Hôm nay,  

30 Năm Sau...

16/11/201900:00:00(Xem: 5091)
Lénine
Lê Nin bị hạ bệ

 

Thu là mùa riêng của thi nhơn hay còn của Cách mạng? Mùa Thu 1989, nhơn dân  Cộng Hòa Dân chủ Đức đứng lên viết lịch sử dân tộc. Không nhờ bên ngoài. Bằng cách nhơn dân Đức biểu tình ở Bá linh, ở Leipzig, ở Dresde giựt sập Nhà nước-đảng của đảng xã hội thống nhứt, kéo theo công an chánh trị, truyền thông của đảng.

Trong những ngày đầu sau khi bức tường sụp đổ, đại bộ phận dân chúng từng chống chế độ độc tài đều mong muốn, không phải nước Đức thống nhứt, mà một nước Đức Cộng hòa Dân chủ (RDA) thật sự Dân chủ. Thật vậy, kết quả điều tra của tờ báo lớn Spiegel ngày 17/12/1989, cho thấy có 71%  dân chúng Đông Đức trả lời. Riêng một mục sư tham dự cuộc biểu tình vĩ đại ở công trường Alexander, Bá linh, ngày 4/11/1989, phát biểu "Chúng tôi cùng người Đức, chúng tôi có một trách nhiệm trước lịch sử, đó là chỉ ra một chủ nghĩa xã hội thật sự có thể có". Lời phát biểu của ông diễn tả khá trung thực tâm trạng của đa số dân chúng Đông Đức lúc bấy giờ.

Tháng mười năm sau, 2 nước Đức thống nhứt. Cộng hòa Dân chủ Đức thống nhứt vào Cộng hòa Liên bang Đức. Thực tế đất liền đất, Bá linh là Thủ đô của nước Đức thống nhứt. Chung một nền kinh tế thị trường. Nhưng lòng người lại không là một.

Không riêng gì Đông Đức cũ, mà nhiều nước khác trong khối COMECON, sau ngày cộng sản sụp đổ, liền gia nhập khối Âu châu (Liên hiệp-UE), ngày nay muốn tách ra, trở về lại với chính mình. Một hiện tượng hiển nhiên sau khi bức tường không còn chia đôi Bá linh, chia đôi thế giới.

Trước lễ đài kỷ niệm trong nhà thờ Hòa giải, nơi đây trước kia bị cộng sản Đông Đức phá hủy, Bà Thủ tướng Merkel kêu gọi Âu châu hãy cùng nhau bảo vệ những giá trị nền tảng như “dân chủ và tự do”, chống lại những chống đối ngày càng gia tăng. Đó là những giá trị nền tảng làm nên Âu châu, như tự do, dân chủ, bình đẳng, Nhà nước pháp trị và bảo vệ nhơn quyền. Phải luôn luôn bảo vệ vì không phải tự nhiên những giá trị ấy tồn tại và được tôn trọng.

Bà nói thêm “Trong tương lai, phải cùng nhau dấn thân bảo vệ những giá trị của Âu châu, trong lúc mô hình dân chủ tự do ngày càng bị xét lại, ở khắp nơi trên thế giới, và cũng bị xét lại ngay cả ở Âu châu này nữa. Một số nước Âu châu như Hung-gary hoặc Ba-lan, tuy trong những năm 1980, đứng đầu chống cộng sản, ngày nay bị Âu châu lên án là không tôn trọng nghiêm chỉnh những qui tắc của chế độ Nhà nước pháp trị.

Ở khắp nơi, người ta ghi nhận chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang manh nha và dân chủ tự do bị chống đối và phê phán. Tổng thống Đức Frank-Walter Steinmeir, trong bài diễn văn kỷ niệm 30 năm Bức Tường sụp đổ, không quên lời ghi ơn các nước Ba-lan, Hung-gary, Tiệp và Slovaquie, trước Tổng thống của bốn nước trên khán đài, đó là 4 nước trước kia trước kia đã tiên phong chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho bức tường sụp đổ, và tất cả những người đã góp sức cùng xô ngã Bức Tường hôm 9 tháng 11/1989.

