Hôm nay,  

Lúa Đã Đơm Bông Trên Miền Đất Hứa

29/04/202009:28:00(Xem: 5700)

Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học…

Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.

Video: Hello VietNam

https://www.youtube.com/watch?v=94y6svVU4so

                                                           


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQZGifdEylipBgncF-uIGw7ZfmjnpkcHdmdw_XorfasUOz6p1Tz

Lúa đã đơm bông trên miền đất hứa


VideoLa réussite scolaire dans la communauté vietnamienne ...

https://www.youtube.com/watch?v=rZZLLUQPfSo



Pourquoi les Vietnamiens réussissent-ils à l'école? Pourquoi ont-ils fait de l'éducation une priorité ? Pourquoi 



Description: http://www.thecampuscompanion.com/wp-content/uploads/2012/02/graduation.jpg

Lễ tốt nghiệp


Tại Canada, người ta thường nghĩ rằng những học sinh di dân nào nói tiếng mẹ đẻ khác hơn là hai ngôn ngữ Pháp hoặc Anh thì sẽ gặp nhiều khó khăn để có được mảnh bằng trung học, một chìa khóa mở ngõ vào bậc cao đẳng và đại học.

Lý do được đưa ra là bối cảnh kinh tế xã hội không thuận lợi cho các con em di dân trên đường học vấn.

Canada là quốc gia sử dụng hai sinh ngữ chánh, đó là Pháp ngữ tại tỉnh bang Québec và Anh ngữ tại những tỉnh bang khác.

Dân bản địa da trắng được gọi là dân francophone nếu nói tiếng Pháp và  anglophone nếu họ nói tiếng Anh. Còn tất cả di dân mà tiếng mẹ đẻ không phải là Pháp hoặc Anh thì được xếp vào nhóm dân allophone.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu về giáo dục và di dân đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy mặc dù có trở ngại, khó khăn buổi ban đầu nhưng dần dần sau đó nhóm học sinh di dân đều bắt kịp học sinh bản xứ và trong nhiều trường hợp họ còn vượt trội hơn nhóm đa số da trắng.

Trường hợp nầy không áp dụng cho những con em Việt Nam đã bắt đầu đi học từ những lớp mẫu giáo như tất cả các trẻ em bản xứ.

Theo họ, ý  niệm “học sinh allophone” hay “học sinh xuất thân từ lớp di dân”( élèves issus de l’immigration)  cần phải được xét lại.

Giáo sư Marie Mc Andrew thuộc đại học Montreal, là một nhà chuyên môn về vấn đề giáo dục liên hệ đến các lớp di dân tại Canada. Vài năm trước dây Gs Mc Andrew đã thực hiện một cuộc nghiên cứu thăm dò rộng lớn tại Montréal, Toronto và Vancouver về đề tài: Giáo dục và mối tương quan giữa các sắc dân (L’éducation et les rapports ethniques)

Cuộc thăm dò nhắm vào các học sinh trung học thuộc 7 nhóm ngôn ngữ groupes linguistiques khác nhau so với nhóm ngôn ngữ của đa số, tiếng Anh và tiếng Pháp.

Có lối 54 000 em học sinh trung học được phỏng vấn và các dữ kiện thu lượm được phân tích căn cứ trên 7 biến số variables liên hệ đến hoàn cảnh xã hội, kinh tế gia đình, và 4 biến số dựa trên đặc tính của trường mà các em đang theo học.


pic127.jpg (96039 bytes)

Jean de Brebeuf, một trường trung học tư nổi tiếng tại Montréal


Nét văn hóa gia đình đóng một vai trò quan trọng trong sự thành đạt trong học vấn.


 Daniel Baril. La culture joue un grand rôle dans la réussite scolaire

Selon Marie McAndrew, cet effet résiduel peut être lié à deux facteurs. «Il peut être l'effet du “capital culturel” de la famille, c'est-à-dire l'instruction des parents, l'importance accordée à la réussite scolaire, le lien entre la famille, la communauté et l'école, souligne-t-elle. Mais il peut aussi résulter d'un effet systémique du milieu scolaire, le personnel adoptant des attitudes différentes selon la culture ou le lieu de provenance des élèves. Nous n'avons pas été en mesure de déterminer lequel de ces facteurs est à la source de l'effet résiduel.»

