Hôm nay,  

Văn Chương Trên Giàn Hỏa Thiêu

25/02/202200:34:00(Xem: 3855)

Hình bài chính trang nhất_tay phải

 

Tháng Hai, năm 2022, tờ The Atlantic công bố một bản tin mà người quan tâm đến chữ nghĩa sách vở không thể không nhíu mày suy nghĩ. Theo bản tin, Dân biểu tiểu bang Texas, ông Matt Krause, mới đây đã liệt kê một danh mục hơn 800 nhan đề sách bị liệt vào loại cấm lưu hành trong trường học, trong đó có rất nhiều sách với nội dung liên quan đến vấn đề chủng tộc và đồng tính (gọi chung là LGBTQ). Liền sau đó một nghị sĩ tiểu bang Oklahoma cũng đưa ra một dự luật cấm, không cho các thư viện trường học lưu trữ các sách có chủ đề và nội dung bị xem là “đồi trụy”. Đồng thời, Hội đồng Giáo dục quận hạt McMinn, bang Tennessee đưa ra sắc lệnh cấm học sinh không được phép đọc cuốn Maus của tác giả Art Spiegelman. (Maus là một tác phẩm hình họa, được trao giải Pulitzer, một cuốn tự truyện về người Do Thái bị Đức Quốc xã đối xử tàn bạo như con thú trong các trại tập trung, lò sát sinh thời Đệ Nhị Thế chiến).
 
Vẫn theo bài báo trên, Hội đồng Giáo dục Quận hạt đưa ra lập luận biện minh cho việc cấm chỉ của họ, rằng: Họ không phản đối sách vở nói về vụ thảm sát người Do Thái, nhưng họ không đồng ý với hình thức trình bày câu chuyện với những hình ảnh bạo hành, con người lõa lồ, hành vi tục tĩu và thô bạo như con thú, v.v. Họ kết luận sách vở kiểu này không tương thích với thanh thiếu niên đang theo học tại nhà trường.
 
Thực chất, đây là một vụ kiểm duyệt, không hơn không kém. Kiểm duyệt sách văn học (các nhan đề sách bị cấm đa phần là sách văn học) có nguyên ủy từ sự không hiểu hay không chịu hiểu từ phía nhà cầm quyền. Cấm xuất bản, trù giập, cô lập, gây khó dễ, bỏ tù nhà văn… là những biện pháp thường thấy nhà cầm quyền đem ra áp dụng để giập tắt tiếng nói phản biện, không theo đúng chính sách, có hại cho sự tồn tại của chế độ. Điều này, ở Việt Nam, đứa trẻ nít cũng biết, thiết tưởng tôi chẳng cần nói gì thêm.
 
Kiểm duyệt sách là sản phẩm của các chế độ phong kiến. Dưới đời Thuận Trị nhà Thanh bên Tàu, tại các nhà học của phủ huyện có dựng bia đá ghi rõ: sinh viên không được “công khai phát ngôn;” không được “lập hội kiết xã;” không được “san khắc văn tự.” Nghĩa là không được tự do ngôn luận; không được tự do lập hội; không được tự do xuất bản. Kim Thánh Thán, nhà phê bình lớn nhất trong văn học sử Trung quốc, sinh sống vào thời này, bị tội chết vì đã vi phạm cấm lệnh. Thế nhưng chẳng gì mỉa mai và chua xót hơn, những cấm lệnh dưới triều đại phong kiến ấy ngày hôm nay vẫn tồn tại một cách nghiệt ngã trong xã hội Việt Nam cộng sản.
 
Kiểm duyệt là hành động sai khiến bởi bản năng nhiều hơn là lý trí, xuất phát từ nỗi lo sợ của kẻ nắm quyền lực những ý tưởng trong sách vở sẽ làm tổn hại đến chế độ, sức mạnh, quyền cai trị của nhà cầm quyền, và họ nhân danh ý thức hệ (của họ) để thẳng tay đàn áp. Ai cũng biết vụ kiểm duyệt sách lớn nhất, kinh khiếp nhất trong lịch sử loài người là vụ đốt sách, giết Nho sinh do Tần Thủy Hoàng Đế nghe lời ông thừa tướng Lý Tư thực hiện. Tất cả sách vở của Nho gia từ nhiều trăm năm trước đó do Khổng Tử và các môn đệ của ngài san định bị đem ra đốt “để làm trăm họ ngu tối khiến cho thiên hạ không được lấy điều xưa mà chê ngày nay” như Tư Mã Thiên viết trong bộ Sử Ký vĩ đại của ông.
 
Bên trời Tây, đốt sách với mục đích triệt tiêu mọi di sản văn hóa của một dân tộc hay một sắc dân, phần nhiều chỉ xảy ra vào thời Cổ/Trung đại như vụ đốt thư viện Alexandria xứ Ai Cập thời đế quốc La Mã; vụ đốt thư viện thành Baghdad năm 1258; vụ đốt dược thư của các sắc dân bản xứ Mỹ châu Aztec, Maya sau khi thực dân Tây Ban Nha chinh phục Tân Thế giới.
 
Kỳ thực, phần thư là hành động man rợ, có thể sánh với hành động ăn gan nuốt mật kẻ đồng loại. Con người sớm biết điều đó nên sau Tần Thủy Hoàng mãi đến đời Càn Long nhà Thanh mới xảy ra vụ thứ hai, nhưng vụ này nhỏ hơn nhiều và bị đem ra đốt phần nhiều là sách vở bài xích người Mãn Châu do người Hán tộc viết nhằm mục đích khơi dậy lòng ái quốc của người Hán hầu đánh đuổi người Mãn dị tộc ra khỏi đất nước họ.
 
Đông hay Tây, những vụ đốt sách như thế trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại xảy ra không nhiều, bởi ngay cả ở thời Cổ đại người ta cũng đã mơ hồ cảm thấy đốt sách là hành vi tồi tệ đáng khinh bỉ, nó chỉ để lại vết nhơ khôn  tẩy xóa  cho hậu thế và bị xem là bề trái đen tối ngạo mạn của cái-gọi-là văn minh. Mặc dù rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại, người ta chém giết nhau không gớm tay, nhưng đốt sách thì không xảy ra bao nhiêu.
 
Hơn nữa, làm sao dùng ngọn lửa “thiêu hủy” được cái vô hình tướng? Làm sao “thiêu hủy” được tư tưởng trong đầu óc con người? Sau khi Tần Thủy Hoàng Đế đốt Nho kinh, giết Nho sinh, tư tưởng Nho giáo ngay sau đó, vào thời nhà Hán, phát triển như thế nào trên đất Tàu thì ta cũng đã biết. Và ngày nay tư tưởng khao khát tự do của người dân Hong Kong vẫn mãnh liệt hơn bao giờ cho dù nhà nước cộng sản Bắc Kinh không ngớt tìm đủ mọi biện pháp bịt miệng họ, kể cả bắt bớ bỏ tù văn nghệ sĩ.
 
Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu.
 
Câu thơ của Vũ Hoàng Chương nói lên cái khí khái của những con người vẫn còn tin tưởng vào sức mạnh của chữ trước ngọn lửa của bạo lực.
 
Nhưng cũng chính bởi thế tôi đã rất kinh ngạc khi biết có một vụ đốt sách xảy ra tại Nam Việt Nam ngay sau 1975. Học giả Nguyễn Hiến Lê thuật lại sự việc này trong bộ Hồi Ký của ông xuất bản năm 1988 tại Mỹ, như sau:
 
“Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền [Cộng sản] là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn Hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Qúy Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; từ điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng văn hóa ở bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc. Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các từ điển thôi. Như vậy, chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh Phụ Ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo…”
 
Thế kỷ XX chứng kiến hai vụ đốt sách: một, Quốc xã Đức thập niên 30; hai, Cộng sản Việt Nam thập niên 70. Vụ thứ nhất, cả thế giới rùm beng phản đối, kết án, để rồi sau đó xúm lại đập tan tành Hitler và bè lũ. Vụ thứ hai, chẳng ai thèm mở miệng, một phản ứng tiêu cực chiếu lệ cũng không, và những kẻ đốt sách cho đến ngày nay vẫn sống nhởn nhơ, trâng tráo. Lịch sử trong men say chiến thắng lên cơn đồng thiếp giở trò cưỡng bức vô-văn-hóa cực kỳ man rợ.
 
Lịch sử ấy được nhà văn Ngô Thế Vinh thuật lại nhiều lần trong các tác phẩm của ông, viết với nhiều đau xót và phẫn nộ. Là nhà văn lại phải chứng kiến cái trò phản-văn-hóa man rợ đó, Ngô Thế Vinh đau xót là phải. Trong cuốn Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa, ông miêu tả cảnh đốt sách và biểu lộ nỗi phẫn nộ của mình như sau:
 
“[…] Những ngày sau 30/4/1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới tòa báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là Ngụy. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng Vệ Binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần khích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hóa Mỹ-Ngụy, chúng giẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách Học Làm Người. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong tòa nhà triển lãm Tội Ác Mỹ Ngụy cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết. […]”
 
Khác với Nguyễn Hiến Lê – tuy khá bất bình nhưng chỉ miêu thuật sự việc với đôi mắt bàng quan – nhà văn Ngô Thế Vinh đã không che giấu được sự phẫn nộ trong lòng khi viết những dòng chữ trên.
 
Phẫn nộ là phải.
 
Đồng ý, có kẻ say men chiến thắng không kềm chế được bản năng thú tính.
 
Đồng ý, có kẻ ăn theo, tâng công dua nịnh hầu kiếm chút bổng lộc, hư danh.
 
Đồng ý, trí thức miền Bắc lúc bấy giờ dửng dưng, xem như không phải chuyện của mình.
 
Đồng ý, trí thức miền Nam thuộc chế độ cũ thì bó tay bất lực vì đang nằm trong lao tù khắp ba miền đất nước.
 
Nhưng còn trí thức miền Nam thiên tả (trong cũng như ngoài nước), những người còn chút tiếng nói trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam như nữ bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, những người có học vị bên Tây, bên Mỹ, thì sao không thấy ai lên tiếng?
 
Đó cũng là vết ô nhục muôn đời khôn tẩy xóa!
 
*
 
Cái khôi hài là sự kiểm duyệt đôi khi đến từ một tập thể con người trong xã hội văn minh nhưng với khối óc u mê, cực đoan, bảo thủ và đầy thành kiến. Bạn nghĩ nước Mỹ tự do bình đẳng từ ngày lập quốc năm 1776 đến giờ không có kiểm duyệt ư? Bạn sai. Cuốn tiểu thuyết kinh điển The Invisible Man của nhà văn Ralph Ellison bị cấm, không được đem ra giảng dạy tại nhiều trường đại học Mỹ chỉ vì có chữ “nigger” trong sách! Một ta-bu thời đại. Những tác phẩm kinh điển của nhà văn Henry Miller, như cuốn Tropic of Cancer, lúc đầu cũng bị cấm xuất bản ở Mỹ vì bị xem là vô luân, và tác giả đã phải tìm nhà xuất bản bên Pháp để đưa sách mình đến tay độc giả Mỹ.
 
Và thật kinh ngạc những tác phẩm tiểu thuyết sau cũng có thời bị cấm đem vào nhà trường: The Catcher in the Rye, The Scarlet Letter, Huckleberry Finn, Harry Potter, The Diary of Anne Frank, Animal Farm, To Kill a Mockingbird, The Da Vinci Code, The Grapes of Wrath. Các ông bà mặt mày xấu xí khó đăm đăm trong các Hội đồng Giáo dục đưa ra viện cớ là những cuốn sách đó không tốt đẹp cho tâm hồn thanh thiếu niên! Luận điệu đó có khác gì với ông đạo Khomeini khi ông hạ chiếu chỉ fatwa truy sát, tầm xử nhà văn Rushdie? Khác biệt duy nhất là tác giả các cuốn sách nêu trên, nếu còn tại thế thì sinh mạng họ chẳng bị ai đe dọa thôi.
 
“Tôi không thích những điều anh/chị viết vì nó không phù hợp cảm quan nghệ thuật, căn bản luân lý, tín ngưỡng, quan điểm chính trị… của tôi, và tôi nhất quyết bịt miệng anh/chị. Tôi có quyền làm thế, bởi tôi nhân danh đấng sáng tạo ra tôi và việc làm của tôi được chứng thực bởi những người đứng sau lưng tôi.”
Hành vi, cung cách thô bạo đó của không ít người trong xã hội, bạn đừng tưởng chỉ xảy ra thời Trung cổ. Nó vẫn hung hãn hiện ra như con dao nhọn lúc nào cũng gờm sẵn bên sườn chúng ta ngày hôm nay.
 
Và chính vì thế tôi chẳng ngạc nhiên chút nào khi đọc bài báo nói trên trên tờ The Atlantic về những vụ cấm sách mới đây, đầu năm 2022 này, ngay giữa mùa đại dịch Covid-19, tại các tiểu bang bảo thủ, có nhiều thành kiến về chủng tộc và chính trị, ở miền Nam Hoa Kỳ như Texas, Oklahoma, Tennessee… Tờ báo cũng đưa ra hơn chục nhan đề sách tiêu biểu bị cấm hay sắp bị cấm, phần lớn là sách văn học, có cuốn từng được xem là kinh điển của văn học Mỹ. Danh sách dài lắm, dưới đây chỉ là những cuốn điển hình:
 
To Kill a Mockingbird, tác giả Harper Lee
The Handmaid’s Tale, tác giả Margaret Atwood
The Bluest Eye, tác giả Toni Morrison
Fallen Angels, tác giả Walter Dean Myers
Heather Has Two Mommies, tác giả Lesléa Newman
Maus, tác giả Art Spiegelman
Speak, tác giả Laurie Halse Anderson
His Dark Materials, tác giả Philip Pullman
Looking for Alaska, tác giả John Green
Between the World and Me, tác giả Ta-Nehisi Coates
The Hate U Give, tác giả Angie Thomas
Gender Queer, tác giả Maia Kobabe
In the Dream House, tác giả Carmen Maria Machado
All Boys Aren’t Blue, tác giả George M. Johnson
 
Ở Mỹ, chuyện sách bị cấm từng xảy ra cả trăm năm nay. Cuốn Maus và các sách khác không là những cuốn sách đầu tiên hay sau cùng bị cấm đọc, chúng là nạn nhân của một ý thức hệ cứng nhắc đầy thiên kiến, thù ghét. Những tác phẩm văn học trên đây đôi lúc phải sử dụng đến những ảnh tượng khốc liệt, tàn bạo để minh tường dụng ý của tác giả, nhưng đó là văn học, và hiểu sai văn học là điều khá thường tình xảy ra trong cuộc sống.
 
– Trịnh Y Thư
 

Có những tác phẩm sinh ra trong bóng tối mà không vì thế trở thành bóng tối. Trái lại, chúng như một đốm lửa nhỏ cháy mãi qua nhiều năm tháng lưu lạc của lịch sử. Der Kaiser von Atlantis của Viktor Ullmann và Peter Kien là một tác phẩm như thế, thai nghén trong trại Theresienstadt, giữa cái đói, cái lạnh, cái chết và một thế giới đã bị bạo lực xô đến tận cùng. Bị cấm. Bị vùi lấp. Nhưng nó không chết. Nhiều thập niên sau, nó lại bước ra ánh sáng, hóa thân sang một hình thức khác, tái sinh qua cuốn truyện tranh Death Strikes: The Emperor of Atlantis của Dave Maass và Patrick Lay.
Ngày xửa ngày xưa, vị vua trẻ của xứ Amarapoora sống trong sự xa hoa tột bậc. Cung điện của ông được làm bằng pha lê, bao quanh bởi những khu vườn đẹp đến nỗi không từ ngữ nào có thể diễn tả được. Ông sở hữu của cải, châu báu, người hầu, vũ công, nhạc công và những người vợ đến từ nhiều vùng đất. Thần dân yêu mến ông, và các vị quan của ông thì trung thành và khôn ngoan. Không gì làm phiền ông, và không gì bị từ chối đối với ông. / Long ago, the young King of Amarapoora lived in extraordinary luxury. His palace was made of crystal, surrounded by gardens so beautiful that words could not describe them. He possessed wealth, jewels, servants, dancers, musicians, and wives from many lands. His people adored him, and his ministers were loyal and wise. Nothing troubled him, and nothing was denied to him.
Đây chính là một trong những khoảnh khắc giàu ý nghĩa nhất trong truyện ngắn, và Joyce đã dàn dựng với dụng ý mỉa mai tinh tế. Giọng điệu nội dung của bài thơ và khung cảnh xung quanh cố tình đối chọi nhau, và sự căng thẳng đó là chìa khóa để hiểu được cốt lõi cảm xúc của câu chuyện; một khoảnh khắc cảm xúc chân thành chỉ càng làm nổi bật việc các nhân vật đã đi xa khỏi những lý tưởng mà họ từng tuyên bố tôn vinh.
Theo Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, thì Thiền Định là một từ phức hợp theo cách tiếng Việt thường dùng hai chữ để dễ nghe. Đúng ra, Thiền Định là dịch từ chữ Phạn dhyāna/samādhi, mà cả hai chữ này cùng đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Hòa Thượng viết rằng, “Mặc dù từ dhyāna trong nguyên nghĩa của nó chỉ hàm ý tư duy, Huyền Trang dịch là tĩnh lự được hiểu là tịch tĩnh và thẩm lự; đó là cách dịch diễn ý như đã thấy trong dẫn chứng trên. Theo diễn ý này, do bởi tính đặc sắc của các dhyāna là vận hành quân bình của trạng thái tập trung (śamatha: xa-ma-tha, chỉ) và quán sát (vipaśyanā: tì-bát-xa-na, quán), mặc dù trong bậc định (samādhi) vẫn có mặt chỉ và quán, nhưng ở đó chỉ được thiên trọng hơn quán.” Theo đó, Thiền có 2 đặc tính: chỉ và quán. Chỉ là định, tức đình chỉ tạp niệm để tâm tập trung vào một đối tượng. Quán là tuệ giác, tức quán sát đối tượng. Nhưng khi quán thì cần phải chú tâm vào đối tượng, tức là chỉ. Vì vậy, chỉ và quán luôn đi với nhau
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?
Ban giám khảo mô tả cuốn sách là một tác phẩm của “nỗi buồn chói sáng”, với văn phong trầm mặc, tiết điệu như thì thầm và không khí nặng tính ám ảnh. Theo bài tường thuật của The New York Times, đây mới là lần thứ ba trong lịch sử 51 năm của giải NBCC mà một tiểu thuyết dịch được trao giải cao nhất ở hạng mục tiểu thuyết. Lần gần nhất điều này xảy ra là năm 2008, khi 2666 của Roberto Bolaño, do Natasha Wimmer dịch từ tiếng Tây Ban Nha, thắng giải; trước đó, năm 2001, Austerlitz của W.G. Sebald, do Anthea Bell chuyển ngữ từ tiếng Đức, cũng được vinh danh. Việc Han Kang được chọn cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng kể của văn chương dịch thuật trong đời sống phê bình văn học Hoa Kỳ.
Ban biên tập Việt Báo chọn mở đầu mục “Ngọn Đèn Còn Thắp” với Albert Camus. Camus không giải thích thế giới. Ông sống với nó. Giữa phi lý, ông tìm ra ba điều: nổi loạn, tự do, đam mê. Thời đại chúng ta, sự phi lý không còn là triết học. Nó là tin tức mỗi ngày. Đọc lại Camus là học cách thắp lại ngọn đèn.
Tình hình chiến tranh bây giờ khó làm chúng ta hình dung về một Iran cổ đại nơi được nghe kể về những cổ tích thơ mộng, nơi các nhân vật mang tâm hồn Bồ Tát bước ra từ sương khói của truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chúng ta cũng sẽ kinh ngạc khi nhớ rằng lịch sử đã từng có các nhà thơ sáng tác trong ngôn ngữ Ba Tư cổ đại (Persian: Farsi), tiền thân của tiếng Iran hiện nay, hay và thâm sâu tới mức không dễ có bao nhiêu thi sĩ hiện nay bước tới mép bờ giấy mực của họ. Và bạn sẽ thấy truyện võ hiệp Kim Dung cũng đã từng lấy một mảng Minh Giáo của Iran cổ đại rất mực từ bi và khắt khe – nơi tu sĩ phải sống độc thân, khổ hạnh, bất bạo động, ăn chay, không rượu thịt -- để chế biến thành cảm hứng văn học, nơi các truyền nhân đều lãng mạn và võ học phi thường như Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu...
Trong đời sống này, có lắm nẻo để trở thành một người “khó chịu”. Người ta có thể đòi hỏi quá nhiều, có thể bất tiện, ương ngạnh, rắc rối, lắm điều, khó hiểu, như một bản văn không sao đọc được. Ở giao điểm của mọi kiểu “khó” ấy, có một thân phận: người đàn bà da đen. Tôi có cảm giác mình biết điều đó từ rất sớm; chữ “khó chịu” đã gắn với tôi nhiều lần hơn là tôi có thể đếm. Nhưng phải đến khi gặp Toni Morrison – gặp tác phẩm và giọng nói của bà – tôi mới bắt đầu nhận ra, mới lần dò được ý nghĩa, cũng như công dụng, của cái “khó” trong chính mình.
Giải Văn Việt lần thứ Mười Một, năm 2025, thể loại Nghiên cứu Phê bình đã được công bố hôm 3/3/2026: Nhà phê bình Tino Cao. Trong tư cách là một trong năm thành viên Ban Xét giải, tôi xin có đôi điểu nhận xét đơn sơ về nhà phê bình Tino Cao...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.