Hôm nay,  

Phải chi ngày ấy...

22/05/202308:52:00(Xem: 4103)
reeducationcamp

Trong thế kỷ qua, ở Việt Nam bỗng từ đâu xuất hiện một con người mà mặt thật được che giấu kỹ dưới nhiều lớp dày mỏng khác nhau, nhiều cách khác nhau. Từ đời sống bản thân, tên họ, tuổi tác. Đều bằng dối trá và bưng bít. Do bản chất của con người gian ác. Điều này, dĩ nhiên là một hiện tượng quái lạ đã khêu gợi sự tò mò của một số người nên đã làm tốn khá nhiều công sức và giấy mực nhưng vẫn chưa phơi bày được đầy đủ sự thật. Thật rùng rợn!
    Con người đó có tên là Hồ Chí Minh. Mà cái tên Hồ Chí Minh cũng do ông chôm của người khác, Cụ Hồ Học Lãm. Và cả cái tên Việt Minh của Cụ Lãm nữa!
    Vì đặc tính không giống ai hết nên tưởng chỉ nói qua «tuổi tác» của ông ta cũng chưa chắc đã rốt ráo. Và ai cũng biết chuyện này cũ như giẻ rách, nói đi nói lại làm gì cho mất thì giờ và còn làm như chuyện này là nặng ký lắm vậy. Đúng. Nhưng nghĩ có nói thêm nhiều nữa thì vẫn chưa đủ. Nó chỉ đủ khi ở Việt Nam có báo chí tự do. Và không còn cái đảng cộng sản ác ôn nữa. Nên có dư thì giờ thì cứ nói cho vài người đừng vội quên sự dối trá của ông ta. Về ngày sinh, tài liệu chánh thức của Hà Nội đều nói ngày sinh của Hồ Chí Minh là ngày 19-05-1890. Hoàn toàn không đúng. Do bịa đặt có dự mưu gian ác. Chuyện này sẽ đề cập tiếp theo. Vậy còn những ngày sinh nào khác cũng chánh thức, cũng do chính đương sự tự tay viết ra khai báo hay không? Có nhiều. Chỉ kể ra những năm sinh khác nhau do chính ông ta khai báo.
    Theo sử gia Daniel Hémery (trong“Hồ Chí Minh, de l’Indochine au Vietnam”, Gallimard, Paris, 1990), trên đơn xin vào trường Thuộc Địa (*) học để sau này trở thành người hữu ích cho chế độ Pháp, do tự tay Hồ Chí Minh viết, ký tên Paul Nguyễn Tất Thành, khai năm sinh là 1892. Đơn gởi từ Marseille, thành phố cảng miền Nam nước Pháp, ngày 15-09-1911, lúc ông vừa tới Pháp để tìm đường cứu thân và cứu cha. Đúng vậy, vì ông đã nhiều lần gởi tiền bằng bưu phiếu (mandat) về nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam và nhờ chuyển cho cha của ông. Nhà cầm quyền thực dân Pháp đã chuyển giao và cha của ông  đã nhận được tiền. Việc làm này rất đáng ca ngợi vì hợp tình hợp nghĩa. Nhưng thời gian sau, việc gởi tiền không thấy nói tới nữa, phải chăng vì ngưng do mất liên lạc?
    Năm 1922, tại Paris, Hồ Chí Minh nhờ một người thợ kim hoàn tên Boulanger giới thiệu vào « Hội kín Thợ Hồ » (Franc-maçonnerie), ông lấy tên Nguyễn Ái Quốc chớ không phải Nguyễn Tất Thành vì tên này được nhiều người biết do ký tên dưới những bài «phong» trên tờ « Le Paria » (Người Cùng khổ). Biết là tên chung (Nguyễn Le Patriote, trước kia là tên Nguyễn Ố Pháp) của các Cụ viết cho Le Paria nhưng ông vẫn tự tay khai năm sinh của mình là 1895 để hợp thức hóa luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc (Jacques Dalloz, Les Vietnamiens de la franc-maçonnerie coloniale, Revue d’Histoire d’Outre-Mers, 3è Trimestre 1998, Paris, Société Française d’Histoire d’Outre-Mers). Tới với Thợ Hồ chỉ trong thời gian ngắn, có lẽ vì ông  không hội đủ tiêu chuẩn hội viên, nhất là về trình độ học vấn. Như luật sư Phan văn Trường là hội viên.
    Riêng năm sinh 1891 rất có thể đúng vì do bà Thanh, chị và ông cả Khiêm, anh của ông, xác nhận rất cụ thể, với dẫn chứng. Trong quyển « Đèn Cù », tác giả Trần Đĩnh có nhắc lại, với cả lời phủ nhận của Hồ Chí Minh «Của người ta sao, cứ để nguyên như vậy… » Cứ để nguyên như vậy, tức ngày 19-05-1890!
    Phải chăng vì ngày này mang ý nghĩa vô cùng quan trọng với ông mà ông không muốn thay đổi để lấy lại ngày sinh thiệt của mình?
    Hồ Chí Minh về Hà nội, qua năm sau, ngày mùng 06-03-1946, ông ký với Pháp Hiệp ước Sơ bộ, đưa Việt Nam trở lại Liên Bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp. Theo Hiệp ước, Việt Nam tương đối độc lập vì có chánh phủ riêng, có Nghị viên, có tài chánh riêng nhưng vẫn kẹt trong Liên Hiệp Pháp. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón rước nhà cầm quyền Pháp tới thay thế quân đội Trung Hoa để giải giới quân đội Nhật sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.
    Đô đốc d’Argenlieu, Toàn quyền Đông Dương, sau khi rời Lào, chiều ngày 18-05-1946, qua Hà Nội. Trong quan hệ chánh phủ với chánh phủ, d’Argenlieu là Đại diện Chánh phủ Pháp tới, Việt Nam phải tổ chức lễ đón rước có cờ quạt đúng theo nghi lễ. Hồ Chí Minh không thể làm khác hơn được. Ông bèn bảo Cụ Vũ Đình Huỳnh (**), thân phụ của nhà văn Vũ Thư Hiên: « Chú hãy kêu gọi dân chúng treo cờ trước nhà, cán bộ treo cờ ở cơ quan, để đón rước Toàn quyền d’Argenlieu, nói là mừng ngày sinh của tôi. Nói thật ra, chẳng những chúng không thèm làm mà còn chửi cho mang nhục».
    Ký Hiệp ước Sơ bộ, còn long trọng đón rước Quan Toàn Quyền Đông Dương tới là biểu hiện tinh thần đầu hàng giặc, là phản quốc trong lúc dân chúng trên cả nước đang hừng hực tinh thần đánh Tây giành Độc lập. Chắc chắn dân chúng Hà Nội chưa kịp quên hôm 02-09-1945, Hồ Chí Minh trong diễn văn mừng ngày lễ độc lập đã long trọng tuyên thệ: «Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp ».
    Trong Nam, cán bộ chính trị của Hà Nội gởi vào để kè Nam Bộ kháng chiến, hỏi Bảy Viễn tại sao không thi hành lệnh ngưng chiến, Bảy Viễn chửi thề: “ĐM. Không ngưng bắn c.c gì hết. Chưa có Độc lập, cứ oánh nữa. Chừng nào có Độc lập mới thôi”.
    Vậy là cờ đỏ sao vàng được treo lên trong ba ngày, từ ngày 18-5 đến hết ngày 20-5. Từ đó cứ tới cái ngày 19/5 là Hà Nội lại ra lệnh dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ Chí Minh. Ngày bịa đặt ra để phục vụ cho ý thứ đồ đen tối nhưng cứ lặp đi, lặp lại, với cả bộ máy tuyên truyền cồng kềnh, phải trở thành như thiệt. Ngày sinh của Bác!
    Thậm chí năm nay, 19/05/2023, Sứ quán VC Hà Nội ở Paris tổ chức kỷ niệm ngày 19/05 lần thứ 133 trong khuôn viên của Tòa Thị xã Montreuil, ngoại ô phía Đông Paris. Thị xã này vẫn còn là sào huyệt của cộng sản Pháp tuy đảng cộng sản Pháp ngày nay chẳng còn được mấy ngoe.
    Nhưng Hồ Chí Minh khi rước Tây trở lại còn âm mưu cùng với Tây đi hành quân lên miền bắc tảo thanh các lực lượng đảng phái Quốc gia yêu nước đánh Tây vì Việt Minh lúc đó còn yếu để giành quyền lãnh đạo kháng chiến. Một mai kháng chiến thành công, với tư thế lãnh đạo kháng chiến, sẽ đưa Việt Nam lệ thuộc Bắc Kinh như Hồ Chí Minh đã thỏa thuận với Mao (Jung Chang và Jon Halliday,“MAO: The Unknown Story”,2005,Anchor Books và Random House).
    Việt Nam ngày xưa thật sự có sinh nhựt không? Có, nhưng chỉ trong phạm vi tín đồ Thiên Chúa giáo hoặc trong giới trưởng giả Tây học mà thôi. Người Thiên Chúa giáo không có ngày giỗ, chỉ có sinh nhựt và họ ăn mừng sinh nhựt. Còn đại đa số dân chúng Việt Nam thì chỉ trọng ngày giỗ kỵ vì ngày giỗ kỵ mang đầy tính văn hóa dân tộc. Từ giỗ tưởng nhớ người thân trong gia tộc, ra tới cúng tế Thần Hoàng, cúng tế những vị anh hùng dân tộc, tới Thần cho cả nước là Quốc tổ.
    Hồ Chí Minh có chấp nhận sinh nhựt, cũng không có gì đáng ngạc nhiên bởi ông là cộng sản tinh ròng. Mà cộng sản Liên Xô là Âu châu, con đẻ của Đế quốc tư bản cũng Âu châu. Riêng cộng sản ở Việt Nam là con đẻ của thực dân Pháp. Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh không còn là Việt Nam, mà là thành phần của giai cấp vô sản quốc tế.
    Nói rõ vấn đề này, xin nhắc lại lời của Hồ Chí Minh: « Cái danh từ Tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới ». (Báo Thanh Niên, phát hành tại Quảng Châu, 20-12-1926).
    Khi có dịp nhắc tới ngày sinh của Hồ Chí Minh, chắc nhiều người chưa quên bài thơ “Hôm nay 19-05”của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện:
 
Hôm nay 19-05
Tôi nằm
Toan làm thơ chửi Bác
Vần thơ mới hơi phang phác
Thì tôi thôi
Tôi nghĩ Bác
Chính trị gia sọt rác
Không đáng để tôi
Đổ mồ hôi
Làm thơ
Dù là thơ chửi Bác
(Hà Nội,1964)
 
Ngày nay, người ta cũng đã phơi bày khá nhiều sự gian dối của ông về vợ con, tình nhân từ lúc còn «bôn ba» ở Paris, ở Tàu, ở Nga cho tới hang Pắc Pó và về Hà Nội. Ở Tàu, Hồ Chí Minh đã chính thức cưới bà Tăng Tuyết Minh, y tá đỡ đẻ. Từ giã vợ, rời lục địa, ra ở Hồng Kông, ông bị Cảnh sát Anh xét khách sạn vào 6 giờ sáng, bắt cùng với Nguyễn thị Minh Khai, hai người còn nằm trên giường, không y phục trên người. Và Nguyễn thị Minh Khai cũng thừa nhận mình là vợ của Hồ Chí Minh. Trong tờ khai tại Đại hội Quốc tế cộng sản năm 1935 ở Moscou, Nguyễn thị Minh Khai khai rõ bà là vợ của Hồ Chí Minh.
    Chuyện vợ chồng này được đảng hợp thức hóa. Khi ngồi vào mâm đông đủ mọi người, Hà Huy Tập đứng dậy, trịnh trọng tuyên bố: « Hôm nay Đảng làm lễ thành hôn cho anh Vương và chị Duy. Hiện nay Đảng ta còn nghèo, lại hoạt động trong vòng bí mật, không cho phép tổ chức lễ cưới lớn cho hai anh chị được, nhưng chúng ta vẫn rất vui. Chúng tôi chúc mừng cô dâu chú rể cộng sản bách niên giai lão». (Theo Nguyệt Tú, tác phẩm Chị Nguyễn thị Minh Khai, xb Phụ Nữ, Hà Nội, 1980).
    Chuyện chủ hôn này cũng lôi thôi. Vẫn theo tác giả Nguyệt Tú (vợ của Lê Quang Đạo, từng làm Chủ tịch Quốc Hội ở Hà nội), sách in lần I, thì Huỳnh Văn Nọn (Cao Bằng) làm chủ hôn, in lần II, thì Hà Huy Tập làm chủ hôn. Vậy xin liệu mà tin Việt Cộng!
    Minh Khai sau đó lấy Lê Hồng Phong. Người con gái của bà tên Hồng Minh. Không biết đây là con của Hồ Chí Minh hay của Lê Hồng Phong? Cũng lại một bí ẩn nữa.
    Tại sao cả chuyện vợ con chính thức như vậy mà Hồ Chí Minh vẫn giấu như mèo giấu cứt? Phải chăng vì ông ta tuổi Tân Mão, cầm tinh con mèo? Vả lại chuyện vợ con, cả mèo chuột, có gì là xấu hổ? Giấu làm gì, ăn quịt mới là xấu hổ chớ.
    Phải chi ngày ấy...
    Ngày nay dân chúng trong nước, nhất là lớp trẻ miền Bắc, lần hồi biết rõ chân tướng Hồ Chí Minh. Dỉ nhiên không mấy ai còn kính trọng ông như trước đây vì bị bưng bít và nhồi sọ. Nhắc về Bác, có một bài thơ châm biếm, nguyền rủa đúng hơn, đầy cay đắng, uất hận:
 
Phải chi ngày ấy bến Nhà Rồng đóng cửa
Nó lang thang quay trở lại Nghệ An
Làm giáo làng hay một chân thư lại
Thì ngày nay dân đã thoát lầm than.
 
Phải chi ngày ấy, sông Sài Gòn nổi sóng
Nó đang leo bỗng rớt mẹ xuống sông
Bấy sấu đói đã reo mừng ruớc bác
Thì ngày sau xương đâu trắng cánh đồng
 
…Nếu nếu nếu, thêm một ngàn lần nếu
Bác chẳng đi! Đi chẳng có ngày về!
Về, thượng mã phong bờ hang Pác  Pó
Thì ngày nay đâu có lũ u mê!
Caubay (theo caphevanhanh, internet)
 
-- Nguyễn thị Cỏ May
 
Ghi chú :
 
(*) Nguyễn Tất Thành viết đơn xin vào học trường Thuộc Địa bị từ chối, vì thủ tục, phải qua chính quyền địa phương chuyển đơn. Và về trình độ, thí sinh phải có văn bằng Tú Tài. Qua vài năm sau, xin vào học, phải qua kỳ khảo hạch (Examen, theo Étienne Aymonier, nguyên Giám đốc Trường Thuộc Địa, đổi qua Hà Nội làm việc, viết tựa cho cuốn sách « La psuchologie du peuple annamite » của  Paul Giran. Và trong « Revue d'Histore moderne et contemporaine », 40-2, avril-juin 1993, Paris).
 
(**) Theo lời kể của ông Vũ Thư Hiên với tác giả sau buổi lễ truy điệu tướng Trần Độ ở thành phố Jena, do anh em gốc sinh viên, công nhân ở Đông Đức cũ tổ chức, để xác nhận lời kể của tác giả về giai thoại này tác giả được nghe các Cụ cán bộ VNQDĐ ở Sài Gòn kể lại.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.