Giả thuyết vốn văn hóa (capital culturel)trở nên nặng ký nếu chúng ta thấy rằng các sinh viên gốc Hoa và gốc Việt không những thành công nhiều hơn, nhưng ở bậc trung học họ còn biết lựa chọn những môn học nào khả dĩ giúp ích cho họ mở rộng ngõ đi trên cao đẳng và đại học.

L'hypothèse du capital culturel prend plus de poids quand on considère que les élèves d'origine chinoise et vietnamienne réussissent non seulement mieux, mais choisissent davantage, au secondaire, les cours qui ouvrent la voie aux études collégiales ou universitaires.

 

Yếu tố  "tồn căn" (effet résiduel)


Sau khi loại bỏ hết các biến số (tuổi tác, nam, nữ, hoàn cảnh xã hội,kinh tế gia đình, nơi sanh, bắt đầu vào học lớp mấy…) Gs Mc Andrew cho biết còn có ảnh hưởng của yếu tố « tồn căn » đã dự phần vào sự thành đạt học vấn của một nhóm sắc dân nào đó.

Các học sinh người Hoa có tỉ số thành công gấp 4 lần nhiều hơn so với dân da trắng nói tiếng Anh tại Toronto.

Tại Montreal, số học sinh  gốc Việt  thành công trong học đường nhiều gấp 3 lần so với  học sinh Québecois chủ nhà nói tiếng Pháp.

Tội nhất là dân nói tiếng créole (créolophone) tức là học sinh da đen gốc Haiti có 4 lần ít cơ may đổ đạt được mảnh bằng Trung Học.


http://www.triumf.ca/sites/default/files/images/UdeMjoinsTriumf.jpg


 

Lợi tức gia đình  

Hình như lợi tức gia đình không không có mấy ý nghĩa  để giải thích sự thành đạt hay sự thất bại của con em di dân allophone mà tiếng mẹ đẻ không phải là Anh hoặc Pháp nhưng đây lại là một chỉ điểm rõ rệt đối với nhóm học sinh da trắng chủ nhà. « Kết quả nghiên cứu  cho thấy một sự thật, đó là khoảng trống giữa hoàn cảnh kinh tế xã hội của nhóm học sinh di dân tại quốc gia tiếp nhận và vốn văn hóa, học vấn thật sự của họ. »

Autre facteur à l'appui de cette hypothèse: le revenu familial s'avère non significatif pour expliquer la réussite ou l'échec scolaire des élèves allophones, alors que cet indicateur demeure pertinent pour le groupe d'accueil. «Les résultats montrent un important hiatus entre le statut socioéconomique de ces élèves dans le pays d'accueil et leur capital culturel et scolaire réel», indique Mme McAndrew”

Nếu xét chung, thì học sinh di dân gốc allophone ở Montreal, Toronto và Vancouver có tỉ số đổ đạt trung học cũng không mấy khác biệt gì với nhóm học sinh thuộc đa số nói tiếng Anh anglophone  hay tiếng Pháp francophone.


Tại Montreal, số học sinh di dân nhóm allophone ít hơn so với nhóm học sinh bản xứ chủ nhà nói tiếng Pháp francophone.

Sau 5 năm trung học tại Québec (études secondaires) thì 45% học sinh  nhóm thiểu số allophone so với 52% nhóm đa số francophone  đổ được văn bằng trung học. Nhưng sau 7 năm học thì nhóm thiểu số bắt gần kịp nhóm đa số. Thiểu số: 59.5% và nhóm đa số :61.6%. 

Đây là một sự sai biệt nhỏ nhoi không mấy có ý nghĩa...

(Chú thích : Tại tỉnh bang Quebec: Tiểu học 6 năm, trung học 5 năm, cao đẳng (CEGEP) 2 năm rồi mới vô đại học được).


