Nhơn TNS Hillary Clinton, cựu đệ nhứt phu nhơn Mỹ ra mắt sách Lịch sử Sống (Living History) bán chạy như tôm tươi vì nhiều người muốn biết Ô. Clinton làm ăn ra sao với "cô bồi dết" và Bà Hoạn Thư phản ứng thế nào với ông chồøng bay bướm. Một vấn đề rất người vì tổng thống cũng là người. Không phải bà Clinton là người duy nhất đang sống với lịch sử, mà toàn bộ người Việt tị nạn cũng đang sống với lịch sử riêng của dân Việt. Và đây là lịch sử sống, chứ không phải chỉ trên giấy.
Độc giả Việt Báo nhớ lại một bài "Viết Về Nước Mỹ" rất chi là "tếu" của tác giả Dương Chi Lan "ĐÁI NGOÀI ĐƯỜNG" ra vào ngày Memorial Day vừa rồi. Một chuyện vừa rất người vừa rất tếu, mà chuyện tếu lại khó viết hơn ví vừa phải nói trắng trợn vừa phải ẩn dụ như Hồ xuân Hương. Người Việt né gọi "đi cầu, đi tiểu, đi tiện"; người Mỹ tránh, nói đi " rest room hay bath room". Nội dung tếu, đến trắng trợn, nói thật, nói thẳng, chớ không tốt khoe xấu che theo kiểu VN xưa nữa.
Đó là chuyện kể một bà già người Việt đang đi bộ ngao du trên đường Mỹ bổng thấy có nhu cầu "ấy", không thể nín được và tự nhiên làm chuyện "ấy" như ở nhà quê vắng vẻ của mình, "đường đất đỏ đụng đâu đái đó." Thế rồi Cảnh sát Mỹ xuất hiện " bắt bà", tưởng đâu đem đi "bỏ bót". Ai dè họ chở bà đến nơi máy móc tùm lum, người làm việc thì bịt mặt bịt mũi, bịt mồm bịt miệng, xanh dờn. Thế nhưng sau đó, Bà được trị khỏi bịnh con mắt bị hư và bộ óc bị thương vì anh bộ đội Cụ Hồ đánh khi Bà chống, không chịu "đi vùng kinh tế mới". Và vui hơn, Bà còn được nhiều đồng bào người Mỹ gốc Việt khác ở Mỹ khen như một người Việt khi qua Mỹ "dốt tiếng Mỹ như me", lại được hưởng mọi phúc lợi của nước giàu mạnh nhứt hoàn cầu: "Welfare Mỹ, y tế miển phí Medicaid, trợ cấp tiền nhà Housing, trả tiền bịnh SSA”. Bà nghĩ một cách bình dân giản dị nếu còn ở VN chắc đã " tiêu sinh mạng" với Cộng sản, với cái bịnh, với cái nghèo cũng do CS gây ra rồi. Chữ dùng cũng tếu của thời vượt biên, như "sợ bể, đi chùa, đóng cây, bốc đi Mỹ". Giọng văn khôi hài không ác ý-- không chống Cộng ồn ào mà chống sâu sắc bằng sự kiện-- khó nín cười, cái cười vì tả chân quá trắng trợn như "cái đít của bà già"ù. Tác giả nói mình là một người bán hàng chợ (cashier), viết lại câu chuyện tình cờ nghe kể lại. Nhưng thể loại, bố cục, văn phong của bài viết không dấu được trình độ của một người đã qua lớp viết, đọc, và nói bắt buộc của đai học Mỹ ( freshment composition ), English 101, Speech 102, Public Speaking và Reading số cũng trên 100 được tính vào tín chỉ đại học; hay ít ra của người đã đọc, nghe nhiều văn chương chuẩn của Mỹ nên thâm nhập cách hành văn hồi nào không hay. Câu đầu đề ( thesis sentence ) ở phần nhập nói lên tất cả đại ý của bài văn. Câu luận đề của đoạn văn nói rõ đại ý của đoạn. Còn câu sau chi tiết ngắn gọn, đi vào ý chánh, chấm phết rõ ràng theo kiểu rất ư là Mỹ. Thể loại bài văn kết hợp điêu luyện vừa trần thuật, mô tả, vừa thuyết phục trình bày, vừa giải trí chọc cười.
Sở dĩ phải dông dài về nội dung hình thức của một bài "Viết Về Nước Mỹ" của một người tự khiêm nhường như vậy vì văn hoc hải ngoại dường như đang hướng về một trào lưu, một giai đoạn văn học đăc biệt với ba sắc thái sau. Một, về văn học sử, sau khi hấp thụ văn hoá Pháp một thời gian, VN có phong trào văn hoc như Tư Lực Văn đoàn ; về nhạc có nhạc tiền chiến, rất đặc sắc. Kế đến là thời nhạc chiến đấu của người Việt Quốc gia bị ảnh hưởng Mỹ ở Miền Nam và người Việt Cộng sản bị ảnh hưởng nhạc Trung Cộng ở Miền Bắc. Nhà phê bình có bài ngoại mút chỉ, có Quốc Cộng mút mùa cũng không thể phủ nhận dấu ấn đăc biệt của các phong trào thơ, văn nhạc ấy. Thì không lý do gì trong 28 năm di tản, bung ra và hội nhập trong lòng nền văn minh Tây Phuơng, Tây Aâu, Bắc Mỹ, và Uùc châu, người Việt tỵ nạn CS hải ngoại lại không có một nền văn hoc tỵ nạn ở hải ngoại sao. Một ngàn năm lệ thuộc giặc Tàu, một trăm năm lệ thuộc giặc Tây, văn hoc, văn nghệ VN có mất đâu; huống hồ người Việt hải ngoại hội nhập vào nền văn hoá mới một cách tư do chọn lựa.
Hai, văn chương, văn hoc tỵ nan ïhải ngoại mang sắc thái quần chúng vì ảnh hương của truyền thông đại chúng của thời đại Tin hoc mà Tây phuơng là cái nôi. Văn chương văn học hải ngoại vì thế không phải là chuyện riêng của nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ nữa. Nó là sự nghiệp của quần chúng ở hải ngoại. Nguyễn Du, Hồ xuân Hương để lại những vần thơ, áng văn bất hủ thật, nhưng không phổ biến trong quảng đại quần chúng bằng văn hoc bình dân của quần chúng, như ca dao, tục ngữ, vè, hát ru con của người Việt. Không phải không lý do để nhưng nhà văn hoc sử VN gọi đó là túi khôn muôn đời của dân tộc, kho tàng văn chưong không bao giờ cạn nguồn của đất nước. Khi Manometre chưa tìm ra định luật áp suất của không khí, ca dao VN đã có câu, "Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm" Khi Nã phá Luân chưa cho san định luật của Pháp, ca dao VN đã phân biệt của chồng công vợ, tài sản tiền hôn thú và hậu hôn thú, "Một may thiếp có xa chàng, / Đôi bông thiếp trả đồi vàng thiếp xin."
Ba, công đầu biến văn hoc VN hải ngoại thành sự nghiệp của quần chúng thuộc về ngành truyền thông đại chúng đã tạo cơ hội cho quần chúng, đối tượng của truyền thông, nhập cuộc vào văn chương, văn hoc vốn từ lâu được xem là lãnh vực của văn nghệ sĩ và người có học. Thí dụ, tại Little Saigon nhật báo Việt Báo mở ra cuộc thi Viết về Nước Mỹ; thành công hơn dự tưởng, kéo dài nhiều năm. Các nhựt báo khác đi vào chuyên đề hơn với các giải viết về Hành Trình Biển Đông, viết về Vợ Người Tù Cải Tạo. Bên cạnh đó tại nhiều nơi trên thế giới có người Việt định cư, không biết bao nhiêu bài, rất nhiều báo chí in bài của độc giả liên quan đến cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt với bao vấn đề khó khăn và thuận lợi của 3 triệu người hòa nhập không mất bản sắc vào lối sống sở tại. Mỹ, một nước của di dân, có lẽ ý kiến, bài viết về hoà nhập của sắc dân VN là nhiều nhứt dù chưa được chuyển ngữ thành tiếng Mỹ.
Sau cùng, dù bài ngoại, thượng tôn dân tộc hết mình, dù khác chánh kiến Quốc Cộng tới mức, người khảo sát văn hoc, văn chương cũng không thể phủ nhận nền văn học tỵ nạn hải ngoại. Đó là một dấu ấn trong lịch sử văn hoc và trong lịch sử dân tộc mà người Việt tỵ nạn CS là một bộ phận. Chỉ còn tiếc một chút, là chưa nhiều những cây viết trẻ viết mạnh hơn, viết nhiều hơn, viết bằng hai thứ tiếng Việt lẫn tiếng ngoại quốc sở tại để nền văn học tỵ nạn có một chỗ đứng vững vàng trong dòng chính văn học nước định cư. Dù sao đi nữa, giai đoạn này, cũng đã có vài nhà văn gốc Việt dùng tiếng Anh hay Pháp nổi tiếng -- hẳn cũng là bước đầu khích lệ.
Độc giả Việt Báo nhớ lại một bài "Viết Về Nước Mỹ" rất chi là "tếu" của tác giả Dương Chi Lan "ĐÁI NGOÀI ĐƯỜNG" ra vào ngày Memorial Day vừa rồi. Một chuyện vừa rất người vừa rất tếu, mà chuyện tếu lại khó viết hơn ví vừa phải nói trắng trợn vừa phải ẩn dụ như Hồ xuân Hương. Người Việt né gọi "đi cầu, đi tiểu, đi tiện"; người Mỹ tránh, nói đi " rest room hay bath room". Nội dung tếu, đến trắng trợn, nói thật, nói thẳng, chớ không tốt khoe xấu che theo kiểu VN xưa nữa.
Đó là chuyện kể một bà già người Việt đang đi bộ ngao du trên đường Mỹ bổng thấy có nhu cầu "ấy", không thể nín được và tự nhiên làm chuyện "ấy" như ở nhà quê vắng vẻ của mình, "đường đất đỏ đụng đâu đái đó." Thế rồi Cảnh sát Mỹ xuất hiện " bắt bà", tưởng đâu đem đi "bỏ bót". Ai dè họ chở bà đến nơi máy móc tùm lum, người làm việc thì bịt mặt bịt mũi, bịt mồm bịt miệng, xanh dờn. Thế nhưng sau đó, Bà được trị khỏi bịnh con mắt bị hư và bộ óc bị thương vì anh bộ đội Cụ Hồ đánh khi Bà chống, không chịu "đi vùng kinh tế mới". Và vui hơn, Bà còn được nhiều đồng bào người Mỹ gốc Việt khác ở Mỹ khen như một người Việt khi qua Mỹ "dốt tiếng Mỹ như me", lại được hưởng mọi phúc lợi của nước giàu mạnh nhứt hoàn cầu: "Welfare Mỹ, y tế miển phí Medicaid, trợ cấp tiền nhà Housing, trả tiền bịnh SSA”. Bà nghĩ một cách bình dân giản dị nếu còn ở VN chắc đã " tiêu sinh mạng" với Cộng sản, với cái bịnh, với cái nghèo cũng do CS gây ra rồi. Chữ dùng cũng tếu của thời vượt biên, như "sợ bể, đi chùa, đóng cây, bốc đi Mỹ". Giọng văn khôi hài không ác ý-- không chống Cộng ồn ào mà chống sâu sắc bằng sự kiện-- khó nín cười, cái cười vì tả chân quá trắng trợn như "cái đít của bà già"ù. Tác giả nói mình là một người bán hàng chợ (cashier), viết lại câu chuyện tình cờ nghe kể lại. Nhưng thể loại, bố cục, văn phong của bài viết không dấu được trình độ của một người đã qua lớp viết, đọc, và nói bắt buộc của đai học Mỹ ( freshment composition ), English 101, Speech 102, Public Speaking và Reading số cũng trên 100 được tính vào tín chỉ đại học; hay ít ra của người đã đọc, nghe nhiều văn chương chuẩn của Mỹ nên thâm nhập cách hành văn hồi nào không hay. Câu đầu đề ( thesis sentence ) ở phần nhập nói lên tất cả đại ý của bài văn. Câu luận đề của đoạn văn nói rõ đại ý của đoạn. Còn câu sau chi tiết ngắn gọn, đi vào ý chánh, chấm phết rõ ràng theo kiểu rất ư là Mỹ. Thể loại bài văn kết hợp điêu luyện vừa trần thuật, mô tả, vừa thuyết phục trình bày, vừa giải trí chọc cười.
Sở dĩ phải dông dài về nội dung hình thức của một bài "Viết Về Nước Mỹ" của một người tự khiêm nhường như vậy vì văn hoc hải ngoại dường như đang hướng về một trào lưu, một giai đoạn văn học đăc biệt với ba sắc thái sau. Một, về văn học sử, sau khi hấp thụ văn hoá Pháp một thời gian, VN có phong trào văn hoc như Tư Lực Văn đoàn ; về nhạc có nhạc tiền chiến, rất đặc sắc. Kế đến là thời nhạc chiến đấu của người Việt Quốc gia bị ảnh hưởng Mỹ ở Miền Nam và người Việt Cộng sản bị ảnh hưởng nhạc Trung Cộng ở Miền Bắc. Nhà phê bình có bài ngoại mút chỉ, có Quốc Cộng mút mùa cũng không thể phủ nhận dấu ấn đăc biệt của các phong trào thơ, văn nhạc ấy. Thì không lý do gì trong 28 năm di tản, bung ra và hội nhập trong lòng nền văn minh Tây Phuơng, Tây Aâu, Bắc Mỹ, