Hôm nay,  

Gò Muồng Ninh Hòa

11/07/201700:00:00(Xem: 6989)
Lâu lâu về lại Ninh Hòa mới thấy quê cũ thay đổi nhiều. Con đường thân quen Nguyễn Trường Tộ bên hông chùa Quãng Đông ngày xưa sình lầy nhỏ hẹp bây giờ mở rộng tráng nhựa bằng phẳng, xe máy chạy bon bon thẳng tới Tiên Du. Tiên Du bây giờ khác hẵn với ngày xa xưa, bây giờ ruộng lúa mênh mông, tiếng xe máy nổ vang thay cho tiếng í thá của đám trâu cày ruộng thời chiến. Chiều hôm đó ông anh lái xe đưa tôi đi thăm một người bà con ở Tiên Du. Trên đường về chợ Dinh, tôi đang mù mờ chưa biết đâu là đâu, bất ngờ tôi thấy ngọn tháp nhà thờ phản chiếu mặt trời sáng chói, tôi dục ông anh dừng xe tại ngả ba nhà thờ. Xuống xe, tôi chẩm rải rảo bước về hướng nhà thờ. Lãng vãng ngoài hàng rào, bị hàng cây um tùm che khuất nên không thấy hình bóng quen mắt ở bên trong. Mặc dầu nó vẫn còn rõ nét trong trí óc tôi nhưng cảnh cũ đã qua mấy mươi năm nó đã lui vào dĩ vãng lâu rồi. Nãn chí, tôi quay lại lên xe ngồi dục ông anh đi tiếp. Hai anh em đi đến đầu chợ Dinh ghé vô tiệm bà Năm kiếm chút nem nướng lót dạ trước khi về Xuân Hòa..

Chưa kịp ngồi xuống thì ông anh hỏi tôi "chú tìm gì zậy"?

"Tìm căn nhà của anh Pierre." Tôi vụt miệng trả lời.

Có lẽ câu trả lời của tôi quá bâng quơ khiến anh ngẫng ngơ. Thật ra câu hỏi của ông anh nhắc tôi nhớ lại một kỷ niệm xa xưa. Kể hết ra thì quá dài dòng, nhưng mùi tỏi thơm của nem nướng làm chột dạ. Nhìn chén nước chấm đặc sản nem Ninh Hòa mấy mươi năm tôi mới được nếm một lần, nó làm tôi xót cả ruột gan. Mấy lát khế nằm trên đĩa rau thơm làm tôi nhớ lại chuyện cũ nhiều hơn, tôi nghĩ mình ngồi đây lai rai mà kể chuyện Gò Muồng thì lý tưởng lắm.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Tôi nhớ ngày xưa từ đầu ngả ba đi ra nhà thờ Gò Muồng chừng trăm thước, bên tay trái sau hàng cây có một căn nhà lá, đó là nhà của anh Pierre. Anh Pierre ở đó với bà mẹ già, tôi gọi bà là Bà Nội, và hai đứa con gái nhỏ xinh xắng. Nhà không có ruộng đất, có mấy bụi chuối, vài cây ổi, một cây bưởi và một cây khế ngọt. Cây khế này ngộ thật, mùa nào cũng có trái ngọt liệm. Thường ngày bà nội hái khế, hái ổi nội nhờ người quen đem lên chợ Dinh bán đổi lấy gạo cho nội. Tôi và đám học trò từ trường Đức Trí thường rủ nhau xuống nhà mua khế mua ổi. Mỗi lần chúng tôi kéo tới nhà bị hai con chó cản đường sủa um xùm, anh Pierre la quát đuổi chúng đi. Nội và hai cháu gái vui mừng lăng xăng đi lấy cây sào, lấy cho cái rổ để đựng. Nội lựa cành nào có trái ngon chỉ cho chúng tôi hái. Hai em gái trắng trẻo trong bộ đồ bà ba, tóc bum bê mang đôi dép nhựt tung tăng chạy theo chân. Mỗi lần có trái rơi xuống đất, hai em nhanh nhẩu nhặc lên lấy tay phủi đất cho sạch bỏ vào rổ. Cả đám học trò ngước mặt lên ngọn cây tay hái miệng nhai, la inh ỏi thật là vui.