82% học sinh gốc Việt có bằng Trung học


Trong nhóm allophone với nhau, nếu căn cứ đơn thuần về nguồn gốc ngôn ngữ mà thôi thì học sinh gốc Việt nổi bật nhất với 82% có bằng Trung học, các em người Hoa chiếm  78%, các học sinh khối Á Rạp, Bắc Phi 67% (Magreb, Liban), các em Iran 65%, các học sinh nói tiếng espagnol (Châu Mỹ Latin) 52%, học sinh da đen nhóm nói tiếng créole (Haiti) 40% và so với nhóm chủ nhà Québécois francophone  nói tiếng Pháp lối 62%  có bằng Trung học.


 Xin nói thêm là từ khoảng trên 20 năm nay, người Hoa di dân ồ ạt qua Canada. Họ đến từ lục địa Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan. Di dân hợp pháp (đoàn tụ, hoặc đầu tư…) và di dân lậu, chui, lấy vợ lấy chồng có quốc tịch Canada…Năm 1981 có 300 000 người Hoa sống tại Canada. Đến năm 2001, con số trên tăng lên 1 029 400 người tương đương 3,5% dân số Canada.


Tại Toronto và Vancouver, các em học sinh gốc Hoa có kết quả học vấn cao hơn các nhóm đa số da trắng nói tiếng Anh anglophone. Số các em học sinh gốc Hoa có bằng trung học nhiều gấp 2 hoặc 3 lần hơn so với các em học sinh da trắng anglophone.


Năm 2012, có tất cả  265,000 sinh viên ngoại quốc  đến Canada  du học trong số nầy nhóm Trung Quốc đông nhất với 80 000 người. 

In 2012, Canada welcomed about 265,000 international students. Over 80,000 Chinese students made the choice to study in Canada, representing the largest group of foreign students in our country

http://www.canadainternational.gc.ca/china-chine/study-etudie/index.aspx?lang=eng


Con em gốc Á châu nổi bật trong học vấn


Theo Cécilia Gabizon trong trang Le Figaro fr. cho biết, con em gốc Á châu tại Pháp, trong đó có con cháu người Việt tị nạn đã nổi bật trong học vấn. Các cháu thuộc thế hệ thứ 2 đã vượt thoát ra ngoài sự yếu kém về văn hóa của thế hệ cha mẹ…

Khảo cứu Hoa kỳ đã ghi nhậnt từ lâu thành tích sáng chói trong học đường của các học sinh và sinh viên gốc Á châu. Người ta thường gọi đó là model minority (nhóm thiểu số tiêu biểu) vì họ đã thành công tại Hoa Kỳ. Không những họ qua mặt các nhóm thiểu số khác mà thậm chí còn ăn đứt luôn cả nhóm Mỹ trắng chủ nhà.


Asian Americans have been  frequently described as the model minority because they are believed to have succeeded  in the US, surpassing not only other racial  minority groups but even white Americans (Hirschman &Wong 1986- Kim &Chun 1994- S.J. Lee 1996)


Kết Luận


Gs Marie Mc Andrew đã đưa ra nhận xét : Sự thành đạt trong học đường-cũng như sự chuyên cần trong học vấn-càng nổi bật lên hơn nữa nếu « việc học hành là điều quan trọng ngay từ trong gia đình, cha mẹ là những người có trình độ văn hóa, đi tị nạn hoặc di dân vì muốn cho con cái họ có được cơ may thành công.»


Marie Mc Andrew, prof à l’Université de Montréal, le résume bien. La réussite scolaire – et donc la persévérance scolaire – est plus grande «si l’éducation est importante au sein de la famille, si les parents sont éduqués ou ont immigré pour que leurs enfants aient la chance de l’être».


Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa./.


 

Tham Khảo :


  • Asian American college students as model minorities : An examination of the overall competence

          http://www-psych.stanford.edu/~tsailab/PDF/AA%20College%20Students.pdf


  • Hieu Van Ngo, Barbara Schleifer. Immigrant children and youth in focus

http://canada.metropolis.net/pdfs/Van_ngo_e.pdf


      -Tại sao sinh viên du học không về nước? Nguyễn Hưng Quốc
      (Nguồn: VOA)

   http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=219778&zoneid=2


Montreal



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.