Hôm nay,  

Vui Buồn Với Viện Đại Học Huế

05/02/201600:00:00(Xem: 10537)
blank
Tháng 8 – 2015 vừa qua, các cựu sinh viên, giáo sư thuộc Viện Đại học Huế trước năm 1975 đã hội họp thăm viếng nhau tại Little Saigon, California để cùng nhớ lại một thời làm việc tại ngôi trường Đại học nằm êm ả bên bờ sông Hương của cố đô Huế.

Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, nguyên Phụ tá Viện trưởng đặc trách ngoại vụ là Trưởng Ban Tổ chức. Buổi họp mặt có hơn 300 cựu sinh viên, nhân viên, giáo sư các khoa và cựu Viện trưởng, giáo sư Lê Thanh Minh Châu tham dự.

Quý vị trong Ban Tổ chức sau đó định thực hiện một Đặc San ghi lại những vui buồn với Viện Đại học Huế, và có mời tôi đóng góp.

Đại học Huế đối với tôi thật lạ mà cũng thật quen. Khi tôi rời Huế vào Saigòn theo học lớp cán sự vô tuyến điện, rồi năm sau - 1955- vào trường đào tạo Kỹ sư cơ khí Hải quân tại Pháp thì Đại học Huế chưa ra đời. Cuối năm 1957 khi tôi trở về thì biết Viện Đại học Huế đã được tổng thống Ngô Đình Diệm khai sinh bằng một nghị định thành lập vào Tháng Ba. Nghe tin thấy mát lòng và thích thú như mẹ vừa sinh cho mình một đứa em gái.

Tôi cảm thấy vinh dự vì miền quê nhỏ bé của mình, nơi tôi đã sinh ra, lớn lên, trải qua những năm học trường làng, trường tiểu học rồi vào trường Trung học Khải Định - đi học với chiếc tơi cá và đôi guốc gỗ nghèo nàn - như xứ Huế vẫn nghèo nàn – bây giờ đã có một Viện Dại học uy nghi.

Khi tôi về nước Viện Đại học Huế đã có 5 phân khoa: Sư phạm, Văn khoa, Luật khoa, Hán học, và Khoa học. Trong niên khóa đầu có 358 sinh viên. Đến năm 1960-1 sĩ số nhanh chóng tăng lên 1431 sinh viên. Năm 1959 mở thêm chương trình dự bị y khoa.

Tôi theo dõi sự trưởng thành của Viện Đại học Huế như theo dõi sức khỏe của một cô em. Tôi nghĩ rằng theo binh nghiệp nay đây mai đó trên sông ngòi và biển cả chắc không có cơ hội nào gần gũi cô em gái thân thương.

Thế nhưng có duyên thì tới. Năm 1970 khi tôi đang làm giảng viên tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang thì giáo sư Nguyễn Văn Hai, khoa trưởng Phân khoa Khoa học thuộc đại học Huế mở thêm các môn học về Tạo tác, Thủy lợi cho sinh viên khoa học và cần giảng viên các môn kỹ thuật. Thầy mời tôi làm giảng viên bán thời hai môn: Nhiệt Động học và Điện Lý thuyết cho lớp Tạo Tác và Thủy Lợi. Lúc thầy mời tôi do dự nghĩ mình chưa đủ tư cách dạy đại học. Nhưng thầy Hai nhấn mạnh thầy cần giáo sư có khả năng kỹ thuật, và môn Nhiệt động học hiện nay không có ai phụ trách. Nhiệt động học (Thermodynamics) là môn nghiên cứu về khả năng biến nhiệt thành lực và là lý thuyết căn bản để hiểu sự vận hành và chế tạo các loại máy nhiệt-động như máy chạy xăng, máy chạy bằng diesel, tur-bin hơi nước, máy phản lực của máy bay v.v… và đó là môn học chính trong chương trình đào tạo một kỹ sư cơ khí Hải quân.

Thầy Nguyễn Văn Hai là giáo sư Lý Hóa của tôi năm đệ tam (niên khóa 1952-1953) tại trường Khải Định. Lúc đó thầy vừa dạy vừa tự luyện để hoàn tất văn bằng Cử nhân Giáo khoa Khoa học. Tôi có thói học trước trong sách giáo khoa chương trình Pháp cũng là sách thầy dùng để gỉảng bài cho chúng tôi nên thầy trò rất tương đắc.

