Hôm nay,  

Cái Duyên Gặp Gỡ Với Bạn Đọc Người Nước Ngoài

12/01/201600:00:00(Xem: 6284)

Tôi qua định cư bên nước Mỹ từ năm 1996, đến năm 2016 này thì đã được 20 năm rồi. Sau thời gian trị bệnh, tình trạng sức khỏe của tôi đã hồi phục khả quan và từ trên 10 năm nay tôi đã tham gia sinh họat về văn hóa xã hội với nhiều bạn bè cùng chí hướng - cũng như viết báo để trao đổi thảo luận với bà con độc giả qua báo giấy cũng như trên báo điện tử. Các bài tôi viết thì hầu hết là bằng tiếng Việt nhằm phục vụ đa số bà con người Việt mình và tôi cũng đã nhận được nhiều đáp ứng của bạn đọc với sự khích lệ thật đáng quý. Tôi sẽ có dịp viết chi tiết về những sự trao đổi này của bạn đọc khắp nơi ở trong cũng như ở ngoài nước.

Nhưng tôi cũng viết một số bài bằng tiếng Anh để dành riêng cho lớp cháu sinh trưởng ở Mỹ và nhân tiện cũng gửi cho các bạn ngọai quốc đọc nữa. Và trong số các độc giả người nước ngòai này lại có một ít người còn thông thạo cả tiếng Việt nữa. Nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những câu chuyện trao đổi ngộ nghĩnh lý thú giữa tôi và các bạn đọc người nước ngòai ấy. Xin lần lượt trình bày một số danh tính các bạn đọc đó như sau đây.

1 – Anh chị Earl và Pat Martin ở tiểu bang Virginia.

Hai anh chị Martin đã từng làm việc tại Quảng Ngãi hồi trước năm 1975 trong công tác nhân đạo từ thiện của Giáo hội Tin lành Mennonite được gọi là tổ chức Mennonite Central Committee (MCC). Bà con ở Quảng Ngãi thường biết đến anh chị qua tên tiếng Việt là chú Kiến, cô Mai. Sau năm 1975, anh chị còn làm việc tại nhiều nước Á châu khác nữa. Từ năm 1998, Pat giữ chức vụ Giám đốc viện Xây dựng Hòa bình Mùa hè (Summer Peacebuilding Institute SPI) thuộc Đại học Eastern Mennonite University (EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia. Trong các bài báo trước đây, tôi đã có nhiều dịp viết về anh chị bạn rất thân thiết này rồi. Nay tôi chỉ ghi tóm tắt lại câu chuyện trao đổi của anh chị về các bài viết của tôi cả bằng tiếng Việt, cả bằng tiếng Anh.

Nói chung, anh chị đều chú ý đến các bài tôi gửi qua email và luôn phản hồi mau lẹ, đại khái như “bài này hấp dẫn đấy” (interesting), “người Mỹ chúng tôi cần được biết đến những thông tin chính xác như trong các bài do anh viết” v.v... Có lần Earl gọi tôi là “an wandering philosopher” (một triết gia đi lang thang). Mới đây, sau khi đọc bài “My Two Passions in Life” (Hai niềm say mê trong đời của tôi) Earl trả lời ngay rằng đó là “Beautiful Reflections”

Người anh cả của Earl tên là Luke Martin, ông làm việc lâu năm ở Việt nam như là một vị Mục sư thuộc Giáo hội Tin Lành Mennonite. Ông cũng như bà vợ là Mary Martin đều khá thông thạo tiếng Việt. Khi đọc bài tôi viết về Giáo hội Mennonite tại Mỹ, mục sư Luke nói ngay chắc là Earl đã cung cấp các tài liệu cho tôi tham khảo để viết bài đó. Vào cuối năm 2012, tôi đã đến ngụ tại nhà ông bà tại thành phố Allentown tiểu bang Pennsylvania. Chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau qua email.

2- Giáo sư Sophie Quinn-Judge tại Đại học Temple ở thành phố Philadelphia.

