Hôm nay,  

Kinh Tế Và Bầu Cử

16/02/201600:00:00(Xem: 8984)

...Kinh tế TC thật là đang đi vào khủng hoảng nặng...

Chỉ số Dow Jones trong 6 tuần lễ đầu năm nay đã rớt xấp xỉ 3.000 điểm, tức là hơn 10%. Mà chưa ai thấy được ánh sáng cuối đường hầm.

Lịch sử đang tái diễn?

Năm 2008, khủng hoảng kinh tế trong đúng năm bầu cử, bảo đảm đảng CH đương quyền thất bại. Năm 2016, lại một khủng hoảng kinh tế, sẽ bảo đảm đảng DC đương quyền cũng thất bại nữa?

Trong tất cả các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ, có một yếu tố cực kỳ quan trọng có tác động lớn trên quyết định bỏ phiếu của người dân: đó là tình trạng kinh tế. Dù quan trọng nhưng lại cũng là vấn đề ít người hiểu rõ nhất.

Nhìn vào cuộc bầu cử năm 2008, ta thấy ngay ví dụ cụ thể nhất. Năm đó là năm kinh tế Mỹ đi vào chu kỳ khó khăn, khủng hoảng nặng. Xẩy ra cuối trào của một tổng thống CH, khiến ứng viên CH thua nặng. CH mất Toà Bạch Ốc, Hạ Viện và Thượng Viện luôn.

Khác với kinh tế xã hội chủ nghiã hay cộng sản, kinh tế tư bản Mỹ luôn luôn bị chi phối bởi chu kỳ, tăng trưởng rồi trì trệ, rồi tăng trưởng lại, v.v… do ảnh hưởng cung cầu tự điều chỉnh.

Đại cương, theo các chuyên gia, chu kỳ kinh tế Mỹ thường kéo dài khoảng 5-7 năm.

TT Bush nhậm chức đầu năm 2001, đúng lúc khủng hoảng dot.com, tức là bong bóng chỉ số các công ty công nghệ cao xì hơi. Trong những năm trước đó, cả ngàn công ty về điện toán, internet,... ra đời, thành công ngoài sức tưởng tượng, trị giá cổ phiếu tăng hằng ngày, cho ra đời cả ngàn triệu phú. Cả triệu người dân bình thường, chẳng hiểu mô tê gì về tài chánh, nhưng thấy chơi cổ phiếu hái ra tiền quá dễ, nhào vào mua cổ phiếu như mua vé số hay đánh số đề, chẳng cần biết công ty mạnh hay yếu. Mà lại đánh đâu trúng đó.

Dù sao thì tình trạng bất thường mua cổ phiếu như mua vé số đó dĩ nhiên không thể kéo dài vĩnh viễn. Sẽ phải tự điều chỉnh. Đưa đến khủng hoảng gọi là dot.com, đánh rớt các chỉ số chứng khoán Dow Jones và Nasdaq xuống khoảng 40%-50%, đe dọa gây suy trầm kinh tế nặng. TT Bush năm 2001 ban hành ngay luật giảm thuế đồng loạt. Kinh tế phục hồi lại mau lẹ ngay từ năm 2002, nhất là sau 2003 là năm ban hành biện pháp giảm thuế đợt hai. Ít người biết đã trải qua một khủng hoảng lớn, ngoại trừ những người chơi cổ phiếu bị thua đậm. Bắt đầu từ cuối 2007, kinh tế lận đận lại. Đã vậy còn bị bồi thêm hậu quả của mấy chục năm lạm dụng nợ mua nhà của cả nước, đưa đến khủng hoảng lớn cuối năm 2008, hai tháng trước ngày bầu cử.

Ở đây, có điểm nhiều người vẫn còn mộng du, cho rằng thời đại Clinton là thời đại vàng son cực thịnh của kinh tế, đã mang lại thặng dư ngân sách trước khi ông cao bồi Bush phá tan hết rồi lại còn tạo ra khủng hoảng lớn nhất thế kỷ. Việc Bush tạo ra khủng hoảng đã được bàn quá nhiều, bây giờ nói chuyện về ngân sách. Ngân sách trong hai nhiệm kỳ của TT Clinton dĩ nhiên là tiến triển cực tốt, từ thâm thủng hơn 200 tỷ khi ông mới nhậm chức năm 1993 qua đến thặng dư trong những năm 1998-2000. Nhưng không phải do “công” của TT Clinton, mà do ba yếu tố:

1. TT Bush cha tăng thuế đồng loạt, mang tiếng thất hứa sau khi đã long trọng tuyên bố “Read my lips, no new taxes”, khiến ông thất cử khi ra tái tranh cử năm 1992; nhưng TT Clinton hưởng lợi, thu thuế nhiều hơn;

2. Thời gian đó là thời kỳ “cách mạng dot.com” với hàng ngàn công ty điện toán phát triển tột bực, lợi nhuận bộc phát, đưa đến gia tăng thu nhập thuế của Nhà Nước;

3. Cuộc bầu quốc hội cuối năm 1994 đưa đến đại thắng của CH, chiếm cả hai viện, và CH đã có dịp khoá tay không cho TT Clinton chi tiêu nữa; khoá mạnh đến độ Nhà Nước bị đóng cửa mất mấy ngày, đưa đến giảm chi mạnh.

Tăng thu thuế và giảm chi tiêu dĩ nhiên đưa đến thặng dư ngân sách mà TT Clinton, một chính khách khôn ngoan, mau mắn vỗ ngực khoe công.

Theo cách tính toán của các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng năm 2008 chính thức chấm dứt giữa năm 2009 và kinh tế bắt đầu phục hồi từ đó, nhờ cả hai chính quyền Bush và Obama bơm hàng ngàn tỷ kích cầu kinh tế, cứu nguy ngân hàng, và cứu nguy các hãng xe lớn. Nhưng lại là một cuộc phục hồi chậm, khó khăn, và nhiều lỗ hổng nhất như đã bàn nhiều lần trên cột báo này. Mãi sáu năm sau mà tỷ lệ thất nghiệp cho dù giảm nhiều, xuống tới 4,9% đầu năm 2016, vẫn chưa trở về lại mức trước chu kỳ khủng hoảng 4,4% của năm 2007 dưới thời Bush. Chưa kể nhiều yếu tố không tốt đẹp lắm như những kỷ lục cao nhất về số người làm bán thời, số người làm lương thấp hơn, số người lãnh trợ cấp, và số người lãnh Medicaid; và kỷ lục thấp nhất về số người tham gia vào thị trường lao động. Kinh tế có phục hồi, nhưng phục hồi một cách yếu đuối trên một nền tảng lỏng lẻo nhất.

Thế nhưng chỉ số Dow Jones lại tăng từ 6.600 điểm hồi tháng 2/2009 khi TT Obama mới nhậm chức, lên tới 18.300 điểm vào tháng 5/2015. Tức là tăng gần gấp ba lần trong 6 năm, hay khoảng 30% mỗi năm.

Nhiều người ủng hộ TT Obama đã mau mắn mang những con số Dow Jones này ra khoe để chứng minh sự tài giỏi của TT Obama, đã giúp kinh tế tăng vọt. Những người này dĩ nhiên biết đọc số trên Dow Jones, nhưng lẫn lộn Dow Jones với kinh tế, diễn giải thị trường chứng khoán tăng là hệ quả tất yếu của một nền kinh tế quốc gia đang tăng. Thực tế là tăng trưởng kinh tế ì ạch ở mức 1%-2% mỗi năm, như vậy làm sao cái “hệ quả” chỉ số chứng khoán lại có thể tăng 30% một năm được? Đây là loại mâu thuẫn mà mấy vị ủng hộ DC không thấy có gì đáng thắc mắc, vì không muốn nhìn cho kỹ hơn, hay không hiểu gì về kinh tế hết.

Tình hình thị trường trong mấy tuần qua đã là cú đấm tỉnh người cho những vị này.

Những người bênh vực chính quyền Obama đã chiả tay về phiá kinh tế Trung Cộng, và giá xăng giảm trên thế giới như là những nguyên nhân của khủng hoảng, không ăn thua gì đến TT Obama hết. Đây vẫn là loại biện giải chạy tội sở trường của những người ủng hộ TT Obama.

Kinh tế TC thật là đang đi vào khủng hoảng nặng. Kinh tế TC bộc phát mạnh trên căn bản lệch lạc, cực nhanh ở vùng duyên hải, cực chậm nếu không muốn nói là thối lui khi đi vào nội địa chừng vài trăm dặm. Sớm muộn gì thì cũng mất thăng bằng, xụp đổ. Đã vậy, thị trường chứng khoán TC cũng chỉ là một sòng bài không hơn không kém, đáp ứng máu mê cờ bạc của các đấng con trời. Đúng nguyên tắc, việc định giá cổ phiếu phải tùy thuộc hoàn toàn vào tình hình kinh doanh của các công ty nói riêng và tình hình kinh tế tổng quát nói chung. Khổ một nỗi là các báo cáo tài chánh của các công ty TC chắc 80% là các số phịa, chẳng có gì đáng tin tưởng để lấy quyết định đầu tư hay không đầu tư. Ngay cả thống kê chính thức của Nhà Nước, loan báo tăng trưởng kinh tế năm qua là 6,9% cũng chẳng ai tin, vì các chuyên gia nhận định giỏi lắm là 3%-4% thôi.

Tóm lại, người dân TC (hay dân Việt trong nước cũng vậy) mua hay bán cổ phiếu hoàn toàn là chuyện đoán mò, đầu cơ, đánh bạc thôi. Do đó, khi “nghe đồn” kinh tế có thể có vấn đề, thiên hạ bắt đầu lo sợ, rồi phát hoảng, bán đổ bán tháo cổ phiếu.

Đã vậy, họ Tập lại tung ra những đòn thanh lọc các đối thủ chính trị, dựa trên tội tham nhũng. Khiến hàng loạt các vị bà con của họ, sở hữu cổ phiếu, hoảng sợ, bỏ của chạy lấy người, bán cổ phiếu, lấy tiền tươi, chạy ra nước ngoài mua nhà hay bỏ ngân hàng. Giá nhà Cali, Washington State, Vancouver tiếp tục tăng vọt, thị trường nóng hổi.

Chưa hết. Thiên hạ cũng nghi tài khả năng quản lý khủng hoảng của các quan đỏ. Cách đây không lâu, các quan nghĩ ra biện pháp “nổ cầu chì” (ngôn từ của chuyên gia kinh tế NXNghiã). Khi thị trường rớt giá 5% thì tự động nổ cầu chì, tắt điện, ngưng giao dịch. Vài tiếng sau, hy vọng các nhà đầu tư bớt hoảng thì mở lại. Không ngờ hồi đầu năm, nổ cầu chì, đóng giao dịch, mở lại sau vài tiếng, giá cả lại rớt còn nhanh hơn nữa, lại nổ cầu chì nữa. Bây giờ thì sau khi thử nghiệm môn thuốc tễ Sơn Đông “kinh tế chỉ huy” này thất bại, Nhà Nước TC đã hủy bỏ cầu chì luôn rồi.

Thị trường chứng khoán TC rớt mạnh. Tác hại đến thị trường Mỹ. Chỉ số Dow Jones, là chỉ số của 30 đại công ty lớn và tiêu biểu nhất Mỹ, phần lớn là các công ty giao dịch rất lớn hay đầu tư rất nhiều vào thị trường TC. Do đó khi kinh tế TC bị khủng hoảng, tất nhiên các đại công ty Mỹ này lãnh đạn theo ngay.

Bây giờ, đến chuyện xăng nhớt. Ai cũng bận tung hô giá xăng giảm. Giá một thùng dầu thô, đã rớt xuống dưới 27-28 đô, thấp nhất từ năm 2003 dưới thời Bush, cách đây 13 năm. Tại Dallas, giá xăng với thẻ giảm giá –discount- của siêu thị, chỉ còn 0,5 đô một ga-lông!

Giá dầu xăng trên thế giới suy sụp nặng vì thặng dư cung: các nước sản xuất dầu, kể cả Mỹ, tranh dành thị trường trong một thế giới mà kinh tế đang trì trệ, nên đều cố phá giá để bán tối đa, để rồi cuối cùng tất cả cùng hại lẫn nhau. Tình hình trong ngắn hạn không có gì sáng sủa, nhất là sau khi TT Obama tháo gỡ cấm vận Iran, bảo đảm lại thêm một anh sản xuất dầu nhẩy vào thị trường, phá giá thêm nữa.

Trên nguyên tắc, giá dầu giảm có thể giúp mỗi gia đình giảm chi phí liên quan đến năng lượng như giá xăng xe cộ, giá vé máy bay đi du lịch, ngay cả giá thực phẩm cũng có thể hạ nhờ giảm chi phí chuyên chở. Các gia đình có thêm ít tiền chi tiêu vào những chuyện khác, như sản phẩm tiêu thụ –consumer products-, tức là giúp kích động kinh tế. Nhưng thực tế, dân Mỹ nói chung vẫn còn dè dặt trước tình trạng bất ổn hiện nay, không chịu chi. Trong khi giá xăng giảm gần 70% từ cao điểm tháng Sáu năm 2014, chỉ số tiêu thụ chỉ tăng có 0,3%.

Kết quả rõ rệt nhất ở Mỹ: hơn 50.000 dân Texas mới thất nghiệp, nhưng không ai để ý tới. Cũng ít ai nghĩ giá xăng giảm là hậu quả trực tiếp của trì trệ kinh tế toàn cầu, ngoại trừ những nhà đầu tư đang tháo chạy khỏi Dow Jones. Ở đây, ta chưa bàn đến việc giá dầu giảm sẽ gây khó khăn lớn cho cả chục nước sản xuất dầu, có thể kéo theo khủng hoảng kinh tế và bất an chính trị trên cả thế giới.

Kinh tế luôn là một vấn đề cực kỳ phức tạp, không có câu trả lời giản dị. Nhưng tựu chung lại cũng có thể nói đại cương các công ty Mỹ vì khủng hoảng năm 2008, đã lợi dụng cơ hội tái cấu trúc, tinh giản hoá hệ thống tổ chức, điện toán hoá tối đa, cắt giảm chi tiêu và nhất là cắt nhân viên, kết quả, nhiều công ty đã lời lớn, đưa đến trị giá cổ phiếu tăng. Nhưng những công ty này từ chối không đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Mỹ bằng cách không mang tiền lời từ ngoài nước về lại Mỹ, không đóng thuế cho Mỹ, không bỏ tiền đầu tư mở hãng xưởng tại Mỹ, và không thuê thêm nhân viên Mỹ.

Bằng chứng lớn nhất là Apple. Công ty điện toán này lời cả tỷ tỷ, năm rồi lời 18,4 tỷ, nhưng hầu hết tiền lời từ ngoài nước được giữ ở ngoài nước tại những xứ thuế thấp nhất, để đóng thuế tối thiểu cho Mỹ, và họ tích trữ tối đa tiền mặt, không đầu tư vào kinh doanh, mở công ty hãng xưởng gì ở Mỹ hết. Apple có khối tiền mặt lớn hơn dự trữ tiền mặt của cả Bộ Tài Chánh Mỹ.

Lý do dễ hiểu: những đe dọa tăng thuế lợi tức của các đại công ty dưới chính sách của TT Obama. Apple trở thành một trong những công ty lớn nhất thế giới không phải do may mắn, mà do tính toán kế hoạch chu đáo. Họ không dại gì bỏ bạc tỷ ra phát triển, xây dựng cơ sở để lời thêm nếu bị đánh thuế quá nặng.

Thiên hạ thắc mắc không biết làm sao để những công ty như Apple đóng góp lớn hơn, trở về Mỹ đầu tư mở hãng xưởng nhiều hơn, tạo công việc nhiều hơn cho dân Mỹ. Đáp số hiển nhiên là giảm thuế và giảm thiểu luật lệ và thủ tục kinh doanh, nhưng khổ nỗi đấy lại đều là những điều đi ngược lại giáo điều kinh tế của đảng DC.

Kinh tế Mỹ ngày nay, qua chính sách mắc nợ hơn Chúa Chổm, tiêu xài vung vít, tung trợ cấp ra khắp nơi để kiếm phiếu, đã trở thành một thùng thuốc nổ, có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Kỷ lục thâm thủng ngân sách. Hơn 19.000 tỷ công nợ!

Đã vậy, trong khi kinh tế thế giới trì trệ đến độ các ngân hàng trung ương Liên Âu, Thụy Sỹ, Nhật đều áp dụng lãi suất “âm”, tức là người bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm không những không được nhận tiền lãi, mà lại còn phải trả tiền lãi cho ngân hàng, thì nước Mỹ lại... tăng lãi suất. Chỉ vì áp lực chính trị của chính quyền Obama, muốn chứng minh kinh tế đã phục hồi sau 7 năm lãi suất ở mức zero.

Một vài anh phe ta mới đây hồ hởi khoe thâm thủng ngân sách trong tháng qua đã xuống thấp nhất kể từ 2007, tức là thời … Bush! Trước hết, phải nói ngay, bây giờ ngân sách của Bush được “phe ta” mang ra làm chỉ tiêu so sánh thì thật đáng là... tin vui cho CH đang lo tranh cử! Sau đó thì ngân sách Obama cũng không khác gì ngân sách Clinton mấy: chẳng qua phải nhờ CH kiểm soát quốc hội nên mới giảm thiểu được thâm thủng, chứ không thì giờ này ai biết được thâm thủng lên tới mấy trăm ngàn tỷ?

Nói tóm lại, theo các chuyên gia, Dow Jones rớt mạnh gần đây dĩ nhiên có ảnh hưởng của kinh tế TC và giá dầu, nhưng yếu tố quyết định vẫn chính là kinh tế Mỹ còn hết sức mong manh, bị cái gông công nợ quá lớn, thâm thủng ngân sách quá lớn, tăng trưởng quá yếu, và phục hồi quá chậm. Nếu như kinh tế Mỹ mạnh hơn, những biến động tại TC và giá xăng sẽ ít tác hại hơn nhiều. Giống như một người bệnh ra đường gặp cơn mưa dĩ nhiên sẽ mau mắn bệnh nặng hơn liền, so với một người mạnh khỏe đi tắm mưa cũng chẳng sao.

Đưa đến vấn đề liên hệ giữa kinh tế và bầu cử.

Chuyện hiển nhiên là nếu kinh tế bình thường như trong vài năm qua, tức là có phục hồi, dù chậm và nhỏ, lai rai tiếp tục 1%-2%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp cũng tiếp tục từ từ giảm, thì kinh tế sẽ không là ưu tư hàng đầu của cử tri, có nghiã đại đa số cử tri chấp nhận chính sách kinh tế của TT Obama và sẽ chấp nhận bà Hillary như là người tiếp nối chính sách kinh tế đó. Và các ứng viên CH sẽ tránh né không muốn bàn đến.

Ngược lại nếu Dow Jones tiếp tục rớt đài như diều đứt giây, chúi mũi xuống như trong mấy tuần đầu năm nay mà không thể ngóc đầu lên lại trong những tháng tới trước bầu cử thì kinh tế sẽ leo lên cấp ưu tư lớn nhất của cử tri. Và như vậy, bà Hillary hay bất cứ ứng viên DC nào khác, sẽ gặp khó khăn thật lớn. Các ứng viên CH sẽ không bỏ qua dịp may tấn công.

Thông thường, các cuộc bầu tổng thống cũng là những dịp trưng cầu dân ý về thành tích thực tế của tổng thống đương nhiệm.

Nhìn lại cho kỹ, khó ai có thể nói chính sách đối ngoại trực diện với Putin, Tập Cận Bình, chính sách chống khủng bố và ISIS, chính sách di dân bất hợp pháp là những phạm vi thành công rực rỡ của TT Obama trong hai nhiệm kỳ của ông. Ngay cả Obamacare cũng vẫn bị đa số dân Mỹ chống. Đó là những điểm tấn công mạnh nhất của các ứng viên CH hiện nay.

Bây giờ, nếu lại có thêm khủng hoảng kinh tế thì bà Hillary, nếu là đại diện cho DC, chỉ còn một yếu tố duy nhất để ra tranh cử và có thể đắc cử: đó là yếu tố... phụ nữ. Bà tổng thống đầu tiên của Mỹ. Ngoài ra không có lý do gì để bầu cho bà nữa.

Dù sao thì Dow Jones rớt 3.000 điểm trong mấy tuần đầu năm nay cũng là một đòn nặng đánh vào chính quyền Obama. Nhất là ngay sau khi ông ra trước quốc dân, báo cáo thành quả của ông và khẳng định người nào tung tin kinh tế đang đi xuống là “peddling fiction”, tạm dịch là “tung tin hoang tưởng”. Dow Jones rớt như vậy, xoá sổ gần 2.000 tỷ trị giá của các công ty trong 6 tuần là sự thật rõ hơn ban ngày, hàng triệu người mất tiền đầu tư, hàng triệu người khác sống nhờ tiền già trong các quỹ hưu 401k hay IRAs mất cả năm tiền hưu, không phải là chuyện hoang tưởng. Đối với việc Wal-Mart đóng 269 cửa tiệm lớn, chỉ cần hỏi hơn 10.000 nhân viên bị sa thải xem đây có là chuyện “hoang tưởng” hay không. Hay Sears đóng cửa thêm 50 tiệm cũng vậy.

Cho đến nay, kinh tế vẫn còn là đề tài “tàng hình” lớn nhất trong cuộc tranh cử, vì cuộc chạy đua vẫn còn mang tính nội bộ. Đợi tới khi hai chính đảng trực diện nhau, từ tháng Tám tới, kinh tế sẽ thành đề tài tranh cãi lớn. Nhất là nếu Dow Jones vẫn còn tuột dốc. (14-02-16)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.