Hôm nay,  

Đông Hải Bốc Khói

31/10/201500:00:00(Xem: 7159)
Mới Chỉ Là Khói, Sự Ngần Ngại Của Hoa Kỳ Mới Dễ Bốc Lửa

Sau nhiều tháng bật tín hiệu và cả tháng báo trước, cuối cùng, Hoa Kỳ giữ đúng lời hứa là bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển Đông Nam Á. Hôm Thứ Ba 27 vừa qua, khu trục hạm có hỏa tiễn dẫn đạo USS Lassen đã kín đáo vào trong phạm vi 12 hải lý của hai cụm đá do Bắc Kinh xây dựng và củng cố thành hải đảo có trang bị võ khí. Khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện gặng hỏi, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter xác nhận việc đó, nhưng không nói thêm chi tiết. Ở tại chỗ, các viên chức Bắc Kinh gay gắt cáo buộc rằng Hoa Kỳ leo thang chiến tranh và xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Rồi xuống giọng.

Quyết định nhỏ nhoi này lại có ý nghĩa cụ thể, rằng Hoa Kỳ bác bỏ việc Bắc Kinh khẳng định lãnh hải từ mấy cụm đá họ đã chiếm đóng. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không đứng ở phe nào trong vụ tranh chấp chủ quyền trên nhiều cụm đá hay đảo chìm nổi của vùng biển Đông Nam Á. Vì không thiên về quan điểm của Trung Quốc hay của các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Phi Luật Tân, Hoa Kỳ chẳng muốn thách thức Trung Quốc, và còn thông báo là sẽ làm vậy trên các biển đảo đang do Việt Nam và Phi Luật Tân chiếm đóng để giữ vị thế trung lập nhằm khẳng định quyền tự do lưu thông theo luật lệ quốc tế.

Trước khi đi vào ý nghĩa chiến lược của một hành động nhẹ nhàng, chúng ta cần nhắc lại vài chi tiết rắc rối về pháp lý.

Quốc tế chỉ công nhận là hòn đảo, có lãnh hải 12 hải lý và đặc quyền kinh tế trong phạm vi 200 hải lý, nếu mảnh đất này ở trên mặt biển vào lúc thủy triều cao nhất. Còn lại, các cụm đá chìm, chỉ nổi trên mặt nước khi thủy triều rút, thì chỉ được vùng an toàn là 500 thước vây quanh thôi. Bắc Kinh cơi đất và xây dựng kiến trúc trên các cụm đá chìm ấy rồi gọi là đảo và khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo mà Hoa Kỳ gọi là “nhân tạo”. Cách gọi của Mỹ là “đảo nhân tạo” không nêu vấn đề về hành động chiếm đóng của Bắc Kinh mà chỉ nhắm vào một chi tiết pháp lý. Rắc rối!

Năm 2013, khi Bắc Kinh tuyên bố sẽ mở rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ (Air Defense Identification Zone) trên vùng biển Đông Nam Á thì Hoa Kỳ đưa ngay hai oanh tạc cơ B-52 vào khu vực để bác bỏ quan điểm của Trung Quốc và khẳng định rằng đấy là không phận quốc tế. Qua hai quyết định này, B-52 vào năm 2013 và USS Lassen năm nay, Chính quyền Barack Obama đã đi một nước cờ nhẹ thay vì đưa vào cuộc những phương tiện tối tân và quy mô hơn. Chúng ta sẽ phân tách chuyện đó ở đây.

*

Tháng Tư năm 2001, Chính quyền George W. Bush vừa nhậm chức thì đã có vụ thử lửa ngoài Đông Hải khi một máy bay trinh sát của Mỹ bị Không quân Trung Cộng uy hiếp và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam. Phi cơ bị câu lưu sau khi phi hành đoàn được thả. Hành động khiêu khích ấy đã khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách của mình tại Đông Á, nhưng vụ khủng bố 9-11 đã đảo lộn tất cả và dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến kéo dài lan rộng chống khủng bố Hồi giáo trên toàn cầu.

Mười năm sau, dưới Chính quyền Obama, Hoa Kỳ tuyên bố “chuyển trục” về Đông Á nhưng chưa có hành động gì cụ thể. Trong khoảng thời gian 10 năm ấy, Bắc Kinh liên tục mở rộng ảnh hưởng kinh tế và bành trướng quân sự, từ vùng Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ Dương.

Ngày nay, khi Hoa Kỳ vẫn khẳng định mục tiêu chiến lược và lâu dài là quyền tự do lưu thông ngoài biển, hành động của Bắc Kinh lại gây ra vấn đề mới.

