Hôm nay,  

Hành Trình Đến Kẻ Jazz

03/09/202100:00:00(Xem: 4729)


nie1bb81m-vui

 

Và thế là tôi đã bị quỷ ám.

Tôi đã từng nghe người ta nói rằng một khi bị ám, mình sẽ mất hết nhân cách.  Cách suy nghĩ không còn được thuần khiết.  Đàn ông sẽ hành động như những kẻ vô luân.  Đàn bà sẽ trở nên lăng loàn, không còn phẩm hạnh.

Để tránh quỷ nhập, ta phải bịt tai, từ chối nghe loại nhạc mê muội kia.  Loại nhạc mà tiếng kèn tiếng trống tự nhiên làm toàn thân cảm thấy rậm rật, giậm giật. Ta sẽ không còn có thể kiểm soát chính mình, và như thế tà ma sẽ nhập vào hồn xác ta.

Như thế thì, tôi đã lỡ để quỷ nhập.

Tôi còn nhớ, đó là mùa hè năm 1978.  Tôi đã lạc đến Key West, thành phố đảo cuối cùng trong dãy đảo ở miền cực nam Florida.  Mùa hè ở đó chang chang nắng, và gió phần phật tuốt những tàng dừa xanh mướt.  Tôi đã nằm trên ghế fauteuille bên cạnh hồ tắm, nghe nắng hâm hấp da thịt, và gió mơn man ve vuốt từ kẽ chân đến ngọn tóc.  Trong trạng thái mơ màng say, tôi đã nghe tiếng kèn vút lên, cuộn trong tiếng gió, lơ lững trên tít cao. Một giọng khàn đục thì thầm bên tai, không hẳn nói, không hẳn hát. Hush now.  Don’t explain.  What is there to gain? Skip that lipstick.  Don’t explain… 1

Đó là lần đầu tôi nghe giọng hát của Billie Holiday.  Không phải là một giọng hát tôi cho là hay, không trầm không thanh, thường không ngân, lúc ngân thì nghe hơi run rẩy như thiếu điêu luyện. Nhưng tôi lại bị thu hút bởi giọng hát rất thật ấy.  Giọng hát mời mọc tôi theo vào một vùng cảm xúc thật nồng nàn giữa trưa nắng trên hải đảo.

Đó cũng là lần đầu tiên tôi nghe nhạc jazz.  Trong một không khí lơ đãng, rộng rãi giữa mùa hè.  Tôi đã lặng nếm từng nốt nhạc, nuốt từng con chữ, giữa những ngụm rượu cocktails.  Hồn tôi đã ngây ngất.  Lòng tôi đã tê mê. 

Tôi như bị một coup de foudre, và chẳng bao giờ quên được cái cảm giác mùa hè năm ấy.  Tôi đã lần mò theo Billie Holiday, tìm đến Ella Fitzgerald, rồi Chet Baker, Nat King Cole, Frank Sinatra, trên con đường vào thế giới nhạc jazz.

Năm 1980, tôi dọn về Houston, một thành phố với nhiều quán rượu.  Ở những nơi này, không khí tối và nhỏ hẹp.  Nhưng chật người.  Tôi thấy mình thật lạc lõng cô độc như kẻ lạ.  Cũng ở những quán này, tôi làm quen với tiếng guitar điện ray rứt, tiếng piano hối hả, tiếng contra-bass ồm ồm, tiếng kèn đồng cháy lóe như những đốm lửa.  Những nơi này tôi ít thấy ca sĩ.  Tôi chỉ thấy những người nhạc sĩ rượt đuổi nhau trên tiếng nhạc không ngừng. Tôi đã làm quen với John Coltrane, Miles Davis, Thelonious Monk, Billy Strayhorn, Chick Corea, v.v…

Năm 1984, tôi tìm đến những quán cà phê như Hầm Gió, Mây Bốn Phương.  Tôi kì kèo để hát nhạc jazz, nhưng lần nào cũng như lần nấy, đều bị bác liền tại chỗ.  Hát cho ai nghe? Khách đến quán cà phê là để tìm sống lại ký ức của một thời.  Hãy hát Tôi Đưa Em Sang Sông, Tình Phụ, Hối Tiếc…  Hoặc có mới hơn đi nữa, Bay Đi Cánh Chim Biển, Cơn Mưa Phùn, …  Vả lại, nhạc jazz nghe không lọt tai chút nào…

Tay kèn Jerry Coker đã viết: nếu người nghe có thể ước đoán được gần 50 phần trăm giai điệu và tiết tấu của bài nhạc, họ sẽ cho là bài nhạc hay.  Nếu họ nhận ra hơn 50 phần trăm, thì sẽ cho là bài nhạc rất nhàm chán. Và nếu họ không đoán được, thì bài nhạc được cho là hỗn loạn, hoang mang, bất an… và lẽ dĩ nhiên, rất dở.  2

Đó là đối với thính giả Mỹ.

