Hôm nay,  

Đông Hải Bốc Khói

31/10/201500:00:00(Xem: 7074)
Mới Chỉ Là Khói, Sự Ngần Ngại Của Hoa Kỳ Mới Dễ Bốc Lửa

Sau nhiều tháng bật tín hiệu và cả tháng báo trước, cuối cùng, Hoa Kỳ giữ đúng lời hứa là bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển Đông Nam Á. Hôm Thứ Ba 27 vừa qua, khu trục hạm có hỏa tiễn dẫn đạo USS Lassen đã kín đáo vào trong phạm vi 12 hải lý của hai cụm đá do Bắc Kinh xây dựng và củng cố thành hải đảo có trang bị võ khí. Khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện gặng hỏi, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter xác nhận việc đó, nhưng không nói thêm chi tiết. Ở tại chỗ, các viên chức Bắc Kinh gay gắt cáo buộc rằng Hoa Kỳ leo thang chiến tranh và xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Rồi xuống giọng.

Quyết định nhỏ nhoi này lại có ý nghĩa cụ thể, rằng Hoa Kỳ bác bỏ việc Bắc Kinh khẳng định lãnh hải từ mấy cụm đá họ đã chiếm đóng. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không đứng ở phe nào trong vụ tranh chấp chủ quyền trên nhiều cụm đá hay đảo chìm nổi của vùng biển Đông Nam Á. Vì không thiên về quan điểm của Trung Quốc hay của các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Phi Luật Tân, Hoa Kỳ chẳng muốn thách thức Trung Quốc, và còn thông báo là sẽ làm vậy trên các biển đảo đang do Việt Nam và Phi Luật Tân chiếm đóng để giữ vị thế trung lập nhằm khẳng định quyền tự do lưu thông theo luật lệ quốc tế.

Trước khi đi vào ý nghĩa chiến lược của một hành động nhẹ nhàng, chúng ta cần nhắc lại vài chi tiết rắc rối về pháp lý.

Quốc tế chỉ công nhận là hòn đảo, có lãnh hải 12 hải lý và đặc quyền kinh tế trong phạm vi 200 hải lý, nếu mảnh đất này ở trên mặt biển vào lúc thủy triều cao nhất. Còn lại, các cụm đá chìm, chỉ nổi trên mặt nước khi thủy triều rút, thì chỉ được vùng an toàn là 500 thước vây quanh thôi. Bắc Kinh cơi đất và xây dựng kiến trúc trên các cụm đá chìm ấy rồi gọi là đảo và khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo mà Hoa Kỳ gọi là “nhân tạo”. Cách gọi của Mỹ là “đảo nhân tạo” không nêu vấn đề về hành động chiếm đóng của Bắc Kinh mà chỉ nhắm vào một chi tiết pháp lý. Rắc rối!

Năm 2013, khi Bắc Kinh tuyên bố sẽ mở rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ (Air Defense Identification Zone) trên vùng biển Đông Nam Á thì Hoa Kỳ đưa ngay hai oanh tạc cơ B-52 vào khu vực để bác bỏ quan điểm của Trung Quốc và khẳng định rằng đấy là không phận quốc tế. Qua hai quyết định này, B-52 vào năm 2013 và USS Lassen năm nay, Chính quyền Barack Obama đã đi một nước cờ nhẹ thay vì đưa vào cuộc những phương tiện tối tân và quy mô hơn. Chúng ta sẽ phân tách chuyện đó ở đây.

*

Tháng Tư năm 2001, Chính quyền George W. Bush vừa nhậm chức thì đã có vụ thử lửa ngoài Đông Hải khi một máy bay trinh sát của Mỹ bị Không quân Trung Cộng uy hiếp và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam. Phi cơ bị câu lưu sau khi phi hành đoàn được thả. Hành động khiêu khích ấy đã khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách của mình tại Đông Á, nhưng vụ khủng bố 9-11 đã đảo lộn tất cả và dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến kéo dài lan rộng chống khủng bố Hồi giáo trên toàn cầu.

Mười năm sau, dưới Chính quyền Obama, Hoa Kỳ tuyên bố “chuyển trục” về Đông Á nhưng chưa có hành động gì cụ thể. Trong khoảng thời gian 10 năm ấy, Bắc Kinh liên tục mở rộng ảnh hưởng kinh tế và bành trướng quân sự, từ vùng Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ Dương.

Ngày nay, khi Hoa Kỳ vẫn khẳng định mục tiêu chiến lược và lâu dài là quyền tự do lưu thông ngoài biển, hành động của Bắc Kinh lại gây ra vấn đề mới.

Thứ nhất, các đồng minh của Mỹ trong vùng Đông Á, từ Nhật Bản tới Phi Luật Tân và Úc Đại Lợi, đều yêu cầu Obama phải có quyết định cụ thể hơn về chiến lược chuyển trục. Họ mất cả tháng nhắc nhở rồi mới thấy USS Lassen xuất hiện. Chuyện thứ hai là Obama tưởng mình đã đạt thỏa thuận với Chủ tịch Tập Cận Bình trong Thượng đỉnh Mỹ-Hoa vào tháng trước tại thủ đô Hoa Kỳ về 1) nạn tin tặc trên không gian điện não, 2) nạn nhiệt hóa địa cầu, và 3) không quân sự hóa vùng biển Đông Nam Á.

Kết quả là một sự thất vọng nên sau khi lần lữa trước lời yêu cầu của Quốc hội và giới chức quân sự, Tổng thống Obama mới cho đưa khu trục hạm USS Lassen vào cuộc.

Giới quan sát cho rằng Biển Đông đang dậy sóng khi hai đại cường ở hai bờ Thái Bình Dương có thể đụng độ tại miền Tây của biển Thái Bình, là vùng biển Đông Nam Á. Thật ra, trong cuộc đấu trí này, chính là thái độ chần chờ bất nhất của Tổng thống Barack Obama mới gia tăng rủi ro đụng độ, là điều chẳng ai muốn kể cả Bắc Kinh dù họ có tuyên bố là “không sợ chiến tranh”.

Chủ tịch Tập Cận Bình đang trở thành lãnh tụ có nhiều quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông, nhưng bên trong cũng còn chán vạn vấn đề phải giải quyết. Ông cần tìm thế mạnh ở bên ngoài để hoàn tất việc cải cách bên trong. Mấy sáng kiến huê dạng về Con Đường Tơ Lụa hay các dự án bạc tỷ lẫn chuyến thăm viếng Anh quốc hào nhoáng vừa qua là phần “mềm” của việc bành trướng ảnh hưởng. Không mấy ai coi đó là một đe dọa mà còn tìm ra nhiều cơ hội kinh tế có lợi cho mình.

Nhưng hành động gom đá thành đảo và dựng lên một trận đồ quân sự tại vùng biển Đông Nam Á lại là chuyện khác.

Nó khiến các nước nằm trong tầm đạn của Bắc Kinh phải cân nhắc lại rủi ro an ninh của mình. Các cơ chế hữu trách của Hoa Kỳ cũng thấy như vậy. Quốc hội, các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Thương mại Hoa Kỳ đều yêu cầu Phủ Tổng thống có đối sách thích hợp hơn với Bắc Kinh. Nôm na là cứng rắn hơn. Nhưng Chính quyền Obama đã cố trì hoãn quyết định cho tới tuần qua.

Đáng lẽ, ông phải quả quyết hơn và có phản ứng mạnh mẽ rõ rệt hơn.

*

Đằng sau các cuộc tranh hơi vừa qua là ảnh hưởng chiến lược của hai cường quốc ở hai bờ Tây-Đông của Thái Bình Dương.

Từ Thế chiến II, Hoa Kỳ coi Vành cung Thái Bình Dương là khu vực chiến lược mà nước Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản hay Nam Hàn và Úc Đại Lợi lẫn vài nước Đông Nam Á cùng có nhiệm vụ bảo vệ để duy trì quyền tự do thông thương ngoài biển, nhất là qua các eo biển sinh tử của vùng biển Đông Nam Á. Bây giờ, Trung Quốc xuất hiện - và không chỉ nói mà làm – để kiểm soát khu vực này vì nhu cầu giao thương cũng sinh tử cho nền kinh tế Hoa lục, là chuyện chưa từng thấy trong lịch sử Trung Hoa.

Trong cuộc “gặp gỡ” chiến lược ấy, khác biệt Mỹ-Hoa là cách diễn giải luật lệ quốc tế về đảo, cụm đá nổi, đá chìm hay đảo nhân tạo. Trong khi Mỹ cãi về luật thì Tầu lẳng lặng đem xi măng cốt sắt vào sửa lại địa dư hình thể. Rồi cắm cờ, dựng hải đăng và trí pháo trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác, kể cả chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân. Vì vậy mới có tranh luận về phạm vi 12 hải lý hay 200 hải lý, vốn dĩ nằm trong cái lưỡi bò chín khúc của Bắc Kinh.

Hoa Kỳ đặt ra nguyên tắc tiên quyết là không đứng bên nào trong vụ tranh chấp về chủ quyền giữa các nước và viện dẫn Công ước UNCLOS mà mình chưa ký. Thế mạnh của nước Mỹ là khả năng quân sự có truyền thống tới trăm năm của mình. Nhưng cái thế còn cần cái lực về chính trị. Nôm na là phải có ý chí và chẳng sợ rủi ro, là điều nước Mỹ hiện không còn nữa vì trong khi Tập Cận Bình phải lo cải cách bên trong thì Obama cũng muốn cải tạo nước Mỹ.

Đấy mới là ưu tiên của ông.

Bắc Kinh thì đánh giá rủi ro theo kiểu “bát sành không sợ chén kiểu”, nên vừa tung tiền mua chuộc các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa đẩy pháo vào trận. Các nước có thể cùng chia chút cháo có bầu dục với Con Đường Tơ Lụa hay Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu AIIB, hoặc gặp sự thịnh nộ của ngư phủ và hải quân Trung Quốc trước sự phản đối yếu ớt của Hoa Kỳ.

*

Tuy nhiên, vùng Tây Thái Bình Dương không chỉ có Hoa Kỳ ở xa và Trung Quốc ở gần. Nằm ngay trong cuộc và không được sự bảo vệ của một đại dương là Nhật Bản.

Sau 40 năm phát triển trong thời Chiến tranh lạnh, tạm tính từ 1949 đến 1989 cho tiện, Nhật Bản đã qua 25 năm suy sụp kinh tế, từ 1990 đến nay. Và không thể yên tâm trước sự bành trướng của Trung Quốc ở ngay ngoài ngõ. Càng không thể yên tâm khi đã từng đánh gục nhà Mãn Thanh vào năm 1895 và xâm chiếm Hoa lục từ năm 1931 cho tới khi bị Hoa Kỳ khuất phục vào năm 1945.

Nhật vừa điều chỉnh bản Hiến pháp do Hoa Kỳ soạn thảo năm xưa, để tự giành lấy quyền can thiệp quân sự ở ngoài lãnh thổ nhằm “bảo vệ các đồng minh” và lẳng lặng mở ra nhiều cuộc thao dượt với Phi Luật Tân cùng nhiều nước Đông Nam Á và cả Ấn Độ (cuộc thao dượt Malabar vừa qua tại Vịnh Bengale trên vùng Ấn Độ Dương). Vừa nhậm chức Thủ tướng vào cuối năm 2012, chuyến thăm viếng hải ngoại đầu tiên của ông Shinzo Abe là Việt Nam. Và từ đó ông tranh thủ các nước Đông Nam Á về cả kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng.

Bên cạnh Nhật Bản, Nam Hàn cũng không ngồi yên vì phải cân nhắc quyền lợi kinh tế lẫn rủi ro an ninh. Là quốc gia dân chủ theo kinh tế thị trường và có ảnh hưởng kinh tế rất lớn, Nam Hàn vẫn không quên được tai họa do Nhật Bản gây ra từ năm 1910. Chính quyền trung hữu mang đặc tính quốc gia của Tổng thống Phác Cận Huệ vẫn giữ thái độ lạnh nhạt trước thiện chí hòa giải của các chính quyền nối tiếp tại Tokyo, nhất là của Thủ tướng Abe.

Tức là ngày nay, cả hai đồng minh chiến lược nhất của Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á vẫn còn nghi ngờ nhau vì trong nhiều năm liền, nước Mỹ chỉ kết giao riêng lẻ với từng nước chứ không có một chính sách kết ước chung - cho tới khi mối nguy của Trung Quốc xuất hiện.

Bên cạnh đó, nếu đảng Dân Tiến đắc cử Tổng thống tại Đài Loan, Chính quyền Thái Anh Văn sẽ công bố chủ trương đối ngoại rất độc lập và từ bỏ chủ quyền trên vùng biển Đông Nam Á, kể cả đảo Ba Bình mà Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã cướp của Việt Nam vào cuối năm 1946 và cải tên thành đảo Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, duy nhất có nước ngọt và đã tiếp liệu cho Hải quân Công xưởng Bắc Kinh đi cơi đá xây đảo vì chủ trương hợp tác với Bắc Kinh của Chính quyền Mã Anh Cửu bên Quốc dân đảng….

Vì vậy, trong khi Obama muốn cải tạo nước Mỹ và Hoa Kỳ bận tranh cử, biển Đông có thể dậy sóng và làn khói tỏa ngày nay có thể nháng lửa.

Đáng lẽ Hoa Kỳ nên kêu gọi Bắc Kinh tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển và mời hải quân Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Phi Luật Tân và Việt Nam cùng chiến hạm Mỹ thăm thú khu vực này, trong phạm vi 12 hải lý. Tính chất ngoại giao quốc tế của một hành động biểu dương tập thể sẽ làm nguội những cái đầu nóng tại Bắc Kinh. Trễ còn hơn không!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.