Thứ nhất, các đồng minh của Mỹ trong vùng Đông Á, từ Nhật Bản tới Phi Luật Tân và Úc Đại Lợi, đều yêu cầu Obama phải có quyết định cụ thể hơn về chiến lược chuyển trục. Họ mất cả tháng nhắc nhở rồi mới thấy USS Lassen xuất hiện. Chuyện thứ hai là Obama tưởng mình đã đạt thỏa thuận với Chủ tịch Tập Cận Bình trong Thượng đỉnh Mỹ-Hoa vào tháng trước tại thủ đô Hoa Kỳ về 1) nạn tin tặc trên không gian điện não, 2) nạn nhiệt hóa địa cầu, và 3) không quân sự hóa vùng biển Đông Nam Á.

Kết quả là một sự thất vọng nên sau khi lần lữa trước lời yêu cầu của Quốc hội và giới chức quân sự, Tổng thống Obama mới cho đưa khu trục hạm USS Lassen vào cuộc.

Giới quan sát cho rằng Biển Đông đang dậy sóng khi hai đại cường ở hai bờ Thái Bình Dương có thể đụng độ tại miền Tây của biển Thái Bình, là vùng biển Đông Nam Á. Thật ra, trong cuộc đấu trí này, chính là thái độ chần chờ bất nhất của Tổng thống Barack Obama mới gia tăng rủi ro đụng độ, là điều chẳng ai muốn kể cả Bắc Kinh dù họ có tuyên bố là “không sợ chiến tranh”.

Chủ tịch Tập Cận Bình đang trở thành lãnh tụ có nhiều quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông, nhưng bên trong cũng còn chán vạn vấn đề phải giải quyết. Ông cần tìm thế mạnh ở bên ngoài để hoàn tất việc cải cách bên trong. Mấy sáng kiến huê dạng về Con Đường Tơ Lụa hay các dự án bạc tỷ lẫn chuyến thăm viếng Anh quốc hào nhoáng vừa qua là phần “mềm” của việc bành trướng ảnh hưởng. Không mấy ai coi đó là một đe dọa mà còn tìm ra nhiều cơ hội kinh tế có lợi cho mình.

Nhưng hành động gom đá thành đảo và dựng lên một trận đồ quân sự tại vùng biển Đông Nam Á lại là chuyện khác.

Nó khiến các nước nằm trong tầm đạn của Bắc Kinh phải cân nhắc lại rủi ro an ninh của mình. Các cơ chế hữu trách của Hoa Kỳ cũng thấy như vậy. Quốc hội, các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Thương mại Hoa Kỳ đều yêu cầu Phủ Tổng thống có đối sách thích hợp hơn với Bắc Kinh. Nôm na là cứng rắn hơn. Nhưng Chính quyền Obama đã cố trì hoãn quyết định cho tới tuần qua.

Đáng lẽ, ông phải quả quyết hơn và có phản ứng mạnh mẽ rõ rệt hơn.

*

Đằng sau các cuộc tranh hơi vừa qua là ảnh hưởng chiến lược của hai cường quốc ở hai bờ Tây-Đông của Thái Bình Dương.

Từ Thế chiến II, Hoa Kỳ coi Vành cung Thái Bình Dương là khu vực chiến lược mà nước Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản hay Nam Hàn và Úc Đại Lợi lẫn vài nước Đông Nam Á cùng có nhiệm vụ bảo vệ để duy trì quyền tự do thông thương ngoài biển, nhất là qua các eo biển sinh tử của vùng biển Đông Nam Á. Bây giờ, Trung Quốc xuất hiện - và không chỉ nói mà làm – để kiểm soát khu vực này vì nhu cầu giao thương cũng sinh tử cho nền kinh tế Hoa lục, là chuyện chưa từng thấy trong lịch sử Trung Hoa.

Trong cuộc “gặp gỡ” chiến lược ấy, khác biệt Mỹ-Hoa là cách diễn giải luật lệ quốc tế về đảo, cụm đá nổi, đá chìm hay đảo nhân tạo. Trong khi Mỹ cãi về luật thì Tầu lẳng lặng đem xi măng cốt sắt vào sửa lại địa dư hình thể. Rồi cắm cờ, dựng hải đăng và trí pháo trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác, kể cả chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân. Vì vậy mới có tranh luận về phạm vi 12 hải lý hay 200 hải lý, vốn dĩ nằm trong cái lưỡi bò chín khúc của Bắc Kinh.

Hoa Kỳ đặt ra nguyên tắc tiên quyết là không đứng bên nào trong vụ tranh chấp về chủ quyền giữa các nước và viện dẫn Công ước UNCLOS mà mình chưa ký. Thế mạnh của nước Mỹ là khả năng quân sự có truyền thống tới trăm năm của mình. Nhưng cái thế còn cần cái lực về chính trị. Nôm na là phải có ý chí và chẳng sợ rủi ro, là điều nước Mỹ hiện không còn nữa vì trong khi Tập Cận Bình phải lo cải cách bên trong thì Obama cũng muốn cải tạo nước Mỹ.

Đấy mới là ưu tiên của ông.

Bắc Kinh thì đánh giá rủi ro theo kiểu “bát sành không sợ chén kiểu”, nên vừa tung tiền mua chuộc các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa đẩy pháo vào trận. Các nước có thể cùng chia chút cháo có bầu dục với Con Đường Tơ Lụa hay Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu AIIB, hoặc gặp sự thịnh nộ của ngư phủ và hải quân Trung Quốc trước sự phản đối yếu ớt của Hoa Kỳ.

*

Tuy nhiên, vùng Tây Thái Bình Dương không chỉ có Hoa Kỳ ở xa và Trung Quốc ở gần. Nằm ngay trong cuộc và không được sự bảo vệ của một đại dương là Nhật Bản.

Sau 40 năm phát triển trong thời Chiến tranh lạnh, tạm tính từ 1949 đến 1989 cho tiện, Nhật Bản đã qua 25 năm suy sụp kinh tế, từ 1990 đến nay. Và không thể yên tâm trước sự bành trướng của Trung Quốc ở ngay ngoài ngõ. Càng không thể yên tâm khi đã từng đánh gục nhà Mãn Thanh vào năm 1895 và xâm chiếm Hoa lục từ năm 1931 cho tới khi bị Hoa Kỳ khuất phục vào năm 1945.

Nhật vừa điều chỉnh bản Hiến pháp do Hoa Kỳ soạn thảo năm xưa, để tự giành lấy quyền can thiệp quân sự ở ngoài lãnh thổ nhằm “bảo vệ các đồng minh” và lẳng lặng mở ra nhiều cuộc thao dượt với Phi Luật Tân cùng nhiều nước Đông Nam Á và cả Ấn Độ (cuộc thao dượt Malabar vừa qua tại Vịnh Bengale trên vùng Ấn Độ Dương). Vừa nhậm chức Thủ tướng vào cuối năm 2012, chuyến thăm viếng hải ngoại đầu tiên của ông Shinzo Abe là Việt Nam. Và từ đó ông tranh thủ các nước Đông Nam Á về cả kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng.

Bên cạnh Nhật Bản, Nam Hàn cũng không ngồi yên vì phải cân nhắc quyền lợi kinh tế lẫn rủi ro an ninh. Là quốc gia dân chủ theo kinh tế thị trường và có ảnh hưởng kinh tế rất lớn, Nam Hàn vẫn không quên được tai họa do Nhật Bản gây ra từ năm 1910. Chính quyền trung hữu mang đặc tính quốc gia của Tổng thống Phác Cận Huệ vẫn giữ thái độ lạnh nhạt trước thiện chí hòa giải của các chính quyền nối tiếp tại Tokyo, nhất là của Thủ tướng Abe.

Tức là ngày nay, cả hai đồng minh chiến lược nhất của Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á vẫn còn nghi ngờ nhau vì trong nhiều năm liền, nước Mỹ chỉ kết giao riêng lẻ với từng nước chứ không có một chính sách kết ước chung - cho tới khi mối nguy của Trung Quốc xuất hiện.

Bên cạnh đó, nếu đảng Dân Tiến đắc cử Tổng thống tại Đài Loan, Chính quyền Thái Anh Văn sẽ công bố chủ trương đối ngoại rất độc lập và từ bỏ chủ quyền trên vùng biển Đông Nam Á, kể cả đảo Ba Bình mà Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã cướp của Việt Nam vào cuối năm 1946 và cải tên thành đảo Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, duy nhất có nước ngọt và đã tiếp liệu cho Hải quân Công xưởng Bắc Kinh đi cơi đá xây đảo vì chủ trương hợp tác với Bắc Kinh của Chính quyền Mã Anh Cửu bên Quốc dân đảng….

Vì vậy, trong khi Obama muốn cải tạo nước Mỹ và Hoa Kỳ bận tranh cử, biển Đông có thể dậy sóng và làn khói tỏa ngày nay có thể nháng lửa.

Đáng lẽ Hoa Kỳ nên kêu gọi Bắc Kinh tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển và mời hải quân Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Phi Luật Tân và Việt Nam cùng chiến hạm Mỹ thăm thú khu vực này, trong phạm vi 12 hải lý. Tính chất ngoại giao quốc tế của một hành động biểu dương tập thể sẽ làm nguội những cái đầu nóng tại Bắc Kinh. Trễ còn hơn không!

Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.