Hôm nay,  

Hiệu Ứng Trung Quốc

15/01/201600:00:00(Xem: 8037)

...vấn đề sẽ là những chấn động chính trị từ Á sang Âu.

Vụ cổ phiếu Trung Quốc bị rớt giá trong mấy ngày đầu năm thật ra không đáng ngại bằng nhiều dấu hiệu suy thoái khác của nền kinh tế có sản lượng đứng hạng nhì. Nếu kinh tế xứ này suy sụp dần trong những năm tới thì hậu quả sẽ ra sao cho thế giới? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về hiệu ứng đó qua phần trao đổi với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam dẫn vào chuyện….

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nghĩa. Tuần trước, ông trình bày một vòng chân trời về những gập ghềnh của thế giới trong năm 2016. Tuần này chúng tôi xin đề nghị ông tập trung vào hoàn cảnh Trung Quốc với nhiều dấu hiệu trì trệ ngày càng rõ nét, nổi bật là vụ cổ phiếu sụt giá mạnh trong những ngày đầu năm khiến các thị trường tài chính đều bị chấn động. Nếu kinh tế Trung Quốc đi vào chu kỳ sa sút, như ông đã dự báo nhiều lần và khá sớm, thưa ông, tình hình sẽ ra sao cho các nền kinh tế khác?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ khởi sự với vụ sụt giá cổ phiếu Trung Quốc làm thiên hạ hốt hoảng. Thị trường chứng khoán xứ này mất giá hơn 16% trong có mươi ngày đầu năm nên lôi kéo sự chú ý của các nước, không vì ảnh hưởng tài chính mà vể khả năng ứng xứ rất kém của các cơ quan hữu trách.

- Ảnh hưởng tài chính của vụ chứng khoán sụt giá tại Trung Quốc là yếu tố không đáng kể cho thế giới vì thị trường này vận hành khác và trị giá không nhiều, nếu như có tính ra được kết giá thị trường của các cổ phiểu. Thị trường chứng khoán Trung Quốc không là nơi huy động vốn kinh doanh và cổ phiếu bán ra không cho giới đầu đầu tư quyền tham gia quản lý hay kiểm soát tình hình kinh doanh. Đấy là sòng bạc cho giới đầu cơ muốn có lời mau nên dễ bị lỗ nặng thôi!

- Sau mấy ngày hốt hoảng, thế giới sở dĩ theo dõi thị trường chứng khoán xứ này vì thấy ra vài sự thật. Người ta tưởng Bắc Kinh có viễn kiến lâu dài, làm gì cũng tính toán và có phản ứng đồng bộ dưới sự lãnh đạo tập trung nay càng tập trung hơn. Sự thật thì các cơ quan hữu trách lại thiếu phối hợp, lấy quyết định chủ quan duy ý chí - như đặt ra cầu chì cho cháy để đóng cửa giao dịch nếu giá sụt 5% rồi lại thu hồi sau bốn ngày áp dụng vì gây phản tác dụng. Họ can thiệp vào thị trường ngoại hối mà chẳng có khả năng và thiếu thông tin mạch lạc cho thị trường, rồi sau đó còn đổ lỗi cho người khác. Chính khả năng quản lý kém cỏi này mới gây lo ngại khi kinh tế đi vào chu kỳ suy thoái.

Nguyên Lam: Thưa ông, đâu là những dấu hiệu của sự suy thoái sắp tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhẹ nhất, đơn đặt hàng chế biến qua chỉ số PMI của CaiXin sa sút liên tục 10 tháng liền và nhà cầm quyền hạ lãi suất hoặc lại bơm tiền vào kinh tế. Nhiều nơi nói đến nhu cầu bơm ra gần sáu ngàn tỷ đô la nếu muốn kích thích sản xuất như vào năm 2009. Nhưng bơm bao nhiêu và trong bao lâu mới đủ khi núi nợ chất đống đã có thể sụp đổ nay mai?

- Một chỉ dấu khác, năm qua dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc mất một ngạch số tương đương với 513 tỷ đô la và riêng trong Tháng 12 thì mất 108 tỷ, tức là mỗi ngày mất ba tỷ sáu! Tháng Chín vừa qua, chúng ta cũng nhắc đến sự kiện này qua bài “Nếu Bắc Kinh Xuất Khẩu “Đạn?” với ý nghĩa là họ dùng ngoại tệ dự trữ như một võ khí, một loại quyền lực mềm. Điều đáng chú ý là hôm mùng bảy vừa qua, Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh đã lần đầu tiên xác nhận chuyện dự trữ hao hụt. Ta phải kết luận là Trung Quốc đang trôi vào chu kỳ suy thoái có thể kéo dài cả chục năm, với hậu qủa bất lường cho mọi người, kể cả lãnh đạo Bắc Kinh nên họ đang có biện pháp đàn áp để ngừa trước.

- Đấy là loại chỉ dấu “phi kinh tế”, như có thái độ hung hăng bất thường về quân sự để chứng tỏ niềm tự tin với quốc tế, hoặc truy tố và bắt cóc hàng loạt đảng viên, doanh gia và nhà báo, hay Chủ tịch Tập Cận Bình có bài diễn văn phê phán quân đội vào dịp cuối năm, là điều chưa từng thấy từ thời Mao….

Nguyên Lam: Ông vừa nói về loại hậu quả bất lường cho lãnh đạo Bắc Kinh, có lẽ vì đặc tính độc tài toàn trị của chế độ. Nhưung với thế giới bên ngoài thì người ta có thể ước tính được những hiệu ứng về kinh tế trong luồng giao dịch toàn cầu, thưa ông, hiệu ứng đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đề nghị là ta nhìn trên toàn cảnh trước khi đi vào mạng lưới giao dịch của các nước với nền kinh tế Trung Quốc.

- Trước hết, thế giới đang sử dụng hai mặt hàng phổ biến có ảnh hưởng toàn cầu là đô la và dầu thô. Người ta quá chú ý đến việc đồng bạc Trung Quốc mất giá nên càng thúc đẩy nạn tẩu tán tư bản. Thật ra, hệ quả trực tiếp của sự kiện này là Mỹ kim lên giá và càng đánh sụt giá thương phẩm. Thí dụ dễ hiểu là doanh nghiệp và khách nợ Trung Quốc sẽ phải bán đồng Nguyên mất giá để mua vào Mỹ kim để đầu tư hay trả nợ. Thứ hai, nói về thương phẩm thì kinh tế Trung Quốc đói ăn và khát dầu, ăn thì khó nhịn chứ dầu khí cho sản xuất sẽ giảm khi sản lượng giảm. Số cầu sút giảm này càng khiến dầu thô sụt giá mạnh năm nay, kéo theo nhiều loại thương phẩm như nguyên nhiên vật liệu và cả nông sản.

Nguyên Lam: Sau khi ông nhắc tới hai mặt hàng có tác dụng chuyển lực từ thị trường này qua thị trường khác là đô la Mỹ và dầu thô đang sụt tới mức đáng ngại và còn có thể sụt nữa, Nguyên Lam xin đề nghị ông nói về hiệu ướng qua mạng lưới giao dịch giữa các nước với Trung Quốc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ 20 năm nay, thế giới cứ sai lầm ngợi ca phép lạ kinh tế Trung Quốc như đã sai lầm và bị bất ngờ về sự kỳ diệu Nhật Bản sau khi Nhật bị suy thoái từ năm 1991. Trong khi ấy, dấu hiệu sa sút của Trung Quốc đã rõ rệt từ năm 2014, cũng là năm dự trữ ngoại tệ xứ này hết tăng mà giảm. Thành thử, các nước bắt đầu đối diện với hiệu ứng suy thoái của Tầu, mà thật ra chưa tìm ra giải pháp thay thế khi ba đầu máy kinh tế mạnh nhất là Âu, Mỹ, Nhật vẫn chưa phục hồi. Bây giờ thì tính nhẩm ta mới thấy quốc gia nào lệ thuộc nhiều nhất vào xuất khẩu sẽ bị hiệu ứng nặng nhất và càng làm giàu vì bán hàng cho Tầu thì lại càng vất vả. Thí dụ hàng đầu là Nam Hàn, Đức, Malaysia hay Saudi Arabia. Đấy là nói chung.

- Đi vào chi tiết thì có mươi nước xuất khẩu nhiều nhất vào Trung Quốc. Theo thứ tự là Nam Hàn, Nhật, Mỹ, Đài Loan, Đức, Úc, Malaysia, Brazil, Saudi Arabia, Nam Phi và Nga. Trong các bạn hàng sẽ lâm nạn khi kinh tế Trung Quốc suy thoái thì ta còn phân biệt loại quốc gia bán thương phẩm là nguyên nhiên vật liệu, kim loại hay nông sản như đậu nành, với loại quốc gia bán hàng công nghiệp chế biến, linh kiện điện tử hay thiết bị cao cấp. Loại bán hàng sơ đẳng thì có Úc, Brazil, Saudi, Nam Phi, Nga và sẽ bị hai lần họa là dầu thô cùng thương phẩm đều sụt giá. Loại bán hàng cao cấp là Nam Hàn, Nhật, Mỹ, Đài Loan và Đức thì tương đối bị nhẹ hơn. Nhẹ nhất và đây là chi tiết lạ, chính là Mỹ và Nhật vì kinh tế thật ra ít lệ thuộc vào xuất khẩu với tỷ trọng xuất khẩu chỉ chiếm 13,5% và 16% mà thôi.

- Có bị nhẹ hơn Úc hay Nam Hàn thì hoàn cảnh của Đức cũng đáng chú ý. Kinh tế xứ này là đầu máy của khối Âu Châu và dù Đức chỉ bán cho Tầu chưa đầy 7% của tổng số xuất khẩu của mình, thị trường Trung Quốc lại ảnh hưởng lớn đến kỹ nghệ xe hơi và phụ tùng xe hơi của Đức và từ đó chi phối cả chuỗi cung ứng của nhiều nước Âu Châu khác. Vì vậy, hiệu ứng Trung Quốc sẽ gây bất lợi cho cả Âu Châu, và bất lợi hơn là cho Hoa Kỳ hay Nhật Bản.

Nguyên Lam: Quả thật là nếu nhìn ra quan hệ chằng chịt của việc mua bán giữa các nước thì ta mới ước tính được hậu quả gần như toàn cầu của sự sa sút kinh tế tại Trung Quốc. Thưa ông, tuần qua khi vụ sụt giá chứng khoán bên Tầu gây chấn động thì tỷ phú Georges Soros báo động rằng thế giới có thể lại bị khủng hoảng như đã từng bị vào năm 2008. Vì ông Soros từng là nhà đầu tư nổi tiếng từ mấy chục năm qua với những thành tích tiên báo khá chính xác, ông Nghĩa nghĩ sao về lời cảnh báo này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng sự thể sẽ còn tệ hơn vậy, nhất là cho Trung Quốc! Trên diễn đàn này, mỗi khi nói đến việc lượng định tình hình, tôi cứ trở lại vụ khủng hoảng năm 2008 với hậu quả là nạn Tổng suy trầm 2008-2009. Thật ra thế giới chưa ra khỏi biến động từ đầu nguồn là 2008.

- Hoa Kỳ là một điển hình với các nhược điểm chưa giải quyết được từ đó và nếu có phục hồi thì cũng chỉ là tương đối mà thôi. Âu Châu là thí dụ rõ rệt hơn với vụ khủng hoảng của đồng Euro từ đó đến nay vẫn còn hoành hành. Thí dụ thứ ba chính là Trung Quốc. Khi khủng hoảng bùng nổ, Bắc Kinh lập tức tăng chi khoảng 586 tỷ đô la và ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế vậy mà sản lượng không tăng và lại chất lên một núi nợ rất cao trong khoảng thời gian rất ngắn và từ năm 2014, bắt đầu sa sút. Ngay Việt Nam hay nhiều nước đang phát triển cũng thế, từ năm 2008 đã vay mượn và bị bội chi ngân sách nặng hơn xưa, mà có vẻ như chưa thấy là tình hình nguy ngập!

Nguyên Lam: Nếu như vậy, phải chăng là từ vụ khủng hoảng 2008, thế giới đang bị nhồi thêm vào một biến động khác là hiệu ứng từ Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ biến động tài chánh 2008, thế giới rơi vào trạng thái hỗn loạn cộng hưởng bao trùm lên các lĩnh vực xã hội, kinh tế, chính trị và cả an ninh. Đấy là hiện tượng “khủng hoảng niềm tin” chứ không chỉ là khủng hoảng kinh tế. Nó manh nha từ năm 2013 và ngày nay kết tụ vào Âu Châu rồi Trung Quốc. Các nước Âu Châu có tinh thần dân chủ và lý tưởng hòa giải mà còn bị nguy cơ phân hóa, huống hồ Trung Quốc là một khu vực quá rộng lớn với những khác biệt rất khó dung hòa?

- Kết luận ở đây có lẽ mở rộng ra ngoài lĩnh vực kinh tế, là hiện tượng cơ năng rời rạc của hệ thống chính trị Trung Quốc, cứ tưởng như có toàn quyền quyết định với khả năng điều hợp rất cao của một chế độ độc tài. Sự thật như đã thấy trong vụ sụt giá cổ phiếu vừa qua và sẽ thấy trong chu kỳ suy thoái của mấy năm tới, là hệ thống kinh tế chính trị này không thể giải quyết các bài toán quá phức tạp của một thị trường toàn cầu, vận hành với tốc độ cao. Lãnh đạo Bắc Kinh có lên giọng uy hiếp các nước khác thì vẫn khó ứng xử với quá nhiều sức ly tâm ở bên trong. Cho nên vấn đề không chỉ là suy trầm toàn cầu vì hiệu ứng Trung Quốc, vấn đề sẽ là những chấn động chính trị từ Á sang Âu.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.