Hôm nay,  

Đạo Quân Vé Số

16/08/202400:00:00(Xem: 2121)

dao quan ve so 1

“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”!

Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ?

Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …

Mâm nào cũng có tui hết ráo!

Dần dà, tôi nhận ra là ngành học cuối có vẻ hợp với cái tạng, và cái tính bao la trời biển (bẩm sinh) nên quyết định sẽ chơi cho tới bến luôn. Quyết định này – tiếc thay – đã không được vị cố vấn giáo dục (academic counselor) củ̉a nhà trường khích lệ:

 “Ấy chớ! Chớ nên đi vào con đường xa xôi, lôi thôi, diệu vợi, hoang vu, âm u, và mịt mù như thế. Với bằng tiến sỹ nhân chủng thì chỉ có hai cách để kiếm sống thôi: đi dậy hoặc đi chạy taxi. Dậy học thì ngay dân bản xứ (da trắng bóc, tóc vàng hoe, mắt xanh lè) cũng khó chen chân, nói chi đến cái ngữ di dân với vốn tiếng Anh ngọng nghịu. Còn chạy taxi ở New York (hay San Francisco) thì cái thứ trông lờ khờ, lừ khừ, lử khử, lù khù, lờ đờ, lù đù, lừ đừ như ông từ vào đền (“y dạng của chú mày”) chắc cũng chỉ được độ ba bẩy/hai mốt ngày là … phải bỏ việc thôi – con ạ!

Tất nhiên, không ai nỡ nói thẳng vào mặt tha nhân những lời lẽ thô bạo và nặng nề đến thế. Tuy thế, tuy chỉ số thông minh trí tuệ (IQ – intelligence quotient) rất thấp nhưng mức độ mẫn tuệ (EQ – emotional intelligence) thì không đến nỗi gì nên tôi cảm nhận được ngay cái tình huống (không được sáng sủa gì lắm) của mình – qua giọng điệu của người đối thoại. Quả là tôi lầm thật, và chắc rằng lầm lắm, chứ chả bỡn đâu!

Nói nào ngay thì tôi cũng chả mặn mà (cái con bà) gì với cái bằng tiến sỹ. May mắn chui tọt ra được xứ người nên cũng có nuôi chút hoài bão là được hấp thụ một mớ kiến thức cơ bản về một ngành học lạ, cùng với ước mơ là sẽ thành lập được phân khoa về nhân chủng học (ở quê nhà) mai hậu.
 
Mai hậu chả biết là bao giờ mà đời người thì ngắn ngủi. Tóc tôi mỗi lúc một bạc dân (rồi bạc ráo) mà đường về thì mãi vẫn chưa có lối. Đã thế, cơm áo không đùa với khách thơ hay khách trú (fresh off the boat) không một xu dính túi, không nghề nghiệp trong tay, bằng cấp và học thức cũng không luôn … nên đành thôi vậy.
 
Giấc mơ nhân chủng học, tới đây, kể như là chấm hết (hay nói rõ hơn là đã chết) nhưng tôi nhất định vẫn chưa chịu mang chôn. Lâu lâu – đi lang thang trên mạng – cứ thấy loáng thoáng đâu đó có đám nào đang xì xào, thăm dò/ tìm kiếm/ xăm xoi/ đào xới/ bới móc/ khai quật (hang hốc, lăng tẩm, mộ bia, mồ mả, xương cốt …) là thế nào tôi cũng dừng chân, ghé mắt xem qua, cho biết .

Có lần, tôi tình cờ xem được đôi ba bài báo có đề cập đến nơi xuất phát của nền văn minh nhân loại:

 
Xin được tóm lược nội dung:

Khi được hỏi “điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của sự văn minh”, nhà nhân chủng học Margaret Mead trả lời rằng:“Helping someone else through difficulty is where civilization starts”. (“Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh”).
Theo bà, trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì chết là cái chắc. Nó  không còn khả năng sinh tồn, và sẽ bị đồng loại sâu xé tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi của kẻ bị thương đã được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây là dấu chỉ của văn minh, di tích về tính tương trợ của giống người.
Margaret Mead từ trần vào ngày 15 tháng 11 năm 1978. Gần nửa thế kỷ sau, sau khi bà tạ thế, mới có một cuộc tái khai quật tại hang động Shanidar (Trung Đông) vào năm 2018. Thành quả vừa được Netflix trân trọng giới thiệu một cuốn phim tài liệu (“Secrets of Neanderthal”) dài 80 phút – sản phẩm của BBC – vào hôm 2 tháng 5 năm 2024, với nhiều khám phá mới lạ có liên quan đến vấn đề thượng dẫn.


Một trong những phát hiện quan trọng đưa đến kết luận là người Neanderthal đã từng thể hiện sự thương cảm và tinh thần tương thân/tương ái lâu lắm rồi, chớ không phải chỉ mới 15 ngàn năm trước đâu!

Fred Lewsey, thuộc phân khoa nhân chủng của Đại Học Cambridge, cũng có bài tóm lược (“Revealed: face of 75,000-year-old female Neanderthal from cave where species buried their dead”) về cuộc khai quật mới mẻ này. Ông ghi nhận: 

“ … remains from Shanidar Cave still show signs of an empathetic species. For example, one male had a paralysed arm, deafness and head trauma that likely rendered him partially blind, yet had lived a long time, so must have been cared for. (hài cốt từ hang động Shanidar còn có dấu hiệu của những giống loài đồng cảm. Chẳng hạn, có một người nam với cánh tay bị liệt, điếc và bị thương trên đầu rất có thể bị mù nữa mà vẫn sống thọ, hẳn đã được chăm sóc đàng hoàng.)

Tinh thần tương trợ của giống người Neanderthal (được thể hiện từ bốn mươi lăm ngàn năm trước) khiến tôi không khỏi bùi ngùi, khi thoáng nhớ đến những mẩu tin ngăn ngắn – xuất hiện hằng ngày – trên mặt báo ở đất nước mình: 

Những đứa bé thơ (không một mái trường) những người già cả neo đơn (không nơi nương tựa) những kẻ thương tật (không nơi bám víu) những mảnh đời cùng quẫn, (không hề được đoái hoài) …  đã biến VN thành một “cường quốc vé số”, theo như ghi nhận của giới truyền thông:

Tuy là “lực lượng kinh tế nòng cốt” của một “cường quốc” nhưng những đạo quân vô danh này luôn bị trấn lột, bóc lột, ức hiếp, và dầy xéo đủ cách bởi bọn trẻ trâu (nghiện ngập) và đám lãnh đạo (đã không còn nhân tính) ở xứ sở này.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh phẫn nộ:

“Cái bọn đặt ra cái nghề kinh doanh mà lợi dụng triệt để lòng thương xót của cộng đồng đối với những người không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động để tăng doanh thu quả rất đáng để khinh bỉ và căm giận. Sáng nay, tui ngồi uống ly cà phê trong 1/2 tiếng đồng hồ để chờ vào cơ quan làm thủ tục giấy tờ ở một thị trấn tại Đồng Nai mà có đến gần 10 người vào mời mua vé số. Người già nua có, trẻ em có, người tàn tật có”.

Từ Việt Nam, thông tín viên Uyên Nguyên (RFA) cho biết:
Mỗi công ty có số lượng nhân viên biên chế chưa tới 50 người, với mức lương khá hời, số còn lại, cũng là nhân viên nhưng không có bất kì một chế độ nào, đó là những người bán vé số. Số lượng này đông gấp nhiều chục lần nhân viên biên chế, nhưng thu nhập và đời sống của họ vô cùng khó khăn. Thậm chí, có nhiều người chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật!

dao quan ve so 3
Những đứa bé thất học, những cụ già không còn sức lao động, những kẻ cơ nhỡ thương tật … ở nước CHXHCNVN (Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc) nếu sống trước đây vài chục ngàn năm – rất có thể – đã được đồng loại cưu mang và nuôi dưỡng tử tế, chứ không đến nỗi phải “chết trên đường đi bán vé số vì bụng đói và bệnh tật” như hiện trạng đâu.

Việt cộng thì cũng là người Việt thôi. Sao cũng là dòng dõi Lạc Hồng hay con Rồng cháu Tiên (gì đó) mà họ lại có thể ăn ở man rợ đến vậy, hả Trời ?

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.