Hôm nay,  

Văn Chương Trên Giàn Hỏa Thiêu

25/02/202200:34:00(Xem: 3748)

Hình bài chính trang nhất_tay phải

 

Tháng Hai, năm 2022, tờ The Atlantic công bố một bản tin mà người quan tâm đến chữ nghĩa sách vở không thể không nhíu mày suy nghĩ. Theo bản tin, Dân biểu tiểu bang Texas, ông Matt Krause, mới đây đã liệt kê một danh mục hơn 800 nhan đề sách bị liệt vào loại cấm lưu hành trong trường học, trong đó có rất nhiều sách với nội dung liên quan đến vấn đề chủng tộc và đồng tính (gọi chung là LGBTQ). Liền sau đó một nghị sĩ tiểu bang Oklahoma cũng đưa ra một dự luật cấm, không cho các thư viện trường học lưu trữ các sách có chủ đề và nội dung bị xem là “đồi trụy”. Đồng thời, Hội đồng Giáo dục quận hạt McMinn, bang Tennessee đưa ra sắc lệnh cấm học sinh không được phép đọc cuốn Maus của tác giả Art Spiegelman. (Maus là một tác phẩm hình họa, được trao giải Pulitzer, một cuốn tự truyện về người Do Thái bị Đức Quốc xã đối xử tàn bạo như con thú trong các trại tập trung, lò sát sinh thời Đệ Nhị Thế chiến).
 
Vẫn theo bài báo trên, Hội đồng Giáo dục Quận hạt đưa ra lập luận biện minh cho việc cấm chỉ của họ, rằng: Họ không phản đối sách vở nói về vụ thảm sát người Do Thái, nhưng họ không đồng ý với hình thức trình bày câu chuyện với những hình ảnh bạo hành, con người lõa lồ, hành vi tục tĩu và thô bạo như con thú, v.v. Họ kết luận sách vở kiểu này không tương thích với thanh thiếu niên đang theo học tại nhà trường.
 
Thực chất, đây là một vụ kiểm duyệt, không hơn không kém. Kiểm duyệt sách văn học (các nhan đề sách bị cấm đa phần là sách văn học) có nguyên ủy từ sự không hiểu hay không chịu hiểu từ phía nhà cầm quyền. Cấm xuất bản, trù giập, cô lập, gây khó dễ, bỏ tù nhà văn… là những biện pháp thường thấy nhà cầm quyền đem ra áp dụng để giập tắt tiếng nói phản biện, không theo đúng chính sách, có hại cho sự tồn tại của chế độ. Điều này, ở Việt Nam, đứa trẻ nít cũng biết, thiết tưởng tôi chẳng cần nói gì thêm.
 
Kiểm duyệt sách là sản phẩm của các chế độ phong kiến. Dưới đời Thuận Trị nhà Thanh bên Tàu, tại các nhà học của phủ huyện có dựng bia đá ghi rõ: sinh viên không được “công khai phát ngôn;” không được “lập hội kiết xã;” không được “san khắc văn tự.” Nghĩa là không được tự do ngôn luận; không được tự do lập hội; không được tự do xuất bản. Kim Thánh Thán, nhà phê bình lớn nhất trong văn học sử Trung quốc, sinh sống vào thời này, bị tội chết vì đã vi phạm cấm lệnh. Thế nhưng chẳng gì mỉa mai và chua xót hơn, những cấm lệnh dưới triều đại phong kiến ấy ngày hôm nay vẫn tồn tại một cách nghiệt ngã trong xã hội Việt Nam cộng sản.
 
Kiểm duyệt là hành động sai khiến bởi bản năng nhiều hơn là lý trí, xuất phát từ nỗi lo sợ của kẻ nắm quyền lực những ý tưởng trong sách vở sẽ làm tổn hại đến chế độ, sức mạnh, quyền cai trị của nhà cầm quyền, và họ nhân danh ý thức hệ (của họ) để thẳng tay đàn áp. Ai cũng biết vụ kiểm duyệt sách lớn nhất, kinh khiếp nhất trong lịch sử loài người là vụ đốt sách, giết Nho sinh do Tần Thủy Hoàng Đế nghe lời ông thừa tướng Lý Tư thực hiện. Tất cả sách vở của Nho gia từ nhiều trăm năm trước đó do Khổng Tử và các môn đệ của ngài san định bị đem ra đốt “để làm trăm họ ngu tối khiến cho thiên hạ không được lấy điều xưa mà chê ngày nay” như Tư Mã Thiên viết trong bộ Sử Ký vĩ đại của ông.
 