Tôi có duyên với thầy Hai. Năm 1956 nhân kỳ nghĩ lễ Phục sinh, bạn trung học Lưu Văn Thăng đang học tại trường Không quân ở Salon, Provence ở miền nam nước Pháp và tôi hẹn gặp nhau ở Paris. Hồi đó cái thú của sinh viên Việt Nam ở Paris ngoài việc đi thăm các thắng cảnh của thủ đô hoa lệ là thú đi ăn cơm Việt ở những tiệm ăn còn rất hiếm hoi. Một hôm tôi và Thăng đang ăn cơm ở một tiệm cơm Việt ở quận 5, cạnh trường đại học Sorbonne và đang nói về thầy Hai mà tôi nghe tin thời gian đó cũng đang ở Paris. Thì kìa, cửa tiệm ăn sịch mở và thầy Hai bước vào. Hú vía, hai đứa nhìn nhau không biết có nói lén gì Thầy không?

Lúc Viện thành lập, khách sạn Morin ở số 2 đường Duy Tân (nay là Khách sạn Sài Gòn Morin ở ngã tư Hùng Vương - Lê Lợi), cạnh chân cầu Trường Tiền đã được chọn làm trụ sở cho 3 trường là Đại học Khoa học, Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm. Đến năm 1964 trường Đại học Sư phạm xây dựng xong cơ sở 32 - 34 Lê Lợi và dời về đó, nên ở khu Morin chỉ còn hai trường Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa.

Các lớp Tạo Tác – Thủy Lợi thuộc Khoa học đại học học trong vòng thành khách sạn Morin, đi vào bằng cửa sau, mỗi lớp chừng 30 sinh viên. Trong hai niên khóa 1970-71 và 1971-72 mỗi năm tôi về thỉnh giảng 3 lần, mỗi lần 5 ngày. Nhờ ở trong ban giảng huấn của trường Sĩ quan Hải quân tôi được sự rộng rãi của vị Chỉ huy trưởng trong việc đi lại khỏi đơn vị. Hãng vận tải hàng không Air Việt Nam không có đường bay Nha Trang – Huế. Phòng lo di chuyển của Đại học Huế gởi vé máy bay Nha-Trang-Sài gòn-Huế cho tôi. Từ Sài gòn tôi hay đi cùng chuyến bay với các giáo sư thỉnh giảng khác như giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, bác sĩ Bùi Duy Tâm, Kiến trúc sư Tôn Thất Cảnh… Ở Huế chúng tôi được đại học Huế sắp xếp tạm trú tại nhà khách dành cho các giáo sư thỉnh giảng. Cơm nước ngày ba lần do hai vợ chồng bác Bỉnh phụ trách. Thực đơn cơm trưa và tối hai bác luôn thay đổi thật ngon miệng nhưng tôi không nhớ nổi là những món gì. Nhưng buổi sáng thì không quên được. Ngày nào cũng như ngày nào. Cơm Tây: bánh mì, trứng gà ốp la (oeuf sur plat), xì dầu hảo hạng và cà phê lọc rỉ rả.


Thời gian chờ mấy giọt cà phê rơi tôi được nghe những câu chuyện của bác sĩ Bùi Duy Tâm và giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Giáo sư Huy lúc đó là một trong những nhân vật lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến thường nói chuyện chính trị. Nhưng bác sĩ Tâm lúc đó giữ chức vụ Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế thì thuần nói đến chương trình cải tổ ngành y ông ấp ủ. Thời gian này vừa sau trận Mậu Thân, các bác sĩ Đức bị giết, các bác sĩ Việt rút về Sài gòn chỉ ra thỉnh giảng. Và sự đóng góp của bác sĩ Tâm để giữ cho Đại học Y khoa Huế còn thoi thóp hoạt động thật là lớn lao mặc dù vì công việc khác ông cũng không thường trú tại Huế. Ông đã có dịp thực hiện các hoài bảo của ông là tiếp tay đào tạo nên một lớp bác sĩ đầy đủ kiến thức y khoa Đông – Tây với khả năng chuyên môn phong phú phục vụ sức khỏe cho đồng bào và quân đội trên mọi nẽo đường đất nước. Nói đến đại học Huế nhất là trường Y khoa mà không nhắc đến bác sĩ Bùi Duy Tâm thì không khác gì nói đến trận Điện Biên Phủ mà không nói đến ông tướng Võ Nguyên Giáp, câu chuyện trở nên nhếch nhác như một đám cưới không có cô dâu. Tôi thích những câu chuyện dí dõm của bác sĩ Tâm và những ý tưởng luôn khác người và lập dị của ông. Tính lập dị của bác sĩ Bùi Duy Tâm đã tạo nên nhiều hiểu lầm đáng tiếc về lập trường chính trị của ông.

