Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Minh Tâm, Kiến Tính

31/03/202509:07:00(Xem: 3389)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Minh Tâm, Kiến Tính
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích một đoạn văn nói về lời dạy về minh tâm và kiến tính, ghi trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm.
 

Nơi đây, chúng ta chụp lại từ bản PDF nửa cuối trang 213, và hai dòng đầu trang 214 của sách nêu trên, ghi lời vị sư tên là Hải Hòa, trích:


blank

  

Đánh máy lại sẽ như sau:

“...đường xằng bậy, sa vào cái hố tội ác. Kẻ nào triển miên ân ái thì mãi mãi không tìm ra đường giải thoát; kẻ nào đắm đuối danh lợi thì đau đớn quằn quại trong vòng nước sôi lửa bỏng, luôn sống trong cảnh phiền não lo âu, vô hình chung sa xuống địa ngục, vượt không khỏi, chạy không thoát. Vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni rủ lòng thương xót, dạy cho người ta minh tâm, kiến tính. Khi người ta được minh tâm thì tâm vốn là hư không, khi người ta được kiến tính thì tính không dựa dẫm nữa. Trong thế gian, hết thảy mọi sự mọi vật, đều được coi là bình đẳng, tinh tiến không bao giờ lơi, thì thành được Phật đạo. Không nhơ không sạch, không thêm không bớt, lia hẳn được mọi nỗi khổ đau, đó là cái pháp môn cao bậc nhất để phá địa ngục.” (hết trích)
 

Tóm tắt như sau: Đức Phật dạy pháp giải thoát là hãy soi cho sáng tâm thì sẽ thấy được tính của tâm. Người xưa thường gọi tắt là Thấy Tánh, hay Thấy Tính. Lời dạy giải thích thêm rằng, khi tâm sáng rồi, sẽ thấy tâm vốn là hư không, vì như thế, tính của tâm không nương dựa bất kỳ những gì nữa. Trong cái rỗng rang, cái Tánh Không của tâm đã bật sáng, thì tất cả mọi thứ đều bình đẳng, thường trực tinh tiến quán sát như thế thì giải thoát. Pháp thấy tính này, tức là thấy cái Tánh Không đó, là soi thấy các thứ đều không có gì nhơ, không có gì sạch, không có gì thêm, không có gì bớt, lìa xa mọi khổ đau, và đây là pháp cao nhất để phá địa ngục.
 

Trong lịch sử Thiền Tông, chúng ta thấy một số trường hợp các vị sư nhìn vào tâm và thấy tất cả các hiện tướng trong tâm thực ra đều là Không.

Một trường hợp nổi tiếng ghi lại trong Thiền sử Trung Hoa là về nhà sư Huệ Khả (494 - 601), Sau một thời gian theo học Tổ Bồ Đề Đạt Ma, một hôm Huệ Khả tới thưa rằng: “Bạch Hoà thượng tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.”

Ngài Bồ Đề Đạt Ma nhìn vào Huệ Khả, nói: “Ngươi hãy đem tâm ngươi ra đây, ta sẽ an tâm ngươi cho.”

Ngài Huệ Khả tự nhìn vào tâm một chặp, rồi thưa: “Con tìm tâm không được.”

Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Ta đã an tâm ngươi rồi vậy.”

Từ đó, ngài Huệ Khả biết chỗ an tâm, thấy ngay nơi tâm vắng bặt các phiền não, xa lìa tham sân si.
 

Trở lại cuốn sách của ngài Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy rằng người tu hãy quán sát tâm để thấy Tánh Không của tâm, thì không còn gì để nương tựa, và tâm đó thì không nhơ, không sạch. Thiền Tông cũng từng có câu nói rằng: “Khi đất tâm trở về Tánh Không, thì mặt trời trí tuệ sẽ chiếu sáng.”
 

Cổ đức khi nói về tâm này, cũng nói rằng nơi đây, không còn Phật và cũng không còn Ma nữa. Có nghĩa là, nơi tâm của giải thoát không còn vướng vào bất kỳ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào nữa. Chư tổ thường dạy cách vào bằng tánh nghe. Bạn thử chú tâm vào tiếng chim kêu, hay chú tâm nghe bất kỳ một ca khúc nào, bạn sẽ thấy trong cái được nghe hiển nhiên nó phải là Không, nên nó liên tục biến mất, vừa sanh là liền diệt, trong khi bạn nghe thì bạn một cách tự nhiên vô niệm, vì bạn không bám víu gì.
 

Hễ bạn đang nghe mà nghĩ ngợi, thì bạn sẽ mất đi cái thực tại ở đây và bây giờ. Đó cũng là cái tâm Không của vô niệm. Đó cũng là lời Đức Phật dạy ngài Bahiya rằng hãy để cái được nghe là cái được nghe, và hãy để cái được thấy là cái được thấy, thì ngay đó là giải thoát. Không cần tu, không cần mài giũa gì nơi cái đang thấy và cái đang nghe đó, vì tự thân tâm bạn phải là Không, thì mới hiển lộ được những cái được nghe, cái được thấy.
 

Nếu bạn thấy khó nhận ra cái Tánh Không của tâm, thì bạn có thể quán sát theo nhiều lời Đức Phật dạy. Đức Phật dạy trong Kinh SA 265 rằng người tu hãy quán sát sắc như bọt nước, hãy quán sát thọ như bong bóng nước, hãy quán sát tưởng như quáng nắng xuân, hãy quán sát các hành như thân cây chuối và hãy quán sát thức như trò huyễn ảo. Như thế sẽ thấy tất cả không thật, không hề có cái gì gọi là cái tôi, hay cái của tôi.
 

Trong Kinh SA 335, Đức Phật dạy bài Kinh về Đệ nhất nghĩa không. Ngài nói rằng các pháp liên tục biến đổi theo vô lượng duyên mà hiện ra rồi biến mất, thấy liên tục như thế là sẽ thoát khổ, vì không còn bám víu gì nữa trong ba cõi, sáu đường. Kinh SA 335, bản dịch của hai thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng như sau, trích:
 

Thế nào là kinh Đệ nhất nghĩa không? Này các Tỳ-kheo, khi mắt sanh thì nó không có chỗ đến; lúc diệt thì nó không có chỗ đi. Như vậy mắt chẳng thật sanh, sanh rồi diệt mất; có nghiệp báo mà không tác giả. Ấm này diệt rồi, ấm khác tương tục, trừ pháp tục số. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy, trừ pháp tục số.

“Pháp tục số, tức là nói, cái này có thì cái kia có, cái này khởi thì cái kia khởi, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, nói chi tiết đầy đủ cho đến thuần một khối khổ lớn tập khởi. Lại nữa, cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt, vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt. Như vậy, nói rộng cho đến thuần một khối khổ lớn tụ diệt. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là kinh Đệ nhất nghĩa không.”
 

Kinh SA 301 do Đức Phật dạy cũng chỉ rõ về Tánh Không của các pháp. Kinh này gợi nhớ tới bài Bát Nhã Tâm Kinh, nơi thực tướng là Tánh Không, nhưng không có nghĩa là cái không của hư vô luận, cũng không phải là cái có của thường hằng luận. Nơi thực tướng Không là nơi dung chứa tất cả thế giới này một cách bình đẳng. Y hệt như nước biển dung chứa tất cả các bọt nước, chỉ vào bọt nước thì nói là Không, chỉ vào tánh ướt thì nói là Có, chỉ vào trung đạo thì không có lời nào để nói nữa.
 

Kinh SA 301 ghi rằng, sau khi nghe Đức Phật dạy xong, ngài Ca-chiên-diên tức khắc trở thành A La Hán, xa lìa tất cả tham sân si. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng trích như sau:
 

Phật bảo Tán-đà Ca-chiên-diên: ‘Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không. Nếu không có chấp thủ này vốn là kết sử hệ lụy của tâm và cảnh; nếu không thủ, không trụ, không còn chấp ngã, thì khi khổ sanh là sanh, khổ diệt là diệt, đối với việc này không nghi, không hoặc, không do người khác mà tự biết; đó gọi là chánh kiến. Đó gọi là chánh kiến do Như Lai thi thiết. Vì sao? Thế gian tập khởi, bằng chánh trí mà quán sát như thật, thì thế gian này không phải là không. Thế gian diệt, bằng chánh trí mà thấy như thật, thế gian này không phải là có. Đó gọi là lìa hai bên, nói pháp theo Trung đạo. Nghĩa là, ‘Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi; tức là, duyên vô minh nên có hành,… cho đến, thuần một khối khổ lớn. Do vô minh diệt nên hành diệt,… cho đến, thuần một khối khổ lớn diệt.’”

Phật nói kinh này xong, Tôn giả Tán-đà Ca-chiên-diên nghe những gì Phật đã dạy, chẳng khởi các lậu, tâm được giải thoát, thành A-la-hán.”
 

Đối chiếu với lời Đức Phật dạy trong các kinh dẫn trên, chúng ta thấy rằng Thiền Tông Việt Nam với các lời dạy trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là pháp trực chỉ, không mượn bất kỳ phương tiện nào, chỉ thẳng vào thực tướng của tâm là Tánh Không, nơi đó sẽ không còn gì bám víu được. Người tu chỉ cần bảo nhậm cái thấy và cái nghe thường trực đó, nơi đó các pháp tự hiển lộ tánh vô thường, vô ngã, hư ảo không ngừng. Nơi đó, không có lời để nói, vì ngôn ngữ là kết quả của những cái hôm qua, trong khi tất cả những cái thấy, cái nghe của người tu là thường trực tự làm mới không ngừng.


.... o ....
 

Reading Ngô Thì Nhậm: Enlighten the mind and perceive its essence
 

Written and translated by Nguyên Giác

  

This article will analyze a passage about the teachings on enlightening the mind and perceiving its essence, as recorded in the book Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, a significant work on Vietnamese Zen Buddhism first published in 1796. This text was printed in "Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V", published in 2006 in Hanoi, and has been translated by various authors from the Viện Nghiên Cứu Hán Nôm.
 

The teachings in this book reflect the principles of Vietnamese Zen Buddhism. After leaving his official position, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) became a monk known as Hải Lượng Thiền Sư and was revered by many as the Fourth Patriarch of the Trúc Lâm Zen Sect.
 

Here, we capture an image from the PDF version of the latter half of page 213 and the first two lines of page 214 of the aforementioned book, documenting the words of the monk named Hải Hòa.

 

It would appear as follows: “...the path of confusion, falling into the pit of sin. Those who indulge in lust will never find a path to liberation; those who chase fame and fortune will suffer in the molten waters, perpetually living in a state of anxiety and worry, unconsciously descending into hell, unable to escape. Therefore, Buddha Shakyamuni, out of compassion, taught people to enlighten their minds and to perceive the essence of their thoughts. When one achieves enlightenment, the mind is initially empty. In this state, there is no reliance on anything. In the realm of existence, all things are regarded as equal in the emptiness of the mind. If one remains diligent in their efforts, they will attain Buddhahood. Within the essence of a mind that is empty, there is neither defilement nor purity, neither increase nor decrease. All suffering can be entirely eradicated. This represents the highest method for transcending hell." (end of quote)
 

We can summarize the teachings as follows: The Buddha taught that the method of liberation involves illuminating the mind to understand its true nature. The ancients often referred to this as perceiving the essence of the mind. The teachings further explain that when the mind is enlightened, it becomes evident that the mind is inherently empty. This realization indicates that the nature of the mind does not depend on anything external. In the illuminated emptiness of the mind, all things are equal. By consistently observing this state with diligence, one can attain liberation. The method of perceiving this nature—recognizing that emptiness—reveals that all things are neither dirty nor clean, neither added to nor diminished, and are free from all suffering. This understanding represents the highest path to transcending hell.
 

In the history of Zen, there are numerous instances where monks examined their minds and realized that all the thoughts and images within were, in fact, manifestations of emptiness.

A famous case recorded in Chinese Zen history involves the monk Hui Ke (494-601). After studying with Bodhidharma for some time, Hui Ke approached him one day and said, "Venerable Sir, my mind is not at peace. Please teach me the method to calm my mind."

Bodhidharma looked at Hui Ke and said, “Bring your mind here, and I will calm it.”

Huike contemplated for a moment and then said, “I cannot find my mind.”

Bodhidharma stated, “I have already calmed your mind.”

From that moment on, Huike understood how to calm his mind and immediately recognized that it was free from afflictions, distant from greed, anger, and ignorance.
 

Returning to the work of Ngô Thì Nhậm, we find that the practitioner should observe the mind in order to perceive its emptiness. In this state, there is nothing to cling to, and the mind is neither tainted nor pure. The Zen tradition also states, "When the mind's foundation returns to emptiness, the sun of wisdom will shine."
 

When the ancients spoke of the mind, they asserted that in this state, there is neither Buddha nor Mara. In other words, within the mind of liberation, there is no entanglement with any form, feeling, perception, action, or consciousness. The patriarchs often taught how to enter this state through the nature of hearing. Try focusing on the sound of a bird chirping or listening to any song. As it continuously fades away, you will notice that what you hear is, in essence, emptiness. As soon as a sound is born, it immediately ceases to exist. While you are listening, your mind becomes naturally thoughtless, as you would not cling to anything else.
 

Whenever you listen and think, you may lose touch with the present moment. This state reflects the emptiness of no-thought. It aligns with the teachings of the Buddha to Bahiya: allow what is heard to be simply what is heard, and permit what is seen to be merely what is seen; in doing so, liberation is found. There is no need for practice or to refine anything in the act of seeing and hearing, for your own mind must embody emptiness. Only then can what is heard and what is seen be fully revealed.
 

If you find it challenging to grasp the concept of the mind's emptiness, you can reflect on various teachings of the Buddha. In Sutta SA 265, the Buddha instructs practitioners to contemplate form as foam, feelings as bubbles, perceptions as a ray of sunlight in spring, formations as banana tree trunks, and consciousness as an illusion. By doing so, you will come to understand that everything is transient and that the notions of self and possession are ultimately illusory.
 

In the SA 335 Sutra, the Buddha teaches about the ultimate truth of emptiness. He explains that all dharmas are in a state of constant change, influenced by countless causes and conditions, appearing and disappearing. Recognizing this continuous flux allows one to be free from suffering, as it eliminates attachment to anything within the three realms and six paths. The SA 335 Sutra, translated by Choong Mun-keat, is as follows:
 

What is the discourse on emptiness in its ultimate meaning?

“Monks, when the eye arises, there is no place from which it comes; when it ceases, there is no place to which it goes. Thus, the eye, being not real, arises; having arisen it ceases completely. It is a result of previous action but it has no doer.

“When these aggregates cease, other aggregates continue, with the exception of this transient dharma. It is the same with the ear, nose, tongue, body, and mind. They are exceptions to the transient dharma.

“The meaning of transient dharma is: Because this exists, that exists; because this arises, that arises, thus: Conditioned by ignorance are activities; conditioned by activities is consciousness, and so on … and thus arises this whole mass of suffering.

“And again, when this does not exist, that does not exist; when this ceases, that ceases. When ignorance ceases, activities cease; when activities cease, consciousness ceases, and so on …, and thus ceases this whole mass of suffering.

“Monks, this is called the discourse on emptiness in its ultimate meaning.”

.

The SA 301 Sutra, taught by the Buddha, clearly emphasizes the Emptiness of all dharmas. This sutra serves as a reminder of the Heart Sutra, which reveals that the true nature of reality is Emptiness. However, this does not imply a nihilistic void or the affirmation of eternalism. The true essence of Emptiness encompasses all aspects of the world equally. Just as the ocean contains countless bubbles, pointing to the bubbles represents Emptiness, while acknowledging the wet nature of the ocean signifies Existence. The middle way transcends these distinctions, leaving little more to be said.
 

The SA 301 Sutra records that, after listening to the Buddha's teachings, Katyāyana instantly attained Arahantship, becoming free from all greed, anger, and delusion. Choong Mun-keat's translation reads as follows:
 

The Buddha said to Katyāyana: “There are two bases to which people in the world are attached, to which they adhere: existence and non-existence. Because of their attachment and adherence, they are based on either existence or non-existence.

“In one who has no such attachment, bondage to the mental realm, there is no attachment to self, no dwelling in or setting store by self. Then, when suffering arises, it arises; and when it ceases, it ceases.

“If one does not doubt this, is not perplexed by it, if one knows it in oneself and not from others, this is called right view right view as established by the Tathāgata (the Buddha).

“Why is this? One who rightly sees and knows, as it really is, the arising of the world, does not hold to the non-existence of the world. One who rightly sees and knows, as it really is, the cessation (passing away) of the world, does not hold to the existence of the world.

“That is called avoiding the two extremes, and teaching the middle way, namely: Because this exists, that exists; because this arises, that arises. That is, conditioned by ignorance, activities arise, and so on …, and thus this whole mass of suffering arises. When ignorance ceases, activities cease, and so on …, and thus this whole mass of suffering ceases.”

When the Buddha had taught this discourse, the venerable Katyāyana, having heard what the Buddha had said, became freed of all influences, attained liberation of mind, and became an arahant.
 

When comparing the Buddha's teachings in the aforementioned sutras, we observe that Vietnamese Zen, as presented in the book Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, is a direct method that does not rely on any intermediaries. This approach points directly to the true nature of the mind, which is emptiness—an essence devoid of anything to cling to. The practitioner need only maintain a constant awareness of seeing and hearing, allowing the dharmas to naturally reveal their impermanent, non-self, and illusory nature without interruption. In this state, words become unnecessary, as language is merely a product of past experiences, while the practitioner's perception of seeing and hearing remains constant and continually renews itself.

.

THAM KHẢO / REFERENCE:

-- Kinh SA 265:

https://suttacentral.net/sa265/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa265/en/analayo

-- Kinh SA 335:

https://suttacentral.net/sa335/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa335/en/choong

-- Kinh SA 301:

https://suttacentral.net/sa301/vi/tue_sy-thang

https://suttacentral.net/sa301/en/choong

 

.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
• Trump Sẽ Nói Gì Trong Thông Điệp Liên Bang? • Trump Nhận Tỷ Lệ Ủng Hộ Thảm Hại Trước Ngày Đọc Thông Điệp Liên Bang • Cựu Luật Sư ICE: ‘Tôi Nhận Lệnh Bí Mật Dạy Cho Tân Binh Cách Vi Phạm Hiến Pháp’ • Đại Sứ Mỹ Tại Pháp Bị Cấm Cửa, Không Cho Gặp Chính Phủ • Bộ Tư Pháp Loại Bỏ Những Tài Liệu Liên Quan Epstein Và Trump • 10% Thuế Quan Toàn Cầu Do Trump Áp Đặt Có Hiệu Lực • Fedex Kiện Chính Quyền Trump, Đòi Hoàn Lại ‘Thuế Quan Khẩn Cấp’ • Huy Chương Vàng Olympic Khúc Côn Cầu Nữ Từ Chối Lời Mời Của Trump Dự Thông Điệp Liên Bang • Tổng Thống Mexico Cân Nhắc Biện Pháp Trừng Phạt Elon Musk • Quân Đội Mỹ Chiếm Tàu Chở Dầu Thứ 3 Ở Ấn Độ Dương • Iran Sắp Đạt Thỏa Thuận Mua Hỏa Tiễn Siêu Thanh Của Trung Quốc
Đức Giáo Hoàng từ chối lời mời dự Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. MAGA giận dữ vì Ngài thư gửi các Giám mục Tây Ban Nha, viết: cực hữu toàn cầu đã giành phiếu bầu của người Công giáo bằng cách bóp méo bản sắc Công giáo. HĐGM Công Giáo Tây Ban Nha đổi lập trường, liền tuyên bố ủng hộ hợp pháp hóa nửa triệu di dân lậu.
Trump bị các lãnh đạo Cơ đốc giáo lên án là chính phủ Trump tàn nhẫn và áp bức, bóp méo đức tin Cơ đốc giáo bằng tư tưởng dị giáo của chủ nghĩa dân tộc Cơ đốc giáo da trắng. Tín hữu phải lên tiếng chống lại sự kiện người nhập cư bị bôi nhọ, mất tích và thậm chí bị giết
Trump hủy các dự án năng lượng sạch đã khiến Mỹ mất 38.000 việc làm, để khí hậu hâm nóng làm kinh tế Mỹ mất 150 tỷ đô/năm, 200.000 ca chết yểu/năm.
Salt Lake City, 23-2- Một hội đồng ba thẩm phán liên bang vừa bác yêu cầu của Cộng hòa Utah đòi ngăn thi hành bản đồ phân chia đơn vị bầu cử mới, qua đó mở đường cho tấm bản đồ này được dùng trong kỳ bầu cử Hạ viện Hoa Kỳ năm nay. Phán quyết đánh dấu lần hụt chân thứ hai liên tiếp của phe Cộng hòa trong vòng ít ngày, sau khi Tối cao Pháp viện Utah cũng đã khước từ kháng cáo của họ tuần rồi.
- Trump gặp Tô Lâm, hứa gỡ VN ra khỏi danh sách hạn chế mua kỹ thuật Mỹ. VN mua 90 phi cơ Boeing, giá 30 tỷ đôla - San Jose: ông gốc Việt nhận tội giả chính phủ để lừa gạt hàng trăm cơ sở kinh doanh, trốn về VN, bị bắt khi quá cảnh Đài Bắc - Georgia: phi cơ Delta Air Lines cất cánh, bốc cháy, quay trở lại kịp - Thẩm phán ra phán lệnh: vĩnh viên cấm phổ biến Tập 2 cuộc điều tra của Smith vụ Trump trộm hồ sơ mật - Trump: Tôi có thể làm những điều kinh khủng với các nước khác, chụp mũ Tòa Tối Cao có thể làm lợi cho nước ngoài (ám chỉ Trung Cộng). - Trump: sẽ áp thuế quan cao hơn đối với các nước dám "chơi chiêu quậy." - Thị trường chứng khoán Mỹ giảm 807 điểm sau khi Trump nói áp thuế toàn cầu 15% - Đơn đặt hàng nhà máy của Mỹ giảm 0,7% trong tháng 1122025 - Trump tiên đoán: Tòa Tối Cao sẽ chống Trump về quyền công dân theo nơi sinh (Trump chống lại: ra đời ở Mỹ tự động là công dân Mỹ). - Lo sợ Iran trả thù, Mỹ di tản hàng chục nhân viên khỏi đại sứ quán Mỹ ở Beirut - Ấn Độ k
“Chúng tôi xin từ chối,” Thủ Tướng Greenland Jens-Frederik Nielsen viết trên trang Facebook cá nhân hôm Chủ Nhật, 22/2, phản hồi lại “lời đề nghị khiếm nhã” của tổng thống Mỹ, Donald Trump. “Ý tưởng của Tổng thống Trump về việc gửi tàu bệnh viện của Mỹ đến Greenland đã được ghi nhận. Nhưng chúng tôi có hệ thống y tế công cộng nơi người dân của chúng tôi được chăm sóc sức khỏe miễn phí,” ông nói. Hôm Thứ Bảy, trên Truth Social Media, “cơ quan báo chí độc lập của chính quyền,” Trump cho biết ông sẽ điều tàu y tế đến Greenland, vùng lãnh thổ tự trị của Đan Mạch mà ông muốn sáp nhập, vì “người dân Greenland không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ,” Trump khẳng định như thế. “Cùng với thống đốc tuyệt vời của Louisiana, Jeff Landry, chúng ta sẽ gửi một con tàu bệnh viện hảo hảo đến Greenland để chăm sóc cho nhiều người đang bị bệnh và không được chăm sóc ở đó,” Trump viết. “Nó đang trên đường đến!!!” Tiếc thay, đáp lại, Greenland tuyên bố không cần sự hỗ trợ y tế từ các quốc gia khác
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Đối với nhiều người Mỹ lớn lên trong môi trường Cơ Đốc giáo bảo thủ, đức tin từng được coi là vấn đề của niềm tin cá nhân và cộng đồng — chứ không phải là lòng trung thành chính trị công khai. Nhưng trong thập niên qua, ranh giới giữa niềm tin và hệ tư tưởng đã trở nên mờ nhạt.
- 4 cuộc thẩm vấn 1 phụ nữ khai Trump đã hiếp 1 bé gái đã bị lặng lẽ xóa khỏi hồ sơ Epstein. - Còn hồ sơ khác về Epstein dài 90.000 trang chưa công bố. - Cô Jess Michaels (nạn nhân của Epstein) được 1 DB Dân Chủ mời tới nghe buổi Trump đọc Thông Điệp Liên Bang. - Thăm dò: 1/2 dân Mỹ tin rằng Trump dính vào các tội ác do Epstein gây ra.
WESTMINSTER (VB) -- Diễn hành Tết đã tưng bừng thực hiện trên đường Bolsa hôm Thứ Bảy, Ngày 21 Tháng 2, Năm 2026, với khán đài chính ở ngay trước Thương xá Phước Lộc Thọ, với tham dự của hàng chục ngàn đồng hương tới trực tiếp, và nhiều người khác xem qua truyền hình và YouTube.
Thẩm phán bảo thủ Neil Gorsuch đã không ngần ngại chỉ trích các đồng nghiệp tại Tòa án Tối cao vì thiếu nhất quán trong cách tiếp cận các tuyên bố rộng rãi về quyền lực tổng thống do Joe Biden và Donald Trump đưa ra. Gorsuch là một phần của đa số 6-3 đã bác bỏ hầu hết các mức thuế quan của Trump hôm thứ Sáu, nhưng ông đã viết một bản luận án riêng dài 46 trang, chỉ trích một số thẩm phán đồng nghiệp về cách họ tiếp cận vụ án.
- Cư dân mạng sững sờ vì Trump dọa “phá hủy nước Mỹ” sau phán quyết của Tối cao Pháp viện. - Trump áp thuế 10% lên hầu hết hàng nhập khẩu sau khi Tối cao Pháp viện bác thuế cũ. - Trump bị yêu cầu hoàn trả 1.700 USD cho mỗi gia đình ở bang Illinois sau phán quyết về thuế quan. - Bộ Tư pháp hất cẳng tân công tố viên Virginia chỉ vài giờ sau khi tòa liên bang bổ nhiệm. - CLB Werder Bremen bỏ chuyến du đấu Minnesota vì chiến dịch bắt di dân của Trump.
Sáng Thứ Sáu 20/2, Tối Cao Pháp Viện (TCPV) đã ném một quả bom vào chính sách thuế quan của Donald Trump với phán quyết 6-3. TCPV phán quyết các mức thuế quan theo diện rộng của Trump, là những khoản thuế nhập cảng do Trump áp bừa bãi lên hầu hết các đối tác thương mại, là hoàn toàn bất hợp pháp. Các chánh án, trong phán quyết do Chánh án John Roberts soạn thảo, được ủng hộ bởi sự kết hợp giữa các chánh án tự do và bảo thủ như Sonia Sotomayor, Elena Kagan, Neil Gorsuch, Amy Coney Barrett và Ketanji Brown Jackson, cho rằng Trump đã vượt quá giới hạn quyền lực theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) năm 1977. Những chánh án phản đối phán quyết của hai tòa cấp dưới? Không ngạc nhiên khi đó là những cái tên rất quen thuộc: Clarence Thomas, Brett Kavanaugh và Samuel Alito. CNN nhận định đây không chỉ là cái tát nhẹ, nó phá hủy một phần cốt lõi trong chương trình nghị sự nhiệm kỳ hai của Trump, có thể buộc phải hoàn tiền hơn $130 tỷ đô la thuế quan đã thu...
• Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác quyền Tổng Thống Trump áp thuế khẩn cấp lên hàng nhập khẩu • Trump dọa oanh kích Iran, giá dầu nhảy vọt vì mùi thuốc súng vùng Vịnh • Biểu ngữ lớn mang hình Trump xuất hiện trước trụ sở Bộ Tư pháp Hoa Kỳ • Trump: “Mười ngày nữa sẽ rõ” chuyện thỏa ước hạt nhân với Iran giữa lúc Mỹ gia tăng thế trận ở Trung Đông • Trump chỉ thị Ngũ Giác Đài công bố hồ sơ về người ngoài hành tinh • L.A. County xác nhận ca sởi thứ tư, người bệnh từng đến LAX và nhiều nhà hàng • Chồng Bộ trưởng Lao động Mỹ bị tố tấn công tình dục, cấm bén mảng trụ sở • Phong Trào MAHA Quay Lưng Với Trump Sau Sắc Lệnh Về Glyphosate • “Không tuân lệnh tòa”: Thẩm phán mất kiên nhẫn khi chính quyền Trump không trả lại triển lãm về chế độ nô lệ • Bác sĩ từng phục vụ chính quyền Bush nổi giận, chỉ trích RFK Jr. vì tuyên bố “Mỹ là quốc gia bệnh hoạn nhất thế giới” • Meta âm thầm chuẩn bị đưa nhận diện khuôn mặt lên kính thông minh Ray Ban
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.