Hôm nay,  

Hiệu Ứng Giá Dầu

10/02/201600:00:00(Xem: 9870)
...bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị.

Dầu thô là sản phẩm chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng. Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như ta làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược với dầu thô dư thừ và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một giác độ khác.

- Thứ nhất, cuộc cách mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm. Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới, và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. Thứ tư, cùng cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy, ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con số đơn giản để mình cùng tính.

- Từ giữa năm 2014 thì giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%. Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn 700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng 120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ, bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra, nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy, chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về hậu quả.

Nguyên Lam: Ông nói đến khái niệm hay phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó, quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội. Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.

Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty không giảm mức sản xuất để hãm số cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014, tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi hoặc Venezuela.

- Sang câu hỏi vì sao nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm đầu trả nợ dù có bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi là trăm năm mới thấy một lần. Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm trước mà còn bị nguy cơ tan rã.

- Cũng về hiệu ứng của giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưởi đến ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga và các doanh nghiệp Mỹ.

Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh tế Trung Quốc được lợi những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua giàu được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi tuần lại có một tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ hao hụt bình quân chừng hơn 100 triệu đô la - trong năm nay có thể mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.