Hôm nay,  

Bí Mật Nhà BRONTË

12/09/202500:00:00(Xem: 1401)

Không dám chạm vào gai, đừng mong hái hoa hồng.*

Hình ba chị em Bronte
Ảnh AI minh họa

 

Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.

Nhưng điều làm nên huyền thoại không nằm ở lớp tro trang trí ấy, mà ở một câu hỏi vẫn chưa nguôi: bằng cách nào ba người con gái, sống heo hút giữa đồng hoang, nghèo, vắng lặng, lại viết nên những cuốn sách làm chấn động đến tận hôm nay? Charlotte, vụng về và khép kín; Emily, ưa cô độc và thẳng tính; Anne, lặng lẽ hơn cả; vậy mà Jane Eyre, Wuthering Heights, Agnes Grey đã vượt khỏi khuôn thước văn chương đương thời, đem đến những nhân vật còn sống động hơn cả đời thật.

Virginia Woolf từng ngờ rằng Charlotte bị “corset” bởi xã hội, rằng giá như nàng có ba trăm bảng một năm để sống thong dong, thì tài năng mới thật sự nở rộ. Nhưng chính ở đây, bí mật bắt đầu lộ hình. Những sợi dây ràng buộc không thổi tắt ngọn lửa, mà trở thành nhiên liệu. Sự ngột ngạt của công việc gia sư, sự nhục nhằn khi bị coi rẻ, những ngày dài lặng lẽ khâu vá, dọn dẹp, chính là đất màu cho những trang văn rực rỡ. Họ hiểu thân phận đàn bà bị bóp nghẹt, và từ đó viết ra những câu chuyện vừa phẫn nộ, vừa khát khao, vừa chan chứa sức sống.

Tuổi thơ Brontë không giống ai. Mẹ mất sớm, cha bận rộn, lũ trẻ được bỏ mặc trong tự do hoang dại. Họ đọc bất cứ gì tìm được, bày ra những vương quốc tưởng tượng với lịch sử, chính sự, báo chí riêng. Họ viết những cuốn sách nhỏ xíu bằng thứ chữ li ti mà người lớn không đọc nổi. Từ trò chơi ấy, họ đã học được cách dựng nên thế giới. Nhưng lớn lên, thực tại nghiệt ngã buộc họ phải đi làm: dạy học, làm gia sư, giữ nhà cho người khác. Charlotte gọi đó là “xiềng xích khổ sở.” Emily thú nhận nàng thích con chó trong trường hơn lũ học trò. Anne kiên nhẫn hơn, nhưng cũng mòn mỏi. Mỗi lần vấp ngã, họ đều chạy về giáo đường, tìm lại chút yên tĩnh, và biến nỗi bẽ bàng thành chữ nghĩa.

Trong những trang Jane Eyre hay Villette, người ta đọc thấy tiếng kêu thác loạn của một cô giáo trẻ bị coi như không hiện hữu; thấy nỗi cô độc của Lucy Snowe khi tình yêu biến thành trò đùa quyền lực. Còn trong Wuthering Heights, cơn bão của Emily không chỉ phá tan mái nhà Earnshaw và Linton, mà còn xé rách bức màn đạo đức giả, phơi ra sự dữ dội ẩn trong gia đình. Nhân vật Nelly Dean, cô quản gia tưởng chừng vô hại, lại nắm quyền kể chuyện, điều chỉnh, thậm chí bóp méo số phận các nhân vật khác. Đó chính là ẩn dụ tuyệt diệu: kẻ ở ẩn, kẻ bị coi thường, lại là người cầm trọn cuốn sách cuộc đời trong tay.

Thời Victoria, không phải ai cũng vỗ tay. The Quarterly Review (1848) chê Jane Eyre là “mang một giọng điệu thấp kém và thô tục (a low tone of morality and coarse).” Báo Examiner cùng năm gọi Wuthering Heights là “thô bạo, gớm ghiếc, tàn nhẫn.” Anne cũng bị coi là quá trực diện khi mô tả cảnh ngộ gia sư. Những phê bình ấy ngày nay càng làm nổi rõ sự cách tân: họ viết ra điều xã hội không muốn nghe, nhưng lại không thể quên.

Bí mật Brontë nằm ở đó. Họ giấu ngọn lửa sau khói than và mùi bánh nướng, sau từng mũi kim, từng nếp vá. Người ngoài chỉ thấy ba cô gái cần mẫn giữ nhà cho ông cha già yếu, nhưng thực ra họ đang tạo dựng cõi văn chương. Họ chọn sống trong ‘seclusion’—sự ẩn dật, sự rút lui khỏi xã hội—không phải vì yếu đuối, mà vì chỉ trong lặng im mới có đủ khoảng trống để viết. Công việc nhỏ bé che chắn cho họ, và cũng tiếp nhiên liệu cho họ: từng đường chỉ may, từng lớp bột nhào đều trở thành nhịp điệu cho trí tưởng tượng phiêu du.

Người anh Branwell, được đi học nhiều hơn, nuôi ảo tưởng nghệ sĩ, cuối cùng chìm trong rượu và thất bại. Ba chị em, ngược lại, hiểu rằng sức mạnh của họ không nằm trong vinh quang công khai, mà trong quyền giữ kín. Họ biết dùng dáng vẻ hiền thục nội trợ để bảo vệ ngọn lửa sáng tạo. Đó là điều thế giới bên ngoài ít ai nhận ra.

Emily Dickinson, khi đọc họ, gọi Emily Brontë là “khổng lồ.” Nhưng không chỉ riêng Emily: cả ba chị em Brontë chưa từng yếu đuối. Họ sống như kẻ âm thầm, nhưng viết như sấm sét. Những cuốn sách của họ vừa bị mắng là thô thiển, vừa được ca ngợi là không ai sánh kịp. 

Từ gian phòng nhỏ họ mở ra một cõi khác: gió đồng hoang thổi mãi, mang theo tiếng thì thầm của những người đàn bà đã biến lao dịch thành văn chương, và riêng tư, cô độc thành di sản bất tận.
 
Cung Mi tóm lược & biên tập

* Anne Brontë, Agnes Grey, 1847: “But he that dares not grasp the thorn should never crave the rose.”
 
Nguồn:  The Brontës’ Secret, tạp chí The Atlantic
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...
Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.