Hôm nay,  

Hai thành phố biển

04/11/202308:07:00(Xem: 2489)
Truyện

city

Ngày thứ tư. Một ngày trước khi lên máy bay trở về thành phố của mình, nàng lăn ra ốm. Cảm thôi, nhưng cảm nặng. Bắt đầu bằng một đêm không ngủ nghẹt cứng mũi và hôm sau dật dờ và mệt như ngàn tảng đá đè nặng lên người. Chắc chắn không thể lết lên máy bay nổi vào hôm sau. Sao thế nhỉ! Vì nàng ngại không bật sưởi mấy đêm? Vì nàng điệu mặc váy ngắn không mang vớ dài hay quần legging ba ngày qua? Vì khí hậu thành phố này đỏng đảnh thất thường độ ẩm cao buổi sáng lành lạnh mà vừa nắng lên đã nóng hực và màn đêm vẫn trùm một chiếc chăn lạnh lên căn nhà cũ nơi bạn nàng đang thuê trọ? Vì mấy câu thơ của anh? Không rõ. Chỉ biết cơn bệnh đến nhanh như một cái lật tay.
    Nàng gọi điện để dời vé máy bay. Hai chuyến, phải, từ đây về đến nhà cần đến hai chuyến bay. Họ ở hai đầu đất nước rộng lớn này. Bốn múi giờ. Hơn sáu ngàn cây số. Chỉ có một chuyến bay cho dời với một mức giá đắt khủng khiếp, chuyến còn lại thậm chí còn không dời được. Chỉ có cách bỏ vé, mua vé mới theo dạng vé giờ chót. Rời rã, mệt mỏi, và bất lực. Chẳng lẽ vì anh, trong tiềm thức, muốn giữ nàng lại bằng một cách thức vô hình nào đó? Hay vì trong tiềm thức nàng đang tìm cớ ở lại để gặp anh? Nàng gọi điện cho văn phòng anh và được trả lời rằng anh sẽ chỉ trở lại vào đầu tuần sau. Vậy là anh không nói dối, không né tránh gặp nàng. Nhưng mà, đầu tuần sau? Nàng lẩm nhẩm. Ở lại một ngày, hai ngày, thậm chí ba ngày, nàng cũng sẽ không gặp được anh. Mà anh cũng sẽ không gặp nàng. Nàng không thể tìm cách thiết lập một cuộc gặp mặt ba hay bốn người khác, còn anh sẽ không gặp nàng một mình. Điện thoại anh tắt máy, đang ở một đất nước khác, không “roaming.” Sẽ không có cách nào liên lạc, và có liên lạc được anh cũng sẽ không trả lời. Vì anh không thể trả lời.
    Tuyệt vọng, nàng nghĩ, thôi, có lẽ đành bỏ vé. Nếu thế, đây sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử 25 năm đi lại bằng máy bay mà nàng lỡ chuyến bay vì bệnh. Thôi thì, cái gì cũng có lần đầu. Chấp nhận số phận, qua đêm nay tính tiếp. Nàng uống hai viên thuốc Ny QuickCold của Vicks bạn nàng đưa, ngủ li bì một ngày một đêm. Hôm sau, như con búp bê vỡ vụn được dán hờ lại bằng mấy miếng băng keo, nàng lục cục dồn chút sức tàn, đưa con gái ra sân bay, về nhà. Giữa họ, đã chấm dứt vĩnh viễn, nàng biết.
    Về nhà, mở máy tính, google map, một địa chỉ hiện lên. Thẫn thờ. Đó là nơi nàng muốn đến nhất ở thành phố này. Và cuối cùng sau chuyến đi 5 ngày, đã trở về nhà, nàng vẫn chưa đến đó. Địa chỉ văn phòng anh. Không phải nhà riêng. Khi máy bay vừa hạ cánh, ngồi trên taxi đi vào thành phố, trong làn gió đêm mát lạnh, nàng căng lồng ngực ra mà hít thở không khí của thành phố anh. Không khí mà anh thở từng ngày. Đường phố nào nhìn cũng thân quen, vì anh chắc chắn đã từng đi qua những con đường này. Ngay cả những ngôi nhà cũng có vẻ thân quen, đặc biệt, và nổi trội, chỉ vì, đây là thành phố của anh. Thành phố của anh. Trái tim nàng rộn lên khi nhìn thấy tên đường có văn phòng anh. Nhưng, đó là một con đường rất dài, và nàng đã không đến được địa chỉ đó. Y như, trong một giấc mơ của nàng, nàng trôi, trôi ngày càng xa. Và, “anh hẹn em nhất định gặp, lần sau”, như nàng đã viết sau giấc mơ đó.
    Nàng biết, chuyến đi này phải diễn ra. Từ khi nàng bắt đầu quen anh, nàng đã muốn đến thăm anh. Chuyến đi lẽ ra đã diễn ra, thậm chí trước khi họ biết nhau. 2018. 2019. 2020. Nhưng chưa bao giờ thành hiện thực. Từ khi họ còn yêu nhau thắm thiết đến khi họ cách trở như hôm nay. Chuyến đi có một ý nghĩa đặc biệt với nàng. Nàng muốn gặp anh nhưng quyết định để cho duyên phận, cho trời quyết định. Không liên lạc được với anh, nàng chỉ định ngày đi vì một phút hứng khởi. Mua vé vào ngày hôm sau. Lăn ra ốm tuần sau đó, mà nàng cười cười bảo bạn nàng là “nếu chỉ chậm vài ngày thôi là đã không quyết định đi rồi.”
    Chuyện tình của họ, thật ra, không phải đang nồng nàn, mà đang đi vào đoạn kết. Tình yêu, ở trạng thái nồng cháy nhất, thường chỉ sống được khoảng 3 năm. Bây giờ đã là cuối năm thứ ba vắt vẻo sang đầu năm tư. Trái ngang. Giấu giếm. Lén lút. Vợ anh phát hiện ra chuyện tình của họ vào khoảng năm thứ hai khi họ đang thắm thiết nhất. Anh nói lời chia tay. Trái tim nàng tan vỡ và 6 tháng phủ đầy nước mắt. Rồi họ lại liên lạc lại, nhưng không được nói chuyện yêu đương nữa. Bằng một cách nào đó, anh thuyết phục được người vợ ngây thơ của mình là họ sẽ chỉ là bạn bè. Vợ anh đồng ý. Tất nhiên họ không chỉ là bạn bè được. Nhưng những liên lạc trong khoảng thời gian đó đã làm nảy sinh những ràng buộc và liên đới khác đủ để giữ chân nàng lại với anh tiếp tục. Một năm. Một năm nữa. Đã có hai lần anh dứt áo ra đi, quyết liệt không biết nàng nữa. Còn nàng dứt áo như cơm bữa. Nhưng rồi cũng chẳng đi được đến đâu. Còn nợ phải trả. Nhưng nợ ảo, nàng cười. Đến giai đoạn cuối này, vợ anh chỉ cần nghe tên nàng đã vật vã ngồi khóc không nín nhiều ngày, người phụ nữ xinh đẹp hiền lành hơi khắc kỷ chỉ biết yêu thương chồng con hết mực đó không thể chịu đựng nổi ý nghĩ chồng mình còn liên lạc với nàng, cho dù dưới bất cứ hình thức nào. Anh rơi vào im lặng. Họ vẫn còn tồn tại cạnh nhau, vẫn có những liên lạc xa gần, dưới những “nick” ảo luôn được tạo ra, bị giết chết, thay mới và tiếp tục bị giết chết của nàng.

    Nàng bấm hủy kết bạn với anh. Hai tài khoản ảo cuối cùng. Sẽ không có tài khoản nào nữa được tạo ra. Cũng sẽ không có một hoạt động chung nào có dính đến anh sẽ được tiến hành. Nàng, đã đến được thành phố đó. Đã làm hết sức của nàng. Đã đến ngưỡng. Một cái ngưỡng tự tạo như là một giới hạn của tất cả những yêu thương quan tâm dồn nén chịu đựng cho một người mà nàng có thể làm được. Để rồi, ra đi, thanh thản. Không bao giờ hối tiếc. Vì đã làm hết sức mình. Vì có cố hơn nữa cũng chỉ thế mà thôi. Vì, trời đã định là họ sẽ không gặp nhau.
    Thành phố này, là một trộn lẫn giữa những thành phố nàng đã sống. Một thành phố biển, giống như thành phố biển nơi nàng sống. Ở đây, biển ấm, như luồng năng lượng ấm sực nồng nhiệt của anh. Ở nơi nàng, biển lạnh, như sự thay đổi xuống lên thất thường của nàng. Từ bờ biển đến bờ biển. Nhưng, cũng như từ hai thành phố biển khác từ một không gian xa xưa. Melbourne-Sydney. Cách nhau 1,000 cây số. Thành phố của anh, giống Sydney đến lạ, có cầu cảng, có phà. Nàng đã từng bỏ tiền mua vé máy bay đến Sydney, chỉ để ngồi khóc ngất một đêm, chỉ để nhớ lại chuyện tình quá khứ 6 năm về trước của nàng. Seabus qua Lonsdale Quay, hay là ferry qua Manly Beach, giống giống nhau. Yêu dấu năm xưa và yêu dấu năm nay. Anh là hình bóng người cũ được nàng khôi phục lại, tạo dựng lại, “resurrect,” giống như người ta “gọi hồn” sống dậy. Thật ra anh chẳng giống gì người yêu cũ của nàng. Họ chỉ tình cờ sống cùng quê, chứ từ gương mặt, tính cách, nghề nghiệp, sở thích, tuổi tác, chẳng có gì giống cả. Chỉ vì nàng thích gọi anh là resurrection, thế thôi. Tình yêu với anh, có phải cũng là tình yêu mô phỏng? Không biết. Chỉ biết là ngày xưa nàng đã yêu anh chàng ở Sydney đến cháy ruột cháy gan, yêu anh ấy nhiều hơn cả bản thân mình. Và bây giờ nàng cũng bao nhiêu lần lịm khóc nghe tình yêu anh thấm mềm phế phủ chạy trong từng đường gân thớ thịt. Dẫu nàng biết anh chẳng yêu nàng bao nhiêu. Người yêu xưa, cũng thế. Ở một góc độ nào đó, anh có yêu nàng nhiều hơn người yêu xưa của nàng. Ừ, thì, ít nhất mình có tiến bộ, nàng cười buồn buồn.
    Những người nàng rất yêu, nàng sẽ không với tới họ. Như anh chàng ngày xưa. Như anh. Những người mà vì họ nàng có thể bỏ tiền mua vé máy bay, đi đến đó, chỉ để cảm thấy mình ở cùng một thành phố. Một thành phố vài triệu dân. Lần đầu anh nói chia tay, nàng khóc ngất và đau đớn nhận ra, hai mươi năm sau, kết quả cũng như hai mươi năm trước mà thôi. Trời đã dạy nàng rất rõ rằng, nàng sẽ không có được những con người đó. Thiên ý. Còn anh? Đến cả một lần gặp mặt, cũng sẽ không có. Nàng nhìn những con sóng lăn theo con phà mà thấy cái đau đớn hai mươi năm xưa và cái đau đớn hôm nay quyện hòa vào nhau, thấm thía, dìu dịu. Già rồi, trung niên rồi, vẫn mau nước mắt nhưng sẽ không lăn ra đòi sống đòi chết nữa, nàng im lặng và chấp nhận nỗi buồn thẩm thấu xuyên suốt cơ thể mình như miếng quỳ tím lặng thầm hóa đỏ trong dung dịch acid sulfuric. Mềm mại, dịu oặt, êm êm, nỗi buồn ngậm lấy nàng trong một lớp kén mềm bao phủ. Không lối thoát.
    Hai mươi năm, chẳng lẽ mình vẫn thất bại và đau khổ như ngày xưa. Con gái vừa hỏi gì đó, nàng ngước mặt lên. Cặp mắt con bé sáng lung linh, gương mặt xinh xắn thông minh giống bố. Ừ, thì mình có nó. Con gái, chồng, gia đình. Bớt bất ổn bản thân. Hai mươi năm tạo dựng, thành quả. Và những hệ lụy và chịu đựng thầm lặng khác.
    Họ sẽ quên nhau. Anh sẽ quên nàng. Nàng sẽ quên anh. Nắng chéo góc hôn lên mái tóc nâu dợn sóng của con gái nàng ánh lên một chút màu hung đỏ. Thành phố này nhiều mưa, bạn nàng bảo nàng may mắn quá vì gặp nắng đẹp long lanh trong suốt những ngày đến đây. Con gái nàng được đi chơi nhiều chỗ dành cho trẻ con trong mấy ngày qua, tiếng cười trong như ngọc, lanh canh, hớn hở.
    Hai ngày trước khi đi, nàng đã đi uốn tóc. Nàng nghĩ anh thích tóc thẳng. Cũng như chồng nàng. Cũng như vợ anh, một mái tóc thẳng mười mấy năm. Vì vậy nên nàng phải uốn. Sẽ già đi, sẽ xấu xí đi. Cũng chẳng sao. Để nhớ, là phải quên anh, và sẽ quên anh. Hồi hộp ngồi trên ghế ở tiệm làm tóc ba giờ đồng hồ, để ngạc nhiên thấy rằng, cũng không đến nỗi xấu lắm. Mái tóc quăn tạo cho nàng một vẻ đằm sâu thăm thẳm, một vẻ đẹp trưởng thành và ‘phức tạp’ (sophisticated) hơn. Có lẽ, cuộc sống, cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Nếu em chỉ có một miếng chanh héo, ừ thì có lẽ em vẫn pha được một ly chanh muối, anh nhỉ!
    “Khi em đã ở trong thành phố biển/Cùng một lớp học với anh/ Vẫn hẹn em nhất định gặp/ Lần sau”. Con đường rộng lớn phía đông. Nàng sờ sờ mái tóc. Đóng máy tính. Sẽ không có lần sau.

-- Trần Hạ Vi

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.