Những người đến quán cà phê Hầm Gió, Mây Bốn Phương thời ấy, thật vậy, là những người đang tìm lại những giây phút đã mất sau khi Sài Gòn sụp đỗ.  Họ ngồi trong bóng tối, hớp những ngụm cà phê đắng chát, và nghe những Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên để sống lại những gì cuộc di tản đã cướp đi.  Họ không muốn 50 phần trăm.  Họ đòi hỏi 100 phần trăm.

Cũng vì tinh thần vọng cổ ấy mà hầu như nhạc jazz đã bị người Việt hải ngoại chối từ, mặc dù ở Mỹ, nơi nào cũng có đài radio nhạc jazz, thành phố lớn nào cũng có một vài club jazz.

Tôi tự làm một thống kê với một câu hỏi cho những người bạn cùng trang lứa, “tại sao bạn không thích nhạc jazz?” sau khi cho họ nghe một vài bài nhạc jazz kinh điển.  Câu trả lời chung chung là, giai điệu khó nuốt, nghe như bị lạc tông, không có đoạn kết, khó theo.  Nói theo Coker là thính giả không đoán được giai điệu như khi họ nghe nhạc Việt hoặc nhạc pop.

Tôi nghĩ: quanh quẩn chỉ có 12 nốt trong một bát độ, và cũng chỉ có 4017 hợp âm đã định sẵn từ thời cổ điển. Tất cả những chuyển biến hợp âm (chord progression) có lẽ đã được thử nghiệm bởi biết bao nhà nhạc sĩ tài hoa trên thế giới từ thế kỷ thứ 6 đến bây giờ.  Thì vì lẽ gì mà khác, cái nhạc Jazz này?
Những nhà chuyên môn nhạc jazz cho rằng cái khác của nhạc jazz dựa trên hai yếu tố chính, tiết tấu (rhythm) và sự ứng biến (improvisation).  Tiết tấu của jazz dựa trên nhịp chõi.  Cách ứng biến đòi hỏi thấu đáo về hợp âm và chuyển âm. Và nhạc jazz không phải là một “loại” nhạc, mà chính là một “thái độ” đối với nhạc.  Nhạc sĩ jazz thường không dùng nhạc cụ điện tử, mà chỉ những nhạc cụ acoustic để xúc giác có thể trực tiếp chuyển tải tình cảm của họ.  Ngón tay nhấn mạnh hoặc nhẹ.  Làn hơi thổi mạnh hoặc nhẹ.  Đó là những sắc thái họ cần phải cảm được trong lúc tác tạo thanh âm.  Nhạc cụ trở thành một bộ phận nối tiếp của cơ thể.  Giai điệu không còn chỉ là những nốt nhạc, mà là cả một phản ứng tình cảm của người nhạc sĩ.


Người hát nhạc jazz sử dụng giọng ca như một nhạc cụ cũng không ra khỏi những “lề lối” của nhạc jazz.  Nữ ca sĩ Dianna Reeves nói về cách ứng tấu (scat) của người ca sĩ giữa một giàn nhạc:  Họ phải có khả năng uyển chuyển ra vào giai điệu cùng tiết tấu với những nhạc sĩ chung quanh, và đôi lúc tạo âm thanh nhại theo tiếng của nhạc khí như một cách đối đáp bằng ngôn ngữ âm nhạc theo cảm hứng nhất thời.  Nhưng lúc ứng tấu không phải chỉ là tạo những âm thanh vô nghĩa.  “Ứng tấu cần phải kể câu chuyện của nó,” bà Reeves bảo.  Ca sĩ jazz cần phải hiểu rõ những âm thanh đó giống như những ca từ trong bài nhạc.  Chúng phải xuất phát từ đáy lòng, phải chuyên chở những suy tư và ý tưởng thật sự mặc dù là những âm thanh vô nghĩa và chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc nhất thời.  “Jazz là cả một ‘đối thoại’ mật thiết.  [Người ca sĩ] cần phải lắng nghe để có thể trả lời.”  Bà đã cho thí dụ này trong một lớp dạy nhạc.  Lúc người học trò Michael Mayo đang hát, bà đã chen vào bằng một khúc ứng tấu.  Chàng Mayo, không một giây ngập ngừng, đã đáp lại bằng một khúc ứng tấu hài hòa.  Bỗng nhiên ca khúc đã chuyển thành một song ca nhất thời độc đáo không bao giờ có thể lập lại được. 

