Hôm nay,  

Mối Lo Từ Trung Quốc

01/03/200500:00:00(Xem: 14538)
Khi vận động tranh cử hôm Thứ Hai 28, Bộ trưởng Kinh tế Anh Gordon Brown trấn an rằng Anh có khả năng ứng phó với thách đố kinh tế từ các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Ấn Độ. Còn VN ra sao"
Đài RFA trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong mục chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện như sau.
Hỏi: Thưa ông, sau khi thăm viếng Trung Quốc trở về, hôm qua, ngày 28 tháng Hai, Tổng trưởng Kinh tế Tài chính Anh là ông Gordon Brown đã nói đến sự thách đố của các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc hay Ấn Độ đối với kinh tế Anh. Trước đó, ngày Chủ Nhật 27, nhật báo tài chính có uy tín của Anh quốc là tờ Financial Times cũng có một bài nhận định về sức mạnh kinh tế của Trung Quốc so với Ấn Độ. Và Chủ Nhật tuần qua sang tuần tới, trong mục “Tư duy Thế kỷ”, chương trình Việt ngữ của đài BBC cũng có phỏng vấn chính ông về kinh tế Trung Quốc. Dường như ông có một nhận định không mấy lạc quan về nền kinh tế đó. Theo lời yêu cầu của nhiều thính giả, chúng tôi xin đề nghị chúng ta cùng trao đổi về đề tài này trong mục chuyên đề kinh tế hôm nay....
-- Thưa vâng, dù đây là một trong rất nhiều lần mà ta cùng đề cập tới những gì có thể xảy ra từ Trung Quốc. Trước tiên, tôi xin được đề nghị là ta cùng xét tới vấn đề ấy trong một viễn cảnh dài. Từ 1980 đến 2003, tức là từ khi Đặng Tiểu Bình đề xướng cải cách kinh tế đến gần đây thì kinh tế Trung Quốc đã có mức tăng trưởng bình quân là 9,5% một năm, theo lượng định của tờ Financial Times, và với dân số một tỷ ba trăm triệu, sự kiện ấy tất nhiên phải làm thay đổi tương quan kinh tế và nhận thức chính trị của thế giới vì có nghĩa là cứ hơn bảy năm thì sức mạnh kinh tế Trung Quốc lại tăng gấp đôi. Một quốc gia như Singapore hay cả Việt Nam mà có tốc độ tăng trưởng cỡ ấy thì chẳng làm thế giới e ngại chứ một nước đông dân và có nhiều tham vọng hay ảo tưởng như Trung Quốc tất phải là mối quan tâm, nhất là cho các chính trị gia, khi cần trấn an quần chúng của mình.
Tuy nhiên, cũng trong một viễn cảnh dài, mình cần đặt vấn đề vào đúng vị trí của nó. Tôi thiển nghĩ là trên đại thể, với lợi tức bình quân một đầu người là một ngàn đô la Mỹ một năm thì nền kinh tế hơn một ngàn triệu dân của Hoa lục có thể là một hy vọng hay đe dọa cho các nước, nhưng nền kinh tế ấy cũng có cả triệu vấn đề mà chúng ta nên nhìn ra trước.
Hỏi: Nói cách khác, ông cho rằng các vấn đề có thể xảy ra tại Trung Quốc mới đáng lo"
-- Thưa đúng vậy, ta đang gặp một hiện tượng tâm lý dễ hiểu là mình ưa dự báo tương lai theo thế tĩnh, bằng cách vạch ra đường thẳng từ quá khứ đến tương lai. Nói cho dễ nhớ thì khi Trung Quốc bắt đầu cải tổ, kể từ cuối năm 1978 trở đi, dư luận thế giới chỉ nhìn thấy sự lớn mạnh của kinh tế Nhật Bản. Tại Hoa Kỳ, trong thập niên 80, dư luận còn nói đến mối đe dọa của Nhật, thậm chí đã có một phong trào chống Nhật nổi lên tại Mỹ. Giới chính trị, truyền thông và cả phim ảnh Hoa Kỳ đã báo động về sức bành trướng của Nhật, khiến tư bản Nhật trở thành chủ nợ, chủ đất và chủ đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ...
Hỏi: Như dư luận Anh ngày nay đang nói về Trung Quốc" Thế rồi sau đó ra sao"
-- Chưa đầy 10 năm sau, Nhật bị khủng hoảng, và từ đó đến nay đã qua năm trận suy trầm kinh tế, lần cuối đang xảy ra ngay trước mắt. Sau vụ khủng hoảng, các chủ nợ chủ đất Nhật bán rẻ tất cả cho Mỹ và bỏ của chạy lấy người, và dư luận lại nói đến âm mưu của tư bản Mỹ hoặc chỉ nhìn thấy sự sụp đổ đồng thời của Liên xô. Thực ra, khủng hoảng sau vụ bể bóng đầu tư tại Nhật khiến nội các Kiichi Miyazawa của đảng Tự do bị đổ năm 1993 sau 38 năm cầm quyền liên tục tưởng như vĩnh viễn của đảng. May là Nhật là một xứ dân chủ nên khủng hoảng kinh tế chỉ dẫn tới thay đổi chính trị ôn hoà qua bầu cử. Ngày nay, truyền thông Mỹ hết báo động về hiểm họa Nhật Bản và còn ca tụng thế hợp tác Mỹ-Nhật trước mối họa Trung Quốc.
Thế rồi, cũng tại Á Châu, sau hai chục năm tăng trưởng được thế giới ngợi ca là “phép lạ kinh tế Đông Á”, khu vực này bị khủng hoảng năm 1997, hàng loạt chính quyền bị đào thải, từ Nam Hàn đến Thái Lan, Indonesia hay Philippines. Sau hai đợt chấn động ấy - tại Nhật vào năm 1990 rồi tại năm nước Đông Á vào năm 1997 – ta có thể sẽ gặp đợt thứ ba, từ cuối năm nay, tại Trung Quốc. Nhưng khác với các nước kia, xứ này chưa có tập quán dân chủ và chấn động kinh tế có thể trở thành khủng hoảng chính trị ở trong và đe dọa quân sự đối với bên ngoài. Vì vậy tôi không mấy tin vào triển vọng kinh tế Trung Quốc như vài giới chức Hà Nội, họ cứ lầm tưởng rằng học đòi theo Bắc Kinh là hay, hoặc viện dẫn trường hợp Trung Quốc như một sự kỳ diệu của giải pháp Việt Nam đang theo đuổi.
Hỏi: Trên diễn đàn này, ông thường nói về nhân và duyên trong kinh tế, vì sao ông cho là kinh tế Trung Quốc có thể bị khủng hoảng, mà lại có thể bị trong năm nay" Nếu đúng vậy thì giới lãnh đạo Bắc Kinh hay thế giới, và kể cả các nhà đầu tư, không biết sao"

-- Tôi thiển nghĩ rằng biết là một chuyện, làm là một chuyện và nói ra lại là chuyện khác! Tôi xin lấy một thí dụ cụ thể đầy tính thời sự kinh tế. Thứ Năm 24 tuần qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, tức là ngân hàng trung ương của xứ này, đã loan báo là ngạch số ngoại trái – là vay mượn nước ngoài - của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng gần 20% trong năm 2004 vừa qua, trong đó có đà gia tăng đến hơn 30% của các khoản nợ ngắn hạn dưới một năm, tổng cộng là gần 230 tỷ Mỹ kim. So với khối dự trữ ngoại tệ ở khoảng 610 tỷ của ngân hàng nhà nước vào đầu năm nay thì số nợ ấy chả có gì đáng lo.
Sự thật lại rắc rối hơn vậy. Chúng ta biết vì có nói nhiều lần trên diễn đàn này là Bắc Kinh đang cần hạ nhiệt bộ máy sản xuất vì e sợ nguy cơ lạm phát và động loạn xã hội. Vì vậy, cách đây một năm, ngày 24 tháng Ba, Trung Quốc nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng từ 7% lên 7,5% mà không có kết quả. Cuối tháng Tư năm ngoái, họ bèn có quyết định thuộc diện hành chính hơn là ngân hàng, là cấm cho vay thêm, thuộc bất cứ diện gì cho đến mùng tám Tháng Năm. Quyết định ấy cho thấy sự bất lực của khả năng điều tiết bằng khí cụ ngân hàng. Và đến đầu năm nay, Cục Thống kê cho biết là đà tăng trưởng của quý bốn năm ngoái, quy ra toàn năm, là 9,5%, so với 9,1% của năm 2003. Tức là không giảm mà còn tăng! Lý do là đầu tư vẫn tăng đều và bộ máy quản lý hay ngân hàng chẳng điều tiết được gì. Bây giờ, doanh nghiệp của họ còn bung ra vay mượn nước ngoài - chủ yếu là vay ngắn hạn để xuất khẩu – ta thấy tái diễn mối họa Đông Á cũ.
Hỏi: Nhưng dù sao, như chính ông vừa cho biết, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc lên tới 610 tỷ, thì có mắc nợ 230 tỷ cũng không phải là lớn.
-- Thưa vâng, nếu ta không kể thêm là tổng số nợ xấu, khó đòi và có thể mất của hệ thống ngân hàng Trung Quốc nay đã vượt 500 tỷ Mỹ kim. Ngân hàng thương mại Trung Quốc, do nhà nước quản lý, huy động mức tiết kiệm rất cao của dân chúng Hoa lục để chủ yếu tài trợ cho các doanh nghiệp cũng do nhà nước quản lý, theo diện gọi là chính sách, bất kể tới khả năng quản trị hay mức lời lỗ rủi ro của các doanh nghiệp này. Nếu tính thêm các khoản bù lỗ về lề lối quản lý ấy thì ngân sách quốc gia của Trung Quốc có thể bị thâm hụt đến 18%. Vì vậy mà hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp của họ chỉ là một lâu đài xây trên cát – không khác gì của Việt Nam – và có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, nhất là khi giới đầu tư nản chí mà triệt thoái khỏi Hoa lục, như trường hợp đã xảy ra tại Đông Á trước đấy. Sau khi hồ hởi sảng vì lạc quan không cơ sở đến nỗi thổi lên một trái bóng đầu cơ, các chủ đầu tư và chủ nợ nước ngoài sẽ hốt hoảng tháo chạy là điều đang bắt đầu xảy ra, và khủng hoảng có thể bùng nổ, là điều ta có thể thấy năm nay.
Hỏi: Trở lại chuyện nhân và duyên trong kinh tế, vì sao lại có cơ sự ấy và lại bùng nổ trong năm nay"
-- Về cái nhân thì Trung Quốc - và cả Việt Nam nữa - chẳng có gì sáng tạo độc đáo, vì vẫn đi theo chiến lược phát triển Đông Á, lấy xuất nhập khẩu làm đầu máy tăng trưởng, lấy đầu tư nước ngoài và cả nguyên vật liệu lẫn công nghệ và kiến năng của nước ngoài làm sức đẩy, với sự yểm trợ của guồng máy nhà nước. Chiến lược ấy dẫn tới việc nín thở xuất khẩu để chinh phục thị phần mà bất kể lời lãi, đầu tư thả giàn mà bất kể rủi ro. Sau cùng, chiến lược ấy cũng dẫn đến những chứng tật Đông Á là nạn tham ô và cấu kết.
Nhưng, điều sáng tạo tai hại của cả Việt Nam và Trung Quốc là đi theo chiến lược đã phá sản của Đông Á, với những tàn dư về lý luận xã hội chủ nghĩa. Mô thức gọi là “kinh tế thị trường theo màu sắc Trung Quốc” hay “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của lãnh đạo Hà nội chỉ là chiến lược Đông Á màu hồng, với những chứng tật cố hữu như bao cấp, tham nhũng và quản lý kinh doanh bất kể rủi ro hay lời lỗ.
Hỏi: Và theo ông, tình trạng này sẽ không thể kéo dài" Sau đó tình hình sẽ ra sao"
-- Bây giờ nói về cái duyên, Trung Quốc đang gặp nhiều mâu thuẫn lớn trong kinh tế, xã hội và chính trị. Mâu thuẫn giữa nông thôn và thành thị, giữa các tỉnh duyên hải sống nhờ xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài với các tỉnh nghèo đói nằm sâu trong lục địa, mâu thuẫn giữa giàu và nghèo, giữa trung ương và các địa phương và quan trọng nhất, giữa hệ thống chính trị và chính quyền với thị trường kinh tế. Khi tư bản hết hồ hởi chảy vào mà chạy ra, là điều ta có thể thấy rõ hơn trong năm nay vì lãi suất Mỹ đã tăng và sẽ còn tăng, những mâu thuẫn ấy sẽ phát tác. Đảng Cộng sản vốn đã mất uy tín về nạn tham nhũng lại còn gây bất mãn vì bất lực trước bài toán quốc kế dân sinh. Nội loạn có thể bùng nổ và lây lan qua chính trị. Những điều đó có thể xảy ra trong năm nay và kéo dài đến cao điểm tâm lý là Thế vận hội Bắc Kinh 2008. Sau đó là khủng hoảng có thể làm đảng Cộng sản mất quyền cai trị.
Thói thường, khi các chính quyền độc tài bị yếu thế thì lãnh đạo thường thổi lên chủ nghĩa quốc gia dân tộc, thực chất là chủ nghĩa phát xít, và có khi gây hấn với bên ngoài để trấn áp chống đối bên trong. Trường hợp ấy mà xảy ra tại Trung Quốc thì Đài Loan và Việt Nam có khi lãnh họa. Đấy mới là mối lo đáng quan tâm từ phía Trung Quốc.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.