Ba tôi kể rằng anh Pierre là người Tây lai, lúc còn trẻ, anh làm cho sở hỏa xa Nha Trang, anh làm việc với nhóm chuyên viên Pháp xây đường hầm xe lửa đèo Rù Rì và đèo Ruột Tượng giữa Ninh Hòa và Nha Trang. Sau khi hoàn tất hai cái hầm thì anh bị đau mắt, không chữa được khiến anh mù cả hai mắt, anh phải nghỉ việc. Bà nội đem cả gia đình anh về sống trong căn nhà lá ở Gò Muồng với bà. Trong căn nhà mái tranh lụp xụp tăm tối, cả gia đình năm người sống nhờ vào cây khế, cây ổi và bụi chuối, cuộc sống quá khó khăn nên vợ anh ra đi biền biệt bỏ lại hai đưa con gái xinh xắng chưa đến tuổi đi học.

Anh Pierre người cao lớn, mũi cao tóc nâu nước da sáng sủa, tướng mạo trí thức. Anh nói tiếng Việt, tiếng Pháp rất hoạt bát, anh được nhiều người trong thị trấn thương mến. Hai cô con gái da cũng trắng, mũi cũng cao, mặt mày lai Tây giống như cha. Cô lớn thì tôi không nhớ tên nhưng tên của cô nhỏ thì tôi vẫn nhớ tên là Janet.

Bạn bè của anh Pierre ở chung quanh phố chợ Dinh người nào cũng mến anh. Lâu lâu Janet dẫn cha lên phố để anh có dịp thăm bạn bè. Tôi còn nhớ vào ngày đẹp trời, Janet đội cái mủ vải vành to che nắng, hai cha con từ Gò Muồng dắt nhau lên phố chợ. Lên đến ngả ba dốc Xóm Rượu, hai cha con quẹo trái ghé vào nhà tôi trước tiên. Anh Pierre và ba tôi gặp nhau rất tâm đắc, hai người nói chuyện Việt Minh và tình hình chiến sự Đông Dương. Tôi và Janet nói chuyện con nít một hồi rồi từ giã. Từ nhà tôi Janet lại nắm tay đưa cha tiếp nối hành trình: trên đường Võ Tánh lên nhà máy nước đá Liên Thành, ghé vào thăm hai anh em Cúc Tùng và Cúc Bình, rồi đi đến nhà anh Trúc chuyên bán đồ gốm, sau đó lên nhà chú Chín Mụn trước đồn G.I bây giờ là chợ mới Ninh Hòa. Quẹo qua bên trái hai người vượt qua nhà máy đèn qua Cầu Trạm thăm anh Yến tiệm giày Đức Hưng, thăm anh Tưng chủ xe đò Hương Giang. Hai cha con quay ra phố chợ thăm hết bà con chung quanh chợ, cuối cùng anh ghé vô tiệm cafe Đại A đầu đường Nguyễn Trường Tộ thăm bác hai Khiền. Bác hai pha cho ly cà phê đá ngồi hỷ hả với anh. Bác hai cũng không quên biếu cho Janet cái bánh bao nhân thịt, hai cha con ăn uống xong dắt nhau đi thẳng một lèo trở về lại Gò Muồng.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954, kinh tế quận Ninh Hòa xuống dốc thê thảm, tôi phải đi xa tìm lẽ sống nên không còn gặp anh Pierre và Jannet nữa. Một hôm em tôi vào Saigon thăm tôi và cho biết bà nội của Janet đã chết, ông cha nhà thờ Gò Muồng liên lạc với tòa đại sứ Pháp ở Saigon nhờ giúp đỡ. Họ đưa hai chị em Janet qua Pháp. Anh Pierre thì họ đưa vô nhà dưỡng lão Thị Nghè Saigon. Nghĩ mà buồn cho anh Pierre, khi bà mẹ còn sống cả gia đình nhờ vào cây khế cây ổi sống quanh quần với nhau thế mà vui, khi nội chết mỗi người bị tách biệt một phương trời.

Một buổi sáng chủ Nhựt, chúng tôi đi tìm anh Pierre, chúng tôi ghé chợ mua ít bánh kẹo, lên chiếc xa lam chạy thẳng đến cầu Thị Nghè. Nhà dưỡng lão nằm bên tay trái đầu cầu. Thập niên sáu mươi Saigon rất lộn xộn, đảo chánh liên miên, bên ngoài viện dưỡng lão xe cộ ồn ào nhưng bên trong thì rất yên tịnh lạ thường. Chúng tôi đứng trong trung tâm dưỡng lão mà không biết vì nó là ngôi nhà rộng thênh thang, những chiếc giường cá nhân được bố trí ngay hàng thẳng lối, mền gối và đồ dùng cá nhân sắp xếp trên đầu giường của mỗi người. Tôi đảo mắt một vòng để tìm anh Pierre. Thấy có người nằm trên giừơng, vài người đứng trước đầu giường ngơ ngát. Ông nào cũng thui thủi mặt buồn hiu. Từ xa tôi thấy anh Pierre ngồi trên giường, anh cúi đầu hai mắt sâu thẳm của anh nhìn mông lung trông thật thảm thương. Tôi vội vàng bước đến gần, kêu tên anh. Anh giựt mình quay lưng thật lẹ miệng hỏi lớn " ai zị?" Quá xúc động, tôi xưng tên và kêu anh một lần nữa khiến anh ngạc nhiên mừng rỡ. Anh dơ hai tay ôm chặc lấy tôi thật thắm thiết.


Câu hỏi đầu tiên của tôi khi gặp anh là hai đứa nhỏ đâu? Anh nói "Sau khi bà già mất, cha nhà thờ báo cho tòa Đại Sứ Pháp ở Saigon biết, họ cho người ra Gò Muồng gặp anh, họ nói họ sẽ làm thủ tục để đưa hai đứa nhỏ qua Pháp. Mấy tháng sau họ đến một lần nữa họ đưa hai chị em Janet qua Pháp." Anh nói tiếp, "Hai đứa nó được một gia đình ngươi Pháp ở Paris nhận làm con nuôi. Hai đứa nó được vô trường học, phần anh vì mù hết cả hai mắt nên họ chưa cho đi. Họ nói anh phải chờ cho đến khi hai đứa lớn lên, lấy quốc tịch Pháp và đi làm có lợi tức, lúc đó tụi nó có thể bảo lảnh anh qua Pháp theo diện đoàn tụ. Anh cho biết hai chị em của Janet có gởi thơ và quà đến Tòa Đại Sứ Pháp nhờ họ trao lại cho anh. Vào những dịp lễ Noel hay Tết, tòa Đại Sứ Pháp có mang quà đến ủy lạo. Qua những lần thăm viếng anh cho biết con gái lớn mới làm đám cưới, Jannet thì chưa muốn lập gia đình. Janet nhận được học bổng đi học bên London Anh Quốc. Mừng cho hai chị em Jannet thoát khỏi cuộc đời bỉ cực nhưng cũng buồn cho anh Pierre vì chưa đoàn tụ với hai con. Thập niên sáu mươi đất nước nhiều tao loạn và thời gian không ngừng trôi qua. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, gây ra nhiều cuộc chia ly, tôi theo giòng đời trôi dạt phương xa không còn gặp anh nữa.

Trong lần đầu tiên chúng tôi trở lại Saigon, chúng tôi đến Thị Nghè tìm anh Pierre, thật là ngỡ ngàn, cảnh vật nơi đây đã hòan toàn thay đổi. Tôi hỏi thăm về anh, nhưng không một ai biết cái viện dưỡng lão bây giờ ở đâu. Thật không ngờ cái lần thăm anh Pierre năm xưa đó là lần gặp gỡ cuối cùng giữa chúng tôi. Thầm mong anh đã được đoàn tụ với hai con bên Paris.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau tháng Tư 1975 thời cuộc đưa đẩy người Ninh Hòa tản mạn đi nhiều nơi trên thế giới, mấy bạn già định cư bên Âu Châu kêu réo nên tôi làm một chuyến đi Âu Châu để tìm hiểu cuôc sống của họ ra sao và biết đâu tôi có thể gặp lại anh Pierre và hai chị em Janet bên Paris Pháp Quốc.

Chuyến bay của tôi đáp xuống phi trường Charles de Gaulle International Paris lúc chín giờ sáng. Đang lây quây tìm hành lý, loa phát thanh lên tiếng cho biết đây là chuyến bay cuối cùng hôm nay và phi trường này bị đóng cửa vì bụi núi lữa từ Iceland bay phủ khắp bầu trời Âu Châu. Từ đây không một chiếc máy bay nào được bay đi và bay đến. Hằng ngàn chuyến bay theo sau chuyến bay của tôi phải chuyển hướng qua các phi trường bên Liên Bang Sô Viết. Chỉ trong một ngày mấy chục ngàn hành khách chen nhau chật hết cã các phi trường trên tòan thể Âu Châu nằm chờ cho bụi núi lữa tan đi. Tôi may mắn thoát nạn được anh chị bạn đến đón đưa về nhà.

Sau một đếm ngủ mệt nhoài, tôi được anh Nam và chị Minh đưa lên xe lữa đi vô thủ đô Paris. Từ Res De La Gare ở Montigny xe chạy qua ga Franconville nơi chị Nguyển Thị Tri người Xóm Rượu ở. Xe vượt qua mấy chặn xe điện ngầm qua mấy đường hầm khiến tôi mù mờ không biết đâu là đâu. Đến lúc chị Minh dục tôi ra khỏi xe điện, leo lên hai ba cầu thang máy, tôi bước lên trung tâm thành phố Paris, thủ đô của nước Cộng Hòa Pháp Quốc.


Paris nước Pháp? cái nước mà ngày xưa tôi gọi là Tây, họ đô hộ nước tôi một trăm năm, những ngày đó lính Tây Lê Dương đi lùng xét các làng xóm hảm hiếp đàn bà con gái, bao nhiêu thanh niên bị lính Tây giết hại đem xác chôn thành những nấm mộ hoang trên Gò Quít. Bao nhiêu thanh niên ở quê tôi bị Tây cầm tù mỗi ngày bị dẫn đi qua lại trước nhà tôi. Tất cả kỷ niệm quá khứ đau buồn tôi vẫn còn nhớ, nhưng hôm nay, buổi sáng này, tôi đang đứng giữa khung trời Paris, dưới ánh nắng Xuân mai tất cả những cái đó đã biến mất trong tôi.

Ôi Paris! thành phố này sao mà đẹp thế! Người đi dập dìu, thong dong dưói nắng Xuân. Bốn bề đầy rẫy dinh thự nguy nga lộng lẫy, kiến trúc rất mỹ thuật chen lấn bởi những hàng cây đậm màu đầy hoa khoe sắc. Du thuyền đầy khách tấp nập trên sông Seine, trước mặt là ngọn tháp Eiffelle hiên ngang hùng vĩ, những chiếc xe mui trần chở đầy du khách tham quan thành phố vui cười hớn hở. Mùa Xuân Paris nắng gắt nhưng gió bắc cực thổi về lạnh tê tái. Hằng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới sắp hàng đứng dưới chân tháp Eiffelle chờ đến phiên mình được lên đỉnh tháp xem toàn cảnh thành phố Paris huy hoàng. Hai bên đại lộ Champs Elysées Khải Hoàn Môn có nhiều cửa hàng danh tiếng đông khách chen vai mua sắm. Quận 13 của Paris năm 1954 chánh phủ Pháp lập trại tỵ nạn cho người Việt Miên Lào nay là vùng đất vàng, là khu vực thương mại sầm uất của người Á-Châu. Super Market và nhiều cửa hàng của người Việt Miên Lào mua bán, khách ra vô nườm nượp. Các nhà hàng với hình ảnh thực đơn với các món ăn thuần túy dân tộc Việt Miên Lào trình bày trước cửa tiệm thấy mà vui.

Paris nổi tiếng với danh hiệu Thành Phố Của Tình Yêu thật không ngoa. Paris thật quyến rũ khiến tôi quên hết những tàn tích hung ác của Tây Lê Dương ngày xưa. Tôi đang mê mẩn chụp hình lia lịa, bỗng một cô gái trẻ người Đông Âu xinh đẹp đầu đội khăn Burka bước đến, miệng cô nở nụ cười thân thiện muốn trào nước mắt. Cô đưa tôi một mảnh giấy nhỏ. Tôi mở ra xem thấy những lời than vang buồn tẽ, tôi trả lại tờ giấy kèm món quà nhỏ. Nhìn cô nàng chậm rải bước đi mà lòng đầy luyến tiếc, ước gì cô là Janet người bạn năm xưa tôi đang tìm trong giây phút này. Giữa trời Xuân Paris Thành Phố của Tình Yêu mà thấy lòng bơ vơ. Tôi vẩn biết đời người không tránh khỏi cái sinh ly tử biệt. Trái đất tuy tròn nhưng nó bao la quá nên mình không gặp nhau được. Tôi cất bước tiếp tục khám phá Paris mà lòng đầy thương nhớ về Gò Muồng và người xưa.

Quý vị nào biết được Janet và câu chuyện này, xin vui lòng email về địa chỉ email: [email protected]

Đường Bình

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.