obama mới cho đưa khu trục hạm USS Lassen vào cuộc.

Giới quan sát cho rằng Biển Đông đang dậy sóng khi hai đại cường ở hai bờ Thái Bình Dương có thể đụng độ tại miền Tây của biển Thái Bình, là vùng biển Đông Nam Á. Thật ra, trong cuộc đấu trí này, chính là thái độ chần chờ bất nhất của Tổng thống Barack Obama mới gia tăng rủi ro đụng độ, là điều chẳng ai muốn kể cả Bắc Kinh dù họ có tuyên bố là “không sợ chiến tranh”.

Chủ tịch Tập Cận Bình đang trở thành lãnh tụ có nhiều quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông, nhưng bên trong cũng còn chán vạn vấn đề phải giải quyết. Ông cần tìm thế mạnh ở bên ngoài để hoàn tất việc cải cách bên trong. Mấy sáng kiến huê dạng về Con Đường Tơ Lụa hay các dự án bạc tỷ lẫn chuyến thăm viếng Anh quốc hào nhoáng vừa qua là phần “mềm” của việc bành trướng ảnh hưởng. Không mấy ai coi đó là một đe dọa mà còn tìm ra nhiều cơ hội kinh tế có lợi cho mình.

Nhưng hành động gom đá thành đảo và dựng lên một trận đồ quân sự tại vùng biển Đông Nam Á lại là chuyện khác.

Nó khiến các nước nằm trong tầm đạn của Bắc Kinh phải cân nhắc lại rủi ro an ninh của mình. Các cơ chế hữu trách của Hoa Kỳ cũng thấy như vậy. Quốc hội, các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Thương mại Hoa Kỳ đều yêu cầu Phủ Tổng thống có đối sách thích hợp hơn với Bắc Kinh. Nôm na là cứng rắn hơn. Nhưng Chính quyền Obama đã cố trì hoãn quyết định cho tới tuần qua.

Đáng lẽ, ông phải quả quyết hơn và có phản ứng mạnh mẽ rõ rệt hơn.

*

Đằng sau các cuộc tranh hơi vừa qua là ảnh hưởng chiến lược của hai cường quốc ở hai bờ Tây-Đông của Thái Bình Dương.

Từ Thế chiến II, Hoa Kỳ coi Vành cung Thái Bình Dương là khu vực chiến lược mà nước Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản hay Nam Hàn và Úc Đại Lợi lẫn vài nước Đông Nam Á cùng có nhiệm vụ bảo vệ để duy trì quyền tự do thông thương ngoài biển, nhất là qua các eo biển sinh tử của vùng biển Đông Nam Á. Bây giờ, Trung Quốc xuất hiện - và không chỉ nói mà làm – để kiểm soát khu vực này vì nhu cầu giao thương cũng sinh tử cho nền kinh tế Hoa lục, là chuyện chưa từng thấy trong lịch sử Trung Hoa.

Trong cuộc “gặp gỡ” chiến lược ấy, khác biệt Mỹ-Hoa là cách diễn giải luật lệ quốc tế về đảo, cụm đá nổi, đá chìm hay đảo nhân tạo. Trong khi Mỹ cãi về luật thì Tầu lẳng lặng đem xi măng cốt sắt vào sửa lại địa dư hình thể. Rồi cắm cờ, dựng hải đăng và trí pháo trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác, kể cả chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân. Vì vậy mới có tranh luận về phạm vi 12 hải lý hay 200 hải lý, vốn dĩ nằm trong cái lưỡi bò chín khúc của Bắc Kinh.

Hoa Kỳ đặt ra nguyên tắc tiên quyết là không đứng bên nào trong vụ tranh chấp về chủ quyền giữa các nước và viện dẫn Công ước UNCLOS mà mình chưa ký. Thế mạnh của nước Mỹ là khả năng quân sự có truyền thống tới trăm năm của mình. Nhưng cái thế còn cần cái lực về chính trị. Nôm na là phải có ý chí và chẳng sợ rủi ro, là điều nước Mỹ hiện không còn nữa vì trong khi Tập Cận Bình phải lo cải cách bên trong thì Obama cũng muốn cải tạo nước Mỹ.

Đấy mới là ưu tiên của ông.