Sophie từng làm việc tại Việt nam trước năm 1975 trong tổ chức nhân đạo của giáo phái Quaker. Chị thông thạo tiếng Pháp, Nga và cả tiếng Việt nữa. Từ nhiều năm nay, chị làm giáo sự dạy môn sử học, đồng thời cũng làm phó giám đốc trung tâm văn hóa, triết học và xã hội Việt nam tại Đại học Temple. Một vài lần chị còn mời tôi đến trú ngụ tại nhà của chị ở khu ngọai ô của Philadelphia. Đôi khi chị còn mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị hướng dẫn nữa.

Sophie Quinn-Judge còn là tác giả cuốn sách “Ho Chi Minh – The Missing Years” xuất bản năm 2002 mà được nhiều thức giả đánh giá cao. Sophie tính tình hồn nhiên đôn hậu dịu hiền, chị xưng mình là một Buddhist Quaker (người Quaker mà có tinh thần Phật giáo). Mới đây, chị cho biết sắp sửa đến tuổi nghỉ hưu rồi, nhưng cho biết là chỉ nghỉ việc giảng day, còn vẫn phụ trách chuyện nghiên cứu cho trường Temple.

Chị thường góp ý kiến cho các bài viết của tôi. Đặc biệt là về bài tôi viết về “Kỷ niệm vui buồn với anh chị em thuộc Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội” ở Việt nam trước năm 1975, thì Sophie nói là những bài như thế rất là cần thiết để cho các thế hệ sau này hiểu biết rõ ràng hơn về những cố gắng xây dựng xã hội ở Việt nam ngay trong thời kỳ chiến tranh trước đây nữa.

(Tôi còn có một người bạn cũng có tên là Sophie nữa, đó là chị Sophie Richardson như sẽ ghi ở mục số 8 dưới đây).

3 – Luật sư Dinah Pokempner Cố vấn trưởng của tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch (HRW) ở New York.

Từ năm 1990 – 91, tổ chức HRW đã phân công cho Dinah Pokempner là người phụ trách về hồ sơ của tôi bị giam giữ ở Việt nam từ năm 1990. Vì thế, nên Dinah và tôi rất gắn bó thân thiết với nhau và mỗi khi tôi đến New York thì thường tới gặp gỡ thăm viếng chị tại văn phòng của HRW. Dinah lại còn tham gia giảng dậy tại Đại học Columbia và mới đây vào tháng 3/2015 lúc tôi tham dự Đại hội thường niên của tổ chức Amnesty tại Brooklyn, New York, thì Dinah cũng mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị phụ trách giảng dạy nữa.

Dinah cũng chuyển các bài của tôi viết cho các sinh viên của chị tham khảo vài bữa trước khi lớp học bắt đầu, nên trong lớp học chị còn đặt những câu hỏi và nhờ tôi giải thích chi tiết rõ ràng hơn cho các sinh viên hiểu biết về bối cảnh chính trị văn hóa ở Việt nam. Dinah nhấn mạnh đến quan điểm vững chắc của tôi trong cố gắng góp phần xây dựng luật pháp ở Việt nam – mà cũng vì thế mà tôi bị cộng sản bắt giữ và tuyên án xử phạt tôi 12 năm tù vì tội “tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội” trong phiên xử vào năm 1992 tại Tòa án Sài gòn.

Chị còn nói rõ hơn với sinh viên: Các em cần chú ý ýđến lập trường của luật sư Liêm khi ông viết trong tài liệu từ đầu năm 1990 rằng “Truyền thống nhân bản và nhân ái của Việt nam đã có từ lâu – đó là cơ sở vững chắc cho công cuộc phát huy nhân quyền tại quốc gia này. Chứ quan niệm về nhân quyền không phải chỉ là sản phẩm riêng của phương Tây đề xuất ra…”

Sau buổi thuyết trình, Dinah mời tôi ra quán uống cà phê và nói chuyện thêm. Tôi hỏi Dinah: Sinh viên của chị họ phê phán về tôi ra sao? Dinah vừa nói vừa cười thật tươi rằng: Các em đó gọi anh là một “Rockstar”đấy. Khi về nhà bạn Dick Hughes ở Manhattan, tôi thuật lại chuyện sinh viên ở Columbia của Dinah, họ gọi tôi là rockstar đó, Dick cười ngất, anh nói: Mister Liêm quả thật là nổi danh với chuyện được sinh viên tặng cho cái danh hiệu Rockstar như vậy đó!

Mới đây, chị còn cho tôi biết là đã chuyển bài “My Two Passions” của tôi mà chị rất thích cho các con của chị cùng đọc nữa.

4 – Giáo sư Olga Dror tại Đại học Texas A & M (TAMU)

Olga Dror là người gốc Do Thái sinh trưởng ở Nga. Chị học chuyên về ngôn ngữ và văn hóa Việt nam và đã có thời làm cho đài phát thanh Moscow phần tiếng Việt. Hiện chị làm giáo sư giảng dạy về lịch sử tại Đại học TAMU. Chị là người dịch cuốn sách Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca sang tiếng Anh - cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Đại học Indiana cho ấn hành vào năm 2014 và tôi cũng đã có dịp giới thiệu với bà con độc giả người Việt vào đầu năm 2015 vừa rồi.


Chị cũng là tác giả một cuốn sách nghiên cứu về Công chúa Liễu Hạnh mà được nhà xuất bản Đại học Hawaii ấn hành vào năm 2007. Từ ít lâu nay, Olga chuyên nghiên cứu đối chiếu về giáo dục tại 2 miền Bắc và Nam Việt nam trong thời kỳ chiến tranh 1965 – 1975.

Từ đầu năm 2015 đến nay, tôi thường hay trao đổi thư từ và bài viết với Olga. Cụ thể như khi tôi gửi cho chị loạt bài “Thanh thiếu niên và Công tác xã hội tại miền Nam hồi trước năm 1975”, thì Olga trả lời rằng loạt bài này rất sinh động và góp phần vào việc tìm hiểu tình hình xã hội ở Việt nam trong thời kỳ chiến tranh trước đây.

Phu quân của chị là Keith Taylor, thì cũng là một giáo sư chuyên nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử và văn hóa Việt nam tại đại học danh tiếng Cornell nữa.

5 – Doug Hostetter, Giám đốc văn phòng “MCC Liaison Office with the United Nations” (Văn phòng Liên lạc của MCC với Liên Hiệp Quốc).

Doug từng làm việc thiện nguyện tại Tam Kỳ trong tổ chức MCC hồi trước năm 1968. Sau anh về Mỹ và tham gia tích cực trong phong trào sinh viên chống chiến tranh hồi đầu thập niên 1970. Anh nổi tiếng vì họat động trong nhiều tổ chức tranh đấu xây dựng hòa bình như Fellowship of Reconciliation (FOR). Từ trên 10 năm nay anh là Giám đốc văn phòng của MCC liên lạc với Liên Hiệp Quốc, vì thế lần nào đến New York tôi cũng đến gặp gỡ trao đổi với anh tại văn phòng kế cận với khuôn viên của trụ sở LHQ.

Chúng tôi vẫn thường trao đổi thư từ với nhau qua email. Đặc biệt dịp 30/4 năm 2015, tôi có gửi cho Doug bài viết bằng Anh ngữ về những vụ tàn sát của phe cộng sản Việt nam đối với người thuộc phe quốc gia trong các năm 1945 – 47 lúc họ vừa mới nắm được quyền hành trong tay của mình. Đọc xong, Doug trả lời ngay cho tôi; “Các vụ thảm sát này không hề được phong trào hòa bình (the peace movement) nhắc đến trước đây vào hồi đầu thập niên 1970!”

6 – Trao đổi với anh bạn Danut Manastireanu từ xứ Rumania.

Đây là người bạn mà tôi chưa hề trực tiếp gặp mặt, nhưng từ vài ba năm nay chúng tôi vẫn liên lạc thư từ với nhau qua email. Lý do là anh bạn Danut này hiện vẫn sinh sống tại quê nhà ở nước Rumania bên Đông Âu. Anh thường cho đăng bài của tôi viết bằng tiếng Anh lên Google để nhiều người khắp nơi có thể đọc được nữa. Tôi hy vọng khi qua thăm bà con bên Âu châu, thì sẽ có dịp gặp mặt với anh để hàn huyên tâm sự nhiều.

Anh Danut làm việc cho tổ chức World Vision tại Rumania, nên khá bận rộn với công việc đòi hỏi anh phải di chuyển đi nhiều nơi.

7 - Trao đổi với chị Annette làm việc tại chi nhánh Bưu điện Bolsa, thành phố Westminster, California.

Chị Annette làm việc lâu năm tại Bưu điện Bolsa là nơi mà phần đông bà con người Việt tại khu vực Little Saigon đều biết đến. Mấy năm gần đây, tôi hay gửi cho chị những bài tôi viết bằng tiếng Anh. Có lần sau khi đọc bài viết về chiến tranh Việt Nam, thì Annette đã nói với tôi, đại khái như thế này: “Trước khi được đọc bài viết của anh, thì tôi thật không hề biết là người cộng sản ở Việt nam lại có thể tàn ác đến như thế...” (I didn't know that the communists in Vietnam are so atrocious).

8 – Trao đổi với chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở thủ đô Washington DC.

Từ cuối thập niên 1980, hồi còn rất trẻ Sophie Richardson đã khởi sự tham gia họat động tại Cambodia với các tổ chức phi chính phủ (NGO – Non-Governmental Organisations). Và sau ít lâu thì chị gia nhập với tổ chức HRW và từ 20 năm nay làm việc tại văn phòng của tổ chức này ở Washington DC. Sophie được nhiều bà con người Việt chúng ta biết đến và mến chuộng vì chị thường ra điều trần tại Quốc Hội Mỹ để tố cáo những vi phạm nhân quyền của chính quyền cộng sản Hà nội.

Và mỗi khi tôi đến thành phố này, thì chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò trao đổi thông tin với nhau. Sophie thông thạo tiếng Hoa, luận án thi văn bằng tiến sĩ của chị là về tình hình chính trị ở Trung quốc. Gần đây, Sophie được HRW bố trí phụ trách riêng về tình hình ở Trung quốc.

Có lần, Sophie giải thích cho tôi: “Anh biết không, cái tên Sophie của tôi là từ tiếng Hy lạp có nghĩa là wisdom (minh triết). Tôi rất thích cái tên này do cha mẹ chọn cho tôi đấy...” Tôi bèn trả lời: “Chị cũng biết đấy, tên của tôi là Thanh Liêm có nghĩa là Honesty. Nhưng các bạn quen biết lại còn gọi tôi là một philosopher nữa. Như vậy, thì giữa Sophie và tôi có sự liên hệ mật thiết đấy nhỉ...” Sophie hiểu ngay ý nghĩa khôi hài của tôi và cười thật tươi.

Gần đây, sau khi đọc bài “My Two Passions” của tôi, Sophie trả lời ngay qua email: “Rất cảm ơn anh đã chia sẻ bài viết này với tôi. Ví chính tôi cũng có 2 niềm say mê giống như anh vậy – đó là sách báo và bạn hữu”.

9 – Trao đổi với các bạn trong nhiều cuộc gặp gỡ khác.

Tôi tham gia sinh họat với tổ chức Amnesty International tại Mỹ từ nhiều năm nay, ở cả 3 cấp bậc: - Họp thường xuyên hàng tháng tại địa phương gọi là local group số 178 ở thành phố Irvine - cấp miền gồm các tiểu bang khu vực miền Tây nước Mỹ gọi là Western Regional họp mỗi năm vào tháng 11 - và cấp tòan quốc trong các Đại hội Thường niên họp vào tháng 3 gọi là Annual General Meeting (AGM). Vì thế mà tôi có cơ hội gặp gỡ trao đổi thân mật với rất nhiều bạn hữu từ nhiều quốc gia khác nhau mà lại có cùng một chí hướng theo đuổi lý tưởng bảo vệ nhân quyền.

Số bạn này quá đông, tôi không thể nào kể ra hết danh tính của từng người trong số cả ngàn các bạn đó được. Thường tôi chuyển một số bài mình viết cho các bạn ấy đọc và rất nhiều bạn đã gửi phản hồi tích cực lại cho tôi. Đó là cái duyên quen biết gắn bó lâu dài của tôi với các bạn trong khuôn khổ đại gia đình của tổ chức Ân Xá Quốc Tế đó vậy.

Cũng tương tự như thế, qua nhiều cuộc hội thảo nơi các đại học tại những tiểu bang thuôc khu vực miền Đông nước Mỹ, tôi cũng có thêm sự quen biết gần gũi với khá nhiều các bạn khác nữa. Và chúng tôi đều có những trao đổi thân tình thuận thảo với nhau trong tinh thần nhân bản tiến bộ và tương kính. Đối với tôi, thì rõ ràng những cuộc gặp gỡ trao đổi gắn bó thân thiết với các bạn người Mỹ cũng như với những bạn hữu quốc tế như thế - đó là một phương cách thuận lợi để mình hội nhập êm thắm nhịp nhàng vào với dòng chính của xã hội nước Mỹ - là nơi mà một số khá đông lên đến gần 2 triệu người Việt chúng ta đã chọn lựa đi đến sinh sống lập nghiệp lâu dài kể từ sau năm 1975 vậy.

Nói chung, thì với chiều hướng tòan cầu hóa về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội cũng như văn hóa tinh thần - con người ngày nay có sự tôn trọng, thông cảm và liên đới gắn bó mật thiết với nhau mỗi ngày càng thêm bền chặt hơn. Và đó là điều giúp chúng ta có được sự tin tưởng và niềm phấn khởi cho tương lai sắp tới của nhân lọai trong thế kỷ XXI này vậy./

Westminster California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
Sau sáu tháng ẩn náu, ông Peter Mandelson, một chính khách kỳ cựu, đã bị cảnh sát còng tay, đưa ra khỏi ngôi nhà thuê ở vùng nông thôn thuộc một thung lũng đẹp như tranh vẽ ở Wiltshire, cách London khoảng 100 dặm về phía Tây. Tính đến Thứ Hai 23/2, Peter Mandelson là cái tên mới nhất, ngoài nước Mỹ, bị bắt giữ vì liên quan đến vụ án xuyên thế kỷ Jeffrey Epstein. Trước đó, là vụ bắt giữ cựu hoàng tử Anh quốc Andrew Mountbatten-Windsor. Dù đã được thả, nhưng vụ bắt một cựu hoàng gia của vương quốc sương mù cũng đủ gây chấn động thế giới, làm cho những người tin vào pháp luật phải giật mình tự hỏi, cán cân công lý của Mỹ đang ở nơi đâu?
Chiều mùng Hai Tết, cả bọn chúng tôi hẹn nhau ở quán Qua. Một người bạn bảo, Qua là cho qua đi mọi phiền hà rắc rối của năm cũ để đón năm mới nhẹ đầu hơn; một người khác lại nói, Qua nghe như nước, mà nước chảy vào nhà thì cả năm may mắn. Giữa tiếng chén đũa và tiếng cụng ly, chúng tôi chúc nhau những điều quen thuộc: vui, khỏe, thành đạt. Nhưng năm nay, hầu như ai cũng kèm thêm hai chữ “bình an” – không phải theo nghĩa tâm linh, mà như một tấm bùa để tránh rắc rối. Mấy chị bạn thân, lâu nay vẫn âm thầm bấm like bài tôi viết, lần này nói thẳng: “Năm nay bớt viết mấy chuyện chính trị lại đi em, nguy hiểm lắm. Thời buổi này không đơn giản đâu.” Các bạn không hỏi tôi nghĩ gì; họ chỉ quan tâm liệu tôi có còn an toàn không khi vẫn đều đặn lên tiếng, vẫn gọi đích danh những điều đang xảy ra ở Hoa Kỳ mà nhiều người chọn lướt qua cho nhẹ đầu. Câu chúc “bình an”, trong không khí Tết, bỗng như một lời nhắc nhở: hãy coi chừng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.