Không như trong nhạc cổ điển, người nhạc sĩ phải trình bày chính xác theo nhạc bản ghi sẵn, nhạc jazz chú trọng đến cá nhân người nhạc sĩ và nhất là cá tánh của họ.  Vì thế, nhạc sĩ jazz có rất nhiều tự do để uyển chuyển thay đổi.  Nhưng họ cần thấu đáo tiết tấu, nhịp điệu.  Họ cần tạo nên phong cách riêng để hành âm (phrasing), để nhả chữ, để tạo nên cá tánh riêng biệt.  Họ cần phải nhận rõ những âm sắc dị biệt của từng nhạc cụ để làm thêm màu sắc cho giọng ca của họ.  Chính vì những điều này mà ca sĩ jazz thường trao đổi cảm hứng với các nhạc sĩ  đang chung diễn cũng như từ khán thính giả của họ.  Và vì thế mà ta không thấy ca sĩ jazz hát những concert ở sân vận động.  Họ cần đến gần khán giả.  Họ cần cảm nhận cái không khí chân thật.
Ca sĩ Kurt Elling gọi nhạc jazz là hỗn hợp của những loại nhạc khác, vì nhạc jazz có thể lấy nguồn cảm hứng từ bất cứ nhạc gì.  Ta cũng không ngạc nhiên khi thấy ca sĩ từ nhiều nhành nhạc  khác nhau đã tìm đến nhạc jazz, như Renée Fleming và Kathleen Battle, ca sĩ opera, Joni Mitchell và Willie Nelson, ca sĩ folks và country western, vì bị quyến rũ bởi cái phóng khoáng của jazz, cái uyển chuyển của jazz, cái luôn luôn thay đổi của jazz. 

Jazz, một loại nhạc biến chuyển không ngừng.

Vào khoảng 1917 đến 1930, trước sự bành trướng của nhạc jazz tại Harlem và Chicago, nhiều tờ báo lớn ở Hoa kỳ đã khắt khe đưa ra những nhận định không tốt về loại nhạc này. Khi một nhà báo người gốc Jamaica chuyên chống kỳ thị chủng tộc, ông Joel A. Rogers, đã viết rằng nhạc jazz khiến người nghe được buông thả những cảm xúc bị kìm hãm, những người da trắng vội vàng tận dụng lý luận đó để lên án nhạc jazz là một loại nhạc sa đọa của quỷ Satan, và dùng lý luận ấy để cấm cản sự lan tràn của giòng nhạc này.  Ngày nay, nhạc jazz vẫn tồn tại và vẫn rất thịnh hành, nhất là tại những đô thị như New York, London, Paris, Montreal, Tokyo, Moscow, v.v…

Cũng vì cái bất định khó nắm bắt của nhạc jazz mà tôi đã bị mê hoặc, bị “quỷ ám”. 

Lê Vũ, một người bạn nhạc lâu năm, đã đưa đề nghị chuyển dịch ca khúc jazz ra lời Việt, một hình thức Việt hóa nhạc jazz, để đem những tâm tình, cảm xúc dường như rất xa lạ với thính giả Việt, được gần gũi hơn.  Và như thế KẻJazz đã ra đời.  Năm 2016, trang KeJazz.today đã xuất hiện trên mạng với những ca khúc jazz của Mỹ, Pháp, nhạc bosa nova của Ba Tây, nhạc morna của Cabo Verde, được dịch và trình bày bằng Việt Ngữ.  Gần đây, nhạc của những nhạc sĩ jazz Việt Nam như Ngô Minh Trí, Ngu Yên đã đóng góp thêm sắc thái khác cho trang nhạc jazz.

Thân mời các bạn, nhất là những người yêu nhạc, hãy cùng tôi bị “quỷ ám” trên con đường tìm kiếm những cái độc đáo của giòng nhạc khác thường này.
[Attachment:

Trò Chơi (This Masquerade) https://kejazz.today/2018/11/16/tro-choi-2/
Mùa Hè 1942 (The Summer Knows) https://kejazz.today/2017/08/25/mua-he-1942/
Bang Bang (My Baby Shot Me Down) https://kejazz.today/2019/10/25/bang-bang/
Đừng Nói Gì (Don’t Explain) https://kejazz.today/2021/08/20/dung-noi-gi/
Một Chút Jazz Vào Giọng Hát Em (Ngô Minh Trí) https://kejazz.today/2021/08/27/5518/
Hình Như Có Tiếng Tình Yêu (Ngu Yên) https://kejazz.today/2021/02/19/hinh-nhu-co-tieng-tinh-yeu/
   
1. Arthur Herzog Jr. & Billie Holiday, Don’t Explain. 
2. Jerry Coker,  Improvising Jazz.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mùa xuân sang có hoa anh đào... Chúng ta thường nghe câu hát này. Hoa sẽ rơi và mùa xuân sẽ trôi qua. Đó là những gì rất đẹp, rất mong manh và rất vô thường. Mùa xuân không chỉ là sự chuyển giao của thời tiết, mà còn là biểu tượng của sự tái sinh và hy vọng. Từ những cánh hoa anh đào mỏng manh của phương Đông đến khu vườn tràn ngập nắng ấm của phương Tây, mùa xuân là yêu thương, cũng là thân phận mong manh của đời người. Hoa anh đào, và mùa xuân là hiển lộ của vô thường, những gì rất đẹp đang trôi qua.
Nhạc sến và nhạc vàng đều hay. Mỗi bên có chất hay riêng, có vẻ đẹp khác nhau, như những thiếu nữ hoa hậu của các trường trên tỉnh so với những cô thôn nữ dưới quê trong hội trăng rằm. Một điểm thường thấy nhất là gái quê thành thật hơn gái tỉnh. Nhạc sến gây xúc động hơn nhạc vàng. Tháng Sáu ấy, ở trong trại Fort Chaffee chờ người bảo trợ, đêm đêm nằm trong căn phòng san sát nhau, cách một vách mỏng. Nghe đủ thứ chuyện trên đời. Nghe cả đủ thứ loại nhạc bởi những giọng ca cảm hứng. Nhạc vàng thường làm tôi lâng lâng lắng nghe rồi băn khoăn buồn buồn, dù người hát thường không đủ tiêu chuẩn. Rồi một lần, giữa đêm hè nóng nực, một anh lính Biệt Động Quân, người trấn đồn biên giới, cất giọng ca sai cả nốt cao lẫn nốt thấp. Anh hát, “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / khi thấy mai đào nở vàng bên nương…”(1) tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, rồi chảy thành dòng, không thể nào ngưng được. Đó là chất sôi nổi của nhạc sến.
Sức hút của phim nghe qua tưởng hiển nhiên: ba cô gái ngầu trong y phục cầu kỳ, hát những bản tuyên ngôn tự khẳng định dễ thuộc, đi kèm hình ảnh rực rỡ, dàn dựng sáng tạo. Tất cả lại trôi đi trên làn sóng Hàn lưu đang bành trướng khắp thế giới, từ BTS, Blackpink đến Parasite hay Squid Game. Vậy nhưng, thành công đó không hề “đương nhiên”: đây là câu chuyện hoàn toàn mới trong thời buổi hãng phim chỉ thích bấu víu vào thương hiệu quen thuộc; là phim hoạt hình không dựa vào loạt phim sẵn có, lại mang nặng chi tiết văn hóa Hàn và không có siêu sao phòng vé, trong khi kinh phí ở khoảng một trăm triệu đô-la.
Hội đồng quản trị Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật John F. Kennedy tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, do Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm, hôm nay đã biểu quyết thông qua việc đổi tên cơ sở này thành Trump–Kennedy Center.
VVNM 2025 đánh dấu cột mốc 25 năm thành lập giải thưởng văn học lâu đời nhất của người Việt hải ngoại, lồng trong lịch sử 50 năm người Việt tị nạn. Trong hơn 14,600 trang sách là những câu chuyện của đủ loại ký ức, cảm xúc, có đủ cay, đắng, ngọt, bùi. Có những mất mát; chia xa, có những đoàn viên, thành tựu.
"Kỳ thực, ngày nay đa số người ta không đọc sách nữa, mà chỉ liếc nhìn trên mạng những thông tin trong vài phút đồng hồ rảnh rỗi hiếm hoi, và những thông tin ấy cũng chỉ lưu lại trong bộ nhớ không quá vài sát-na. Xu hướng của thời đại là thế. Cuộc sống càng hiện đại tân tiến, con người càng tất bật vội vàng, càng chóng lãng quên, một nghịch lý hết thuốc chữa của đời sống." Đoạn văn này được trích từ Lời ngỏ cuốn tạp luận "Theo dấu thư hương" đầu tiên của nhà văn Trịnh Y Thư. Trong thời đại mà sự tiện lợi có thể đạt đến mức "AI" trong nhiều lãnh vực bao gồm cả sáng tác nhạc, và có thể một ngày nào đó, phải chăng con người không cần viết thư tay bày tỏ tình cảm bằng cảm xúc tự nhiên từ trái tim vì đã có "AI"???
Vào tối Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2025, tại Điểm Hẹn Cà Phê Quận Cam, Coffee Factory (tọa lạc tại 15582 Brookhurst St, Westminster, CA 92683), ca sĩ Thúy Anh cùng hai tâm hồn văn nghệ tuổi đôi mươi, Ethan Trần và Henry Ngô, và những khách mời bất ngờ sẽ cống hiến cho quý thính giả một đêm nhạc được chuẩn bị kỹ luỡng từ âm thanh đến ban nhạc. Đêm nhạc Chốn Xưa do ca sĩ Thúy Anh tổ chức và biên tập với sự hỗ trợ của những bằng hữu đồng nghiệp. Ca sĩ Huy MC và Khôi Hồ phụ trách âm thanh. Ban nhạc bao gồm những thành viên giàu kinh nghiệm: Tateng Katindig (keyboardist), Lê Ngọc (guitarist), Vũ Anh Tuấn (bassist), Hoàng Công Luận (keyboardist), Land Richards (drummer).
Một nghiên cứu mới của Đại học King’s College London cho thấy: chỉ cần dành 20 phút xem tranh trong viện bảo tàng cũng đủ để giảm hormone căng thẳng và giúp cơ thể thư giãn. Thí nghiệm được thực hiện tại Courtauld Gallery ở Luân Đôn – nơi trưng bày các tác phẩm của Manet, Van Gogh và Gauguin. 50 tình nguyện viên, tuổi từ 18 đến 40, được chia làm hai nhóm: một nhóm xem tranh gốc trong phòng trưng bày, nhóm còn lại xem bản sao trong không gian bình thường.
Người đời thường nói Beethoven cô độc trong tình yêu, nhưng cái chết của ông không khép lại trái tim ấy. Giữa đống giấy tờ trong ngăn bàn của thiên tài điếc, người ta tìm thấy một bức thư tình chưa gửi – ngọn lửa còn cháy dở của một cuộc tình bị giấu kín. Bức thư không đề tên người nhận. Chỉ có mấy chữ run rẩy: “Gửi người yêu bất tử.”“Anh chỉ có thể sống trọn vẹn bên em, hoặc không sống gì cả... Anh sẽ lang thang mãi cho đến khi được bay về với vòng tay em.”
Giờ học hôm nay lớp Đại Dương học đọc bài hát Việt Nam! Việt Nam! của nhạc sĩ Phạm Duy. Cô giáo cắt nghĩa những chữ khó bằng tiếng Việt, học trò thay phiên nhau lên bảng viết tiếng Việt và dịch ra tiếng Đức. Trong bài hát, học trò làm quen với những chữ dùng phép ẩn dụ (Metapher) như “vành nôi”, “xương máu”... Học trò đã học “đất” là Erde, “nước” là Wasser. Giờ đây học trò hiểu thêm, khi nói chung, hai chữ “đất nước” nghĩa là quê hương, là tổ quốc. Cô giáo hỏi học trò có những ấn tượng gì sau khi đọc và hiểu nội dung bài hát. Một trò phát biểu: “Việt Nam là đất nước đẹp. Việt Nam muốn sống trong hòa bình.” Cô giáo khen trò giỏi, vì trò đã hiểu câu hát: “Việt Nam không đòi xương máu.” Trò khác nói: “Con thích nhất câu: Việt Nam! Việt Nam! Nghe từ vào đời/ Việt Nam hai câu nói bên vành nôi”. Có mấy trò lại thích câu: Tình yêu đây là khí giới/ Tình thương đem về muôn nơi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.