Hôm nay,  

Có Phải Từ Chinatown...?

07/07/201800:00:00(Xem: 5804)

Nguyễn Thị Cỏ May

 
Một nhà văn người Úc viết về mục tiêu chiến lược của Chinatown ở Úc và nhiều nước khác trên thế giới. Theo ông, người Tàu bắt đầu gặm nhắm xã hội nơi họ tới định cư bằng những Chinatown. Họ tự giới thiệu văn hóa Tàu với dân bản xứ. Trước tiên bằng văn hóa ăn uống là thứ không cần ngôn ngữ. Ở xứ có nền văn hóa phát triển, có chánh phũ dân chủ mạnh, có xã hội tự do thì Chinatown là nơi kiều dân Tàu tập trung lo lượm bạc cắc.

Ở các nước kém mở mang, nhứt là về mặt chánh trị, thì họ mua chuộc nhà cầm quyền để mua đứt luôn đất nước đó. Một số nước Phi châu đang gặp phải tình trạng này do nhà cầm quyền độc tài và tham nhũng. Gần đây và cụ thể, như là trường hợp điển hình kề sát Việt nam, đó là Sri Lanka. Nhưng Sri Lanka khác Việt nam. Sri Lanka là nạn nhơn do nhà cầm quyền độc tài, tham nhũng và bất tài làm nợ với Tàu không thể trả nổi mà phải chịu mắc bẫy nham hiểm của  Tàu, để cho Tàu lấy đất trừ nợ. Trong lúc đó, Việt nam lại tự nguyện hiến dâng  tất cả cho Tàu chỉ vì cùng phe xã hội chủ nghĩa. Và sự hiến dâng đã bắt đầu từ Hồ Chí Minh lúc chưa nắm được chánh quyền, chỉ mới vận động sự trợ giúp của Tàu đã cam kết khi nắm được chánh quyền sẽ đem cả đất nước đền ơn đáp nghĩa.

Nay Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản ở Hà nội có đem cả Việt Nam dâng cho Tập Cận Bình cũng chỉ là nối tiếp sự nghiệp bán nước của Hồ Chí Minh mà thôi.

Văn hóa bành trướng

Bành trướng là thứ văn hóa muôn đời của Tàu, nó ăn sâu vào tận xương tủy của người Tàu. Hiền lành là di dân đi lượm bạc cắc với quần xà lỏn, cây đòn gánh thu mua ve chai, đi vào hang cùng ngỏ hẻm gõ lắc cắc rao tầm quấc (đấm bóp), bán chí mà phủ (chè mè đen), đẩy xe hủ tiếu mì, khá hơn là mở tiệm cà phê, tạp hóa, tiệm ăn, … Ngày nay là Chinatown.

Cái thứ văn hóa bành trướng này đã có từ 3000 năm qua, do nước Tàu bị nạn đói triền miên. Người dân phải bung ra ngoài tìm đường sống cho bản thân và gia đình. Nhưng khi Tàu có nội tình yên ổn, dân chúng an cư lạc nghiệp thì đó là lúc họ bắt đầu nghĩ tới xua quân đi chiếm ngự nước khác. Sự bành trướng của Tàu tập trung chủ yếu trên 2 cơ sở:

-Xâm chiếm lãnh thổ,

-Đồng hóa các dân tộc nơi họ tới.

Về xâm chiếm đất đai, họ bắt đầu từ đời nhà Chu. Văn hóa nhà Chu là coi đất đai thuộc về thần thánh mà họ là con của thần thánh nên tất cả đất đai và cư dân đều thuộc về họ. Chánh trị bá quyền bắt đầu từ đây. Đất đai của nhà Chu chinh phục được quá rộng lớn nên phải chia thành xứ, cắt đặt người cai trị. Chế độ đế quốc và phong kiến thành hình. Vua nhà Chu cho mình là con Trời, tuyên truyền nhận lãnh mệnh Trời trị vì bá tánh.