Ông nhắc lại những người cách mạng ôn hòa Đông Đức, cũng như vị cụu lãnh đạo liên-xô củ Mikhail Gorbatchev đã can đảm từng bước tiến hành chánh sách hòa hoãn để sau cùng kết thúc chế độ cộng sản độc tài.

Ông cũng mô tả vai trò của Huê kỳ lúc bấy giờ là cánh tay đắc lực của Tây Đức đã đóng góp làm cho nền tảng Bức Tường suy yếu.

Người dân Đức chúng tôi nợ rất nhiều ở nước Mỹ. Tôi mong rằng trong tương lai, hai nước Mỹ và Đức là đối tác cùng tương kính, cùng tôn trọng dân chủ và tự do, cùng chống lại sự ích kỷ quốc gia.

 

Cộng sản thanh toán cộng sản

Lịch sử ghi rõ Bức Tường Bá linh sụp đổ ngày 9 tháng 11 năm 1989 nhưng thật ra, từ mùa xuân, Hung-gary đã mở cửa biên giới qua Áo. Vài hôm sau, có những chuyến xe lửa đặc biệt chạy thẳng qua Tây Đức. Như vậy, ngay từ mùa xuân đã không còn Bức Tường chia hai Bá linh, chia hai nước Đức và thế giới. Khi Đông Đức làm lễ kỷ niệm 40 năm Cộng hòa Dân chủ Đức, hàng trăm ngàn người dân xuống đường biểu tình, thách thức Chủ tịch nước Nonecker, kêu gọi Gorbatchev giúp họ giải phóng Đông Đức. Trong lúc đó, tại Diễn đàn Comecon, Tổng Bí thư cuối cùng của đảng cộng sản Ba lan kề tai hỏi nhỏ ông Gorbatchev rằng ông có thấy thế là “hết” rồi hay không?

Ông Gorbatchev, hơn ai hết, đã biết từ lúc Hung-gary mở cửa. Ông đã không có ý nghĩ phải cúu cộng sản vì ông biết rõ cộng sản đã chết từ lâu rồi, nhưng ông muốn cúu nước Nga để không bị chết chùm theo cộng sản và khối liên-xô.

Từ tháng 11 năm 1985, ông Gorbatchev đã lên tiếng cảnh cáo các nhà lãnh đạo “chế độ dân chủ nhơn dân” là không thể trông cậy vào Liên-xô nữa để tiếp tục nắm quyền mà phải mở cửa, đối thơại, cải tổ, làm theo những đìều mà ông đang làm ở Mạc-tư–khoa.

Tiếp thu được thông điệp của Gorbatchev nên Ba-lan, Hung-gary và Tiệp-khắc đứng lên làm cách mạng dẹp bỏ cộng sản trước, tiếp theo là Đông Đức. Chỉ có hai người là Honecker, Chủ tịch Đông Đức và Ceausescu, Chủ tịch Roumanie, ngoan cố không hưởng ứng mà còn mong đợi ông Gơrbatchhev sẽ bị hạ bệ nên kẻ sống luu đài, người bị cách mạng dân chủ xử tử vì tội, tới giờ chót, ra lệnh quân đội dùng bạo lực đẹp cách mạng.

Hình ảnh ngày 9 tháng 11 năm 1989, dân chúng biểu tình, vui mừng là sức mạnh đã mai táng bảy thập niên cộng sản ngự trị nhưng thật ra chính cộng sản tự tiêu diệt đúng hơn vì  cộng sản không thể sống được như lịch sử đã nói.

Nói cách khác cộng sản chỉ là một dấu ngoặc (parenthèse) thảm hại và chỉ cần đóng dấu ngoặc lại thì đời sống xã hội trở lại bình thường trong một Âu châu không biên giới và một Tây Âu không xung đột.