Bắc Kinh thì đánh giá rủi ro theo kiểu “bát sành không sợ chén kiểu”, nên vừa tung tiền mua chuộc các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa đẩy pháo vào trận. Các nước có thể cùng chia chút cháo có bầu dục với Con Đường Tơ Lụa hay Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu AIIB, hoặc gặp sự thịnh nộ của ngư phủ và hải quân Trung Quốc trước sự phản đối yếu ớt của Hoa Kỳ.

*

Tuy nhiên, vùng Tây Thái Bình Dương không chỉ có Hoa Kỳ ở xa và Trung Quốc ở gần. Nằm ngay trong cuộc và không được sự bảo vệ của một đại dương là Nhật Bản.

Sau 40 năm phát triển trong thời Chiến tranh lạnh, tạm tính từ 1949 đến 1989 cho tiện, Nhật Bản đã qua 25 năm suy sụp kinh tế, từ 1990 đến nay. Và không thể yên tâm trước sự bành trướng của Trung Quốc ở ngay ngoài ngõ. Càng không thể yên tâm khi đã từng đánh gục nhà Mãn Thanh vào năm 1895 và xâm chiếm Hoa lục từ năm 1931 cho tới khi bị Hoa Kỳ khuất phục vào năm 1945.

Nhật vừa điều chỉnh bản Hiến pháp do Hoa Kỳ soạn thảo năm xưa, để tự giành lấy quyền can thiệp quân sự ở ngoài lãnh thổ nhằm “bảo vệ các đồng minh” và lẳng lặng mở ra nhiều cuộc thao dượt với Phi Luật Tân cùng nhiều nước Đông Nam Á và cả Ấn Độ (cuộc thao dượt Malabar vừa qua tại Vịnh Bengale trên vùng Ấn Độ Dương). Vừa nhậm chức Thủ tướng vào cuối năm 2012, chuyến thăm viếng hải ngoại đầu tiên của ông Shinzo Abe là Việt Nam. Và từ đó ông tranh thủ các nước Đông Nam Á về cả kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng.

Bên cạnh Nhật Bản, Nam Hàn cũng không ngồi yên vì phải cân nhắc quyền lợi kinh tế lẫn rủi ro an ninh. Là quốc gia dân chủ theo kinh tế thị trường và có ảnh hưởng kinh tế rất lớn, Nam Hàn vẫn không quên được tai họa do Nhật Bản gây ra từ năm 1910. Chính quyền trung hữu mang đặc tính quốc gia của Tổng thống Phác Cận Huệ vẫn giữ thái độ lạnh nhạt trước thiện chí hòa giải của các chính quyền nối tiếp tại Tokyo, nhất là của Thủ tướng Abe.

Tức là ngày nay, cả hai đồng minh chiến lược nhất của Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á vẫn còn nghi ngờ nhau vì trong nhiều năm liền, nước Mỹ chỉ kết giao riêng lẻ với từng nước chứ không có một chính sách kết ước chung - cho tới khi mối nguy của Trung Quốc xuất hiện.

Bên cạnh đó, nếu đảng Dân Tiến đắc cử Tổng thống tại Đài Loan, Chính quyền Thái Anh Văn sẽ công bố chủ trương đối ngoại rất độc lập và từ bỏ chủ quyền trên vùng biển Đông Nam Á, kể cả đảo Ba Bình mà Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã cướp của Việt Nam vào cuối năm 1946 và cải tên thành đảo Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, duy nhất có nước ngọt và đã tiếp liệu cho Hải quân Công xưởng Bắc Kinh đi cơi đá xây đảo vì chủ trương hợp tác với Bắc Kinh của Chính quyền Mã Anh Cửu bên Quốc dân đảng….

Vì vậy, trong khi Obama muốn cải tạo nước Mỹ và Hoa Kỳ bận tranh cử, biển Đông có thể dậy sóng và làn khói tỏa ngày nay có thể nháng lửa.

Đáng lẽ Hoa Kỳ nên kêu gọi Bắc Kinh tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển và mời hải quân Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Phi Luật Tân và Việt Nam cùng chiến hạm Mỹ thăm thú khu vực này, trong phạm vi 12 hải lý. Tính chất ngoại giao quốc tế của một hành động biểu dương tập thể sẽ làm nguội những cái đầu nóng tại Bắc Kinh. Trễ còn hơn không!

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.