Vận dụng văn hóa bá quyền, ngày nay Tàu đã mở rộng đất nước với 5 khu vực rộng lớn bằng chánh sách thôn tính: Vân Nam, Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, Nội Mãn Châu. Nhưng họ chưa thỏa mãn tham vọng bành trướng của họ. Ở cựu Đông dương, họ đã chiếm kể như xong Lèo và Miên. Việt nam đã được Nguyễn Phú Trọng đút thẳng vào miệng Tập Cận Bình, hắn nuốt khỏi cổ, đang chờ tiêu hóa.

Nhìn lại chút việc đã qua

Ký thỏa hiệp 6.3/46 đón Tây trở lại, ở lại Liên Hiệp Pháp, trước tiên, Hồ Chí Minh thực hiện âm muu quỉ quyệt, mượn tay Tây cùng với lực lượng võ trang Việt minh hành quân lên Việt Bắc tảo thanh các lực lượng yêu nước không cộng sản ,mạnh hơn Việt minh, như Việt nam Quốc dân đảng, Đại Việt, để giành cho được độc quyền cho Việt minh cộng sản.

Thấy chánh phủ Pháp tỏ ra cứng rắn, ở lại Hà nội khó khăn mà còn có thể nguy hiểm, Hồ Chí Minh bèn lo thu xếp lánh nạn lên Việt Bắc. Nhưng đi cách nào cho ổn một Chủ tịch nước mới vừa tự phong? Thế là Hồ tuyên bố toàn dân kháng chiến, mượn dân mở đường cho Hồ đào tẩu.

Cũng về bản chất của Hồ, xin kể thêm một giai thoại làm toát lên bản chất láu cá của Hồ, và nhứt là liên quan đến việc lệ thuộc để mất nước.

Đầu năm 1950, kháng chiến Việt nam ngày càng quyết liệt, Hồ Chí Minh bí mật qua Tàu cầu viện. Mao đã qua Moscow trước đó vài hôm. Tuy nhiên Hồ vẫn được Tàu thu xếp cho qua Moscow. Nhơn thấy Mao và Xít-ta-lin vừa ký hiệp ước quân sự, Hồ ngỏ lời xin ký một hiệp ước như vậy để được trợ giúp quân sự. Xít-ta-lin trả lời «Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích thế nào đây?».

Hồ thản nhiên đáp «Điều đó rất dễ. Đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao?».

Xít-ta-lin cười lớn: «Đó là quá sức tưởng tượng đặc biệt của người phương Đông các anh” (Phạm Cao Dương «Nhân vụ Vân Đồn, Bắc Phong Vân, … », trích dẫn từ tài liệu «Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp», Hồi ký của những người trong cuộc, do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy).

Thật ra, Xít-ta-lin đã đẩy vấn đề của Hồ Chí Minh qua cho Mao rồi. Giờ đây, Xít-ta-lin chỉ cần chỉ thị cho Hồ điều gì phải làm mà thôi. Ông kéo 2 chiếc ghế lại gần, bảo với Hồ «Đây là ghế địa chủ, còn đây là ghế bần cố nông. Đồng chí hãy chọn» (Pierre Brocheux, HCM du révolutionnaire à l’icone, Payot, Paris, 2003). Không thấy Hồ trả lời. Ý của Xít-ta-lin muốn bảo Hồ hãy lo tiến hành cách mạng vô sản, thay vì lo đánh Tây giành độc lập. Nhưng về nước, năm 1953, Hồ cho tiến hành cải cách ruộng đất, ban hành một sắc lệnh quy định các thành phần giai cấp ở nông thôn trong vùng Việt Minh chiếm đóng, gồm có 5 thành phần là địa chủ, phú nông, trung nông, bần nông và cố nông. Thực ra sắc lệnh này chỉ thi hành tại vùng Trung Du, tức là chiến khu Việt Bắc; Liên khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hóa Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; và Liên khu 5 gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Còn trên toàn quốc là vùng do chính phủ Bảo Đại kiểm soát cho nên sắc lệnh này không có hiệu dụng. Riêng vùng Việt Bắc lại toàn là đất của các dân tộc Miền Núi cho nên không thể áp dụng sắc luật này, ngoại trừ tỉnh Thái Nguyên.