Khu tạm trú của giáo sư thỉnh giảng nằm trong khu cư xá giáo sư đại học bên bờ sông An cựu góc cầu ga trên đường Lê Lợi. Bên kia là khu hành chánh của Viện Đại học. Thời Pháp thuộc cho đến năm 1947 Viện là Ty Công chánh Thừa Thiên. Dưới thời quốc trưởng Bảo Đại từ 1949, ông Phan Văn Giáo làm thủ hiến Trung phần nơi này là trung tâm hành chánh của phủ thủ hiến. Đây là nơi năm 1950, một người Đức thuộc đoàn quân Lê Dương của Pháp bị Việt Minh bắt, sau theo Cộng được bố trí về ám sát ông Gíáo. May ông Giáo hôm đó không có mặt ở văn phòng, ông Hà Văn Lan, phó thủ hiến tiếp khách thay bị bắn chết tại chỗ. Trớ trêu của cuộc chiến “nồi da xáo thịt” lúc đó ông Thiếu Tá Hà Văn Lâu, em ruột ông Lan đang chỉ huy một Tiểu đoàn Việt Minh đánh nhau với quân đội Pháp trên con đường từ Quảng Trị dẫn vào Huế, những trận đánh một ký giả Pháp ông Bernard Fall đã ghi laị trong cuốn sách nổi tiếng “La Rue Sans Joie” (Con Đường Không Vui) của ông. Tiếp tục phóng sự chiến trường, ông Bernard Fall đã đạp mìn chết trên con đường đó.

Hằng ngày theo lịch trình bác Chương tài xế đưa đón đi về đều đặn. Thường là những đoạn đường ngắn, bác Chương ít nói chăm chú công việc đúng giờ đúng giấc nên các giáo sư thỉnh giảng ai cũng mến bác. Chỉ có một lần trời xấu máy bay không đáp được xuống sân bay Phú Bài, bác Chương lái xe đưa cả đòan giáo sư thỉnh giảng vào Đà Nẵng đáp máy bay trở về Saigòn. Vào mùa gió Đông Bắc, bầu trời phía bắc đèo Hải Vân mây phủ, nhưng sau khi vượt qua đỉnh đèo thì trước mắt bầu trời xứ Quảng tạnh ráo sáng trưng. Qua đoạn đường dài bác Chương kể chuyện đại học Huế và trong câu chuyện tôi chỉ còn nhớ bác rất tự hào miền Trung “của bác, của tôi,” đã có một đại học.

Vào năm 1981, tại hải ngoại giáo sư Nguyễn Thanh Trang đang giữ chức vụ “Senior Manager” cho công ty Broadway Department Store ở Los Angeles có sáng kiến thành lập Hội Thân hữu Đại học Huế. Một buổi họp gồm 40 cựu giáo sư gồm ông bà Viện Trưởng Lê Thanh Minh Châu, ông bà giáo sư Lê Văn cựu Khoa trưởng Sư phạm Huế, giáo sư Âu Ngọc Hồ, và nhiều giáo sư khác tham dự được triệu tập tại thành phố Mission Viejo và Hội Thân Hữu Đại Học Huế đã được thành lập. Giáo sư Nguyễn Thanh Trang là vị Chủ tịch đầu tiên. Tôi được tham dự sinh hoạt với hội qua các kỳ họp năm 1982, và năm 1983. Kỳ họp năm 1982 có linh mục Cao Văn Luận, vị viện trưởng sáng lập Viện tham dự.

Năm 1984, giáo sư Âu Ngọc Hồ làm chủ tịch hội thay giáo sư Nguyễn Thanh Trang. Sau đó vì những lý do ngoài ý muốn hội gần như ngưng hoạt động … cho mãi đến gần đây nhờ sinh hoạt hằng năm của các cựu sinh viên Y khoa Huế, Hội lại tái hoạt động.

Đối với tôi còn một kỷ niệm không trọn vẹn với Đại học Huế đáng ghi nhớ. Năm 1999 tôi về thăm Việt Nam lần đầu tiên. Một người cháu rể làm việc tại Ty Thể Thao cho biết nhiều sinh viên lớp Xây Dựng & Tạo Tác tôi dạy hiện đang là những cán bộ then chốt tại các Ty Công Chánh, Kiến Thiết … của thành phố Huế ngỏ ý tổ chức một buổi hội ngộ thầy trò gặp nhau. Vì một lý do nào đó buổi hội ngộ bất thành, nhưng tôi không bao giờ quên cái tình nghĩa trong đẹp đó.

Những kỷ niệm vui buồn của tôi đối với Đại học Huế là vậy. Dù chỉ là khách thoáng qua, nhưng ấn tượng thì không bao giờ phai mờ.

Trần Văn Sơn
(bút hiệu: Trần Bình Nam)
Feb. 4,, 2016
[email protected]
www.tranbinhnam.com

Ý kiến bạn đọc
05/02/201622:32:20
Khách
" Nói đến đại học Huế nhất là trường Y khoa mà không nhắc đến bác sĩ Bùi Duy Tâm thì không khác gì nói đến trận Điện Biên Phủ mà không nói đến ông tướng Võ Nguyên Giáp." Ông này vô duyên tệ, việc giìmầpải so sánh với trận Điện Biên Phủ và Võ Nguyên Giáp ở đây?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.