Bên trời Tây, đốt sách với mục đích triệt tiêu mọi di sản văn hóa của một dân tộc hay một sắc dân, phần nhiều chỉ xảy ra vào thời Cổ/Trung đại như vụ đốt thư viện Alexandria xứ Ai Cập thời đế quốc La Mã; vụ đốt thư viện thành Baghdad năm 1258; vụ đốt dược thư của các sắc dân bản xứ Mỹ châu Aztec, Maya sau khi thực dân Tây Ban Nha chinh phục Tân Thế giới.
 
Kỳ thực, phần thư là hành động man rợ, có thể sánh với hành động ăn gan nuốt mật kẻ đồng loại. Con người sớm biết điều đó nên sau Tần Thủy Hoàng mãi đến đời Càn Long nhà Thanh mới xảy ra vụ thứ hai, nhưng vụ này nhỏ hơn nhiều và bị đem ra đốt phần nhiều là sách vở bài xích người Mãn Châu do người Hán tộc viết nhằm mục đích khơi dậy lòng ái quốc của người Hán hầu đánh đuổi người Mãn dị tộc ra khỏi đất nước họ.
 
Đông hay Tây, những vụ đốt sách như thế trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại xảy ra không nhiều, bởi ngay cả ở thời Cổ đại người ta cũng đã mơ hồ cảm thấy đốt sách là hành vi tồi tệ đáng khinh bỉ, nó chỉ để lại vết nhơ khôn  tẩy xóa  cho hậu thế và bị xem là bề trái đen tối ngạo mạn của cái-gọi-là văn minh. Mặc dù rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại, người ta chém giết nhau không gớm tay, nhưng đốt sách thì không xảy ra bao nhiêu.
 
Hơn nữa, làm sao dùng ngọn lửa “thiêu hủy” được cái vô hình tướng? Làm sao “thiêu hủy” được tư tưởng trong đầu óc con người? Sau khi Tần Thủy Hoàng Đế đốt Nho kinh, giết Nho sinh, tư tưởng Nho giáo ngay sau đó, vào thời nhà Hán, phát triển như thế nào trên đất Tàu thì ta cũng đã biết. Và ngày nay tư tưởng khao khát tự do của người dân Hong Kong vẫn mãnh liệt hơn bao giờ cho dù nhà nước cộng sản Bắc Kinh không ngớt tìm đủ mọi biện pháp bịt miệng họ, kể cả bắt bớ bỏ tù văn nghệ sĩ.
 
Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu.
 
Câu thơ của Vũ Hoàng Chương nói lên cái khí khái của những con người vẫn còn tin tưởng vào sức mạnh của chữ trước ngọn lửa của bạo lực.
 
Nhưng cũng chính bởi thế tôi đã rất kinh ngạc khi biết có một vụ đốt sách xảy ra tại Nam Việt Nam ngay sau 1975. Học giả Nguyễn Hiến Lê thuật lại sự việc này trong bộ Hồi Ký của ông xuất bản năm 1988 tại Mỹ, như sau:
 
“Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền [Cộng sản] là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn Hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Qúy Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; từ điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng văn hóa ở bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc. Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các từ điển thôi. Như vậy, chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh Phụ Ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo…”
 
Thế kỷ XX chứng kiến hai vụ đốt sách: một, Quốc xã Đức thập niên 30; hai, Cộng sản Việt Nam thập niên 70. Vụ thứ nhất, cả thế giới rùm beng phản đối, kết án, để rồi sau đó xúm lại đập tan tành Hitler và bè lũ. Vụ thứ hai, chẳng ai thèm mở miệng, một phản ứng tiêu cực chiếu lệ cũng không, và những kẻ đốt sách cho đến ngày nay vẫn sống nhởn nhơ, trâng tráo. Lịch sử trong men say chiến thắng lên cơn đồng thiếp giở trò cưỡng bức vô-văn-hóa cực kỳ man rợ.
 
Lịch sử ấy được nhà văn Ngô Thế Vinh thuật lại nhiều lần trong các tác phẩm của ông, viết với nhiều đau xót và phẫn nộ. Là nhà văn lại phải chứng kiến cái trò phản-văn-hóa man rợ đó, Ngô Thế Vinh đau xót là phải. Trong cuốn Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa, ông miêu tả cảnh đốt sách và biểu lộ nỗi phẫn nộ của mình như sau:
 
“[…] Những ngày sau 30/4/1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới tòa báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là Ngụy. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng Vệ Binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần khích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hóa Mỹ-Ngụy, chúng giẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách Học Làm Người. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong tòa nhà triển lãm Tội Ác Mỹ Ngụy cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết. […]”
 
Khác với Nguyễn Hiến Lê – tuy khá bất bình nhưng chỉ miêu thuật sự việc với đôi mắt bàng quan – nhà văn Ngô Thế Vinh đã không che giấu được sự phẫn nộ trong lòng khi viết những dòng chữ trên.
 
Phẫn nộ là phải.
 
Đồng ý, có kẻ say men chiến thắng không kềm chế được bản năng thú tính.
 
Đồng ý, có kẻ ăn theo, tâng công dua nịnh hầu kiếm chút bổng lộc, hư danh.
 
Đồng ý, trí thức miền Bắc lúc bấy giờ dửng dưng, xem như không phải chuyện của mình.
 
Đồng ý, trí thức miền Nam thuộc chế độ cũ thì bó tay bất lực vì đang nằm trong lao tù khắp ba miền đất nước.
 
Nhưng còn trí thức miền Nam thiên tả (trong cũng như ngoài nước), những người còn chút tiếng nói trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam như nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, những người có học vị bên Tây, bên Mỹ, thì sao không thấy ai lên tiếng?
 
Đó cũng là vết ô nhục muôn đời khôn tẩy xóa!
 
*
 
Cái khôi hài là sự kiểm duyệt đôi khi đến từ một tập thể con người trong xã hội văn minh nhưng với khối óc u mê, cực đoan, bảo thủ và đầy thành kiến. Bạn nghĩ nước Mỹ tự do bình đẳng từ ngày lập quốc năm 1776 đến giờ không có kiểm duyệt ư? Bạn sai. Cuốn tiểu thuyết kinh điển The Invisible Man của nhà văn Ralph Ellison bị cấm, không được đem ra giảng dạy tại nhiều trường đại học Mỹ chỉ vì có chữ “nigger” trong sách! Một ta-bu thời đại. Những tác phẩm kinh điển của nhà văn Henry Miller, như cuốn Tropic of Cancer, lúc đầu cũng bị cấm xuất bản ở Mỹ vì bị xem là vô luân, và tác giả đã phải tìm nhà xuất bản bên Pháp để đưa sách mình đến tay độc giả Mỹ.
 
Và thật kinh ngạc những tác phẩm tiểu thuyết sau cũng có thời bị cấm đem vào nhà trường: The Catcher in the Rye, The Scarlet Letter, Huckleberry Finn, Harry Potter, The Diary of Anne Frank, Animal Farm, To Kill a Mockingbird, The Da Vinci Code, The Grapes of Wrath. Các ông bà mặt mày xấu xí khó đăm đăm trong các Hội đồng Giáo dục đưa ra viện cớ là những cuốn sách đó không tốt đẹp cho tâm hồn thanh thiếu niên! Luận điệu đó có khác gì với ông đạo Khomeini khi ông hạ chiếu chỉ fatwa truy sát, tầm xử nhà văn Rushdie? Khác biệt duy nhất là tác giả các cuốn sách nêu trên, nếu còn tại thế thì sinh mạng họ chẳng bị ai đe dọa thôi.
 
“Tôi không thích những điều anh/chị viết vì nó không phù hợp cảm quan nghệ thuật, căn bản luân lý, tín ngưỡng, quan điểm chính trị… của tôi, và tôi nhất quyết bịt miệng anh/chị. Tôi có quyền làm thế, bởi tôi nhân danh đấng sáng tạo ra tôi và việc làm của tôi được chứng thực bởi những người đứng sau lưng tôi.”
Hành vi, cung cách thô bạo đó của không ít người trong xã hội, bạn đừng tưởng chỉ xảy ra thời Trung cổ. Nó vẫn hung hãn hiện ra như con dao nhọn lúc nào cũng gờm sẵn bên sườn chúng ta ngày hôm nay.
 
Và chính vì thế tôi chẳng ngạc nhiên chút nào khi đọc bài báo nói trên trên tờ The Atlantic về những vụ cấm sách mới đây, đầu năm 2022 này, ngay giữa mùa đại dịch Covid-19, tại các tiểu bang bảo thủ, có nhiều thành kiến về chủng tộc và chính trị, ở miền Nam Hoa Kỳ như Texas, Oklahoma, Tennessee… Tờ báo cũng đưa ra hơn chục nhan đề sách tiêu biểu bị cấm hay sắp bị cấm, phần lớn là sách văn học, có cuốn từng được xem là kinh điển của văn học Mỹ. Danh sách dài lắm, dưới đây chỉ là những cuốn điển hình:
 
To Kill a Mockingbird, tác giả Harper Lee
The Handmaid’s Tale, tác giả Margaret Atwood
The Bluest Eye, tác giả Toni Morrison
Fallen Angels, tác giả Walter Dean Myers
Heather Has Two Mommies, tác giả Lesléa Newman
Maus, tác giả Art Spiegelman
Speak, tác giả Laurie Halse Anderson
His Dark Materials, tác giả Philip Pullman
Looking for Alaska, tác giả John Green
Between the World and Me, tác giả Ta-Nehisi Coates
The Hate U Give, tác giả Angie Thomas
Gender Queer, tác giả Maia Kobabe
In the Dream House, tác giả Carmen Maria Machado
All Boys Aren’t Blue, tác giả George M. Johnson
 
Ở Mỹ, chuyện sách bị cấm từng xảy ra cả trăm năm nay. Cuốn Maus và các sách khác không là những cuốn sách đầu tiên hay sau cùng bị cấm đọc, chúng là nạn nhân của một ý thức hệ cứng nhắc đầy thiên kiến, thù ghét. Những tác phẩm văn học trên đây đôi lúc phải sử dụng đến những ảnh tượng khốc liệt, tàn bạo để minh tường dụng ý của tác giả, nhưng đó là văn học, và hiểu sai văn học là điều khá thường tình xảy ra trong cuộc sống.
 
– Trịnh Y Thư
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
Tình yêu đúng có lẽ là thứ không ai định nghĩa được trọn vẹn, bởi mỗi trái tim đập theo nhịp riêng, mỗi linh hồn khao khát theo cách riêng. Nhưng có điều gì đó huyền bí trong khoảnh khắc hai người gặp nhau, khi ánh mắt chạm ánh mắt, khi giọng nói làm rung động một sợi dây nào đó sâu trong lồng ngực. Người ta gọi đó là pháp thuật ái tình, nhưng khoa học lại nói đó chỉ là dopamine, oxytocin, serotonin đang chơi trò ma thuật với não bộ. Cả hai đều đúng và cả hai đều thiếu sót. Phản ứng hóa học thực sự xảy ra, những chất dẫn truyền thần kinh bùng nổ như pháo hoa trong đầu, khiến ta mất ngủ, mất ăn, mất cả lý trí. Nhưng gọi tình yêu chỉ là hóa học thì giống như gọi bản giao hưởng Beethoven chỉ là sóng âm. Có gì đó nhiều hơn thế, có cả lịch sử cá nhân, nỗi cô đơn tích tụ, khát vọng được thấu hiểu, ước mơ về sự kết nối hoàn hảo. Tình yêu si mê chính là lúc tất cả những thứ này giao hòa, khi ta tin rằng đã tìm thấy mảnh ghép còn thiếu của linh hồn mình.
Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo...
Thỉnh thoảng, chúng ta nghe lời chúc nhau rằng hãy đi như một dòng sông. Lời nghe như thơ, và như dường mang ẩn nghĩa, vì bước đi trong đời người không thể là một dòng sông. Bởi vì bước đi luôn luôn là một lựa chọn giữa những hướng đi, trong khi dòng sông, hay dòng nước luôn luôn là một hướng chảy từ trên cao xuống, lan tỏa, và không phân biệt. Vì nước tự thân là hòa hài với tất cả những gì chung quanh.
Công án Thiền là gì? Có lẽ đây là câu hỏi đầu tiên mà độc giả bài này muốn có câu trả lời để biết trước khi có thể đọc tiếp. Một cách tóm lược và đơn giản, công án Thiền là những lời chỉ dạy của một thiền sư dành cho một đệ tử trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó để vị đệ tử này dùng lời chỉ dạy ấy như một pháp quán để ngộ hay kiến tánh. Trong Thiền Tông Trung Hoa có khoảng 1,700 công án được tích tập bởi những lời dạy của nhiều thiền sư qua các thế hệ. Nhiều vị học Thiền không có cơ duyên thân cận với một bậc Thầy đắc đạo để nhận sự chỉ giáo trực tiếp thì dùng một trong các công án này để tự mình kiến tánh. Nói cho đúng ra, tất cả công án Thiền chỉ có một mục đích duy nhất là làm sạch tạp niệm trong tâm của người tu để khi tâm đạt đến tình trạng tĩnh lặng tuyệt đối thì trí tuệ rốt ráo bừng sáng và có thể thấy tánh. Giống như khi mặt nước lắng trong thì mặt trăng hiện nguyên hình. Vì vậy, quán công án Thiền không phải để tìm câu giải đáp bí ẩn nào đó nằm trong công án ấy mà để tẩy sạch
Trong cõi văn của Phan Tấn Hải, không có cao trào, cũng không có bi kịch. Ông viết như người điềm nhiên ngồi bên dòng nước, không đuổi theo và cũng không muốn chạm vào tốc độ- để chữ nghĩa tự sinh tự diệt trong từng khoảnh khắc, nơi con người đối diện với những thứ bình thường đến một lần trong đời: một căn gác khuya vắng, một cuốn sách mở dở, một cuộc trò chuyện nửa chừng, một khung cửa mở ra buổi sớm đầy bóng nắng, những tiểu tiết ấy làm nên thế giới mùi hương — giản dị nhưng thâm trầm, đời thường với nhiều tầng bóng lá.
Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.