 

30 năm sau…

Sau chiến tranh, thế giới sống trong cảnh đối mặt nhau giữa Đông và Tây theo cái lô-gíc nhị phân. Bên này chống bên kia. Dân chủ tự do chống độc tài toàn trị. Tây phương chống cộng sản. Sau khi Bức Tường sụp đổ và Liên-xô tan rã, Tây phương nghĩ rằng thế giới từ nay chỉ có một với nền văn minh phổ quát theo mô hình nền văn minh Tây phương.

Nga và các nước trong khối liên-xô cũ được mời khám phá cái hay, cái đẹp của nền dân chủ tự do, đồng thời áp dụng chủ thuyết kinh tế tự do, gia nhập Hiệp ước Bắc Đại Tây dương (Otan) mà trước kia, Tây Âu cam kết với Gorbatchev là không mở rộng Hiệp ước này qua phía Đông. Lợi dụng khối cộng sản sụp đổ, Tây Âu có ý muốn bao vây luôn Nga, áp lực Nga và các nước anh em xhcn cũ áp dụng chủ thuyết kinh tế của bà Thatcher là giảm chi tiêu công cộng, tư hũu hóa toàn bộ, thả nổi giá cả, cải tổ luật xã hội theo chuẩn mực Anh. Thế là các chức sắc cũ cộng sản ở khắp nơi đua nhau chụp giựt cơ hội  trở thành những nhà tài phiệt mới.

Nhiều nước Âu châu phản ứng, dưới nhiều hình thức mà giới cầm quyền ở một số nước gọi đó là “chủ nghĩa dân tộc cực đoan”, là “chủ nghĩa dân túy”,.. Poutine nắm quyền chủ trương phục hồi địa vị cường quốc nước Nga, còn thêm tham vọng muốn dựng lại khối liên-xô, ve vãng thời vang bóng của Staline tuy ông nói “Ngày nay, lập lại cộng sản là người không có cái đầu, nhưng quên hẳn cộng sản là người không có con tim”.

Năm 2014, Viktor Orban của Hung-gary tố cáo tham vọng của phía Tây Âu, lên án giáo điều và ý hệ của Tây Âu, mà quay lại với mô hình toàn trị theo kiểu Singapour, Tàu hay Nga.

Hưởng ứng hiện tượng này không chỉ riêng có các nước cộng sản củ, mà cả nước dân chủ tự do như Ý và nhiều phong trào hay chánh đảng chiềm được số phiếu cao trong các cuộc bầu cử như ở Hòa lan, Áo, Pháp, Đức, …

Vậy Bức Tường Bá linh sụp đổ, 70 năm cộng sản cai trị tiêu vong, ngày nay, đó có phải là thất bại của cách mạng Dân chủ Tự do trước làn sóng dân tộc cực đoan, dân túy chiếm chánh quyền ở nhiều nước Âu châu và cả Á châu hay không?

Theo nhà bình luận Sylvie Kauffmann trên nhựt báo Le Monde thì không phải. Cuộc cách mạng mùa Thu năm 1989 không phải là một thất bại, mà cũng không phải là lịch sử kết thúc như học giả Francis Fukuyama viết.

Đó phải chăng là một khởi đầu mới của lịch sử?

Việt nam cũng có “cách mạng mùa Thu”, cũng có cướp chánh quyền, cũng có tuyên ngôn độc lập nhưng hoàn toàn không đưa đất nước đến Dân chủ Tự do. Trái lại, đó là khởi đầu cho mười triệu người Việt nam tử vong trong 2 cuộc chiến tàn khóc do Hồ Chí Minh khởi xướng vì tham vọng cá nhơn để ngày nay dân chúng bị nô lệ dưới chế độ cộng sản cai trị, Việt nam bị đảng và Nhà nước cộng sản Hà nội bán đáu giá cho Tàu.

Ở Nga và Đông Âu, cộng sản giết cộng sản, chớ không vì một sức mạnh nào từ bên ngoài tới can thiệp. Vậy Việt nam cũng sẽ là trường hợp thứ hai? Hay ở Việt nam, chính dân chúng phải tự mình đứng lên làm lịch sử dân tộc?

 

Nguyễn thị Cỏ May

 

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.