Hoàng Tùng đã kể lại: “…Bác chuẩn bị cho hội nghị cán bộ vào đầu năm 1953, quyết định cải cách ruộng đất. Trung Quốc cử đoàn cố vấn sang, bao gồm cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền. Đoàn cố vấn cải cách ruộng đất do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là phó bí thư tỉnh Quảng Tây. Họ muốn qua cải cách ruộng đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Thời gian lúc tiến hành cải cách đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ Chính Trị do đó cũng biết một số việc…”

Việc trước tiên của Kiều Hiểu Quang là thanh lọc lại toàn bộ các sĩ quan chỉ huy trong quân đội và các cán bộ lãnh đạo trong đảng cộng sản. Sau đó thay thế bằng những người do các cố vấn lựa chọn. Tiêu chuẩn để được chọn làm chỉ huy phải là những người xuất thân từ giai cấp vô sản, tức là công nhân, bần nông và cố nông, nghĩa là những người thất học, ai bảo sao thì nghe vậy.

Trên danh nghĩa, Kiều Hiểu Quang tuyên bố là tổ chức laị đội ngũ theo học thuyết Mác-Lê, đưa giai cấp vô sản lên lãnh đạo “cách mạng”, nhưng trên thực tế là thanh toán hết những cán bộ giỏi có từ trước đến nay để thay bằng những người “thân Trung Quốc” mà các cố vấn đã nhắm truớc. Đó toàn là những người bất tài, không có tư cách.

Theo Hoàng Tùng: “Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ, mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử”!

Dĩ nhiên là Kiều Hiểu Quang không trực tiếp giết người, mà chỉ thị cho Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp thanh toán hết những người có tài bởi vì họ có thể tổ chức quật ngược thế cờ hoặc ngấm ngầm tuyên truyền chống lại trong đảng hay trong quân đội. Những người bị giết thường bị gán cho cái tội có lý lịch liên quan tới Quốc Dân Đảng, Đại Việt,… và xuất thân là thành phần “trí, phú, địa, hào”. Hầu hết họ đều được hỏi hai câu hỏi trước khi bị hành hình: “Anh thuộc giai cấp kẻ thù của giai cấp vô sản, vậy thì anh vào Đảng của những người vô sản để làm gì? Rồi lại tìm cách leo cao, luồn sâu trong Đảng để âm mưu gì?”.

Hoàng Tùng có vẻ thản nhiên khi thú nhận đảng của anh đã giết oan hằng mấy ngàn vị chỉ huy trong Đảng cũng như trong Quân đội.

Vụ án này cho thấy cả một thế hệ nhân tài, giới tiểu tư sản trí thức, cuối cùng của cuộc “Cách mạng Mùa Thu” đã bị tiêu diệt. Sau đó đảng cộng sản chỉ còn lại rặt một đám lưu manh, không học, chạy theo bợ đỡ Tàu để giữ đảng và được tiến thân.

Khi Xít-ta-lin cho Hồ Chí Minh biết Mao đã thuận giúp cách mạng Việt Nam, có nói rõ thêm «Trung quốc giúp Việt nam một con gà thì sau này, cách mạng thành công, Việt nam liệu trả lại Trung quốc một cái trứng».

Phải chăng đảng cộng sản Hà nội đang trả cho Tàu cái trứng? Hay cả con bò sữa mập béo nhưng được Tàu đưa cho thêm tiền?

Năm 1990, tại Thành đô, Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư đảng, Trưởng phái đoàn Việt nam dự Hội nghị, tuyên bố «Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng… Việt nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng trong quá khứ …».

Cái gợi là "tình hữu nghị giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công xây dựng», phải chăng đó là lời hứa của Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh đại diện của Mao năm 1926 và lập lại với Chu Ân Lai năm 1930 vào ngày thành lập Đảng CS Việt Nam: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng  tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa….”

Vận mệnh của dân tộc và đất nước Việt Nam có thể đã bị quyết định ngay từ chuyến đi của Hồ Chí Minh năm 1950. Và để thực hiện kế hoạch chiếm Việt nam khi thuận tiện, từ lúc này, chắc chắn Tàu đã nghiên cứu các cao điểm chiến lược về kinh tế và quân sự, các cột mốc biên giới, … nên ngày nay họ đều giành làm chủ toàn những điểm sanh tử ở Việt nam.

Thôi thế là hết vậy!

 
Nguyễn Thị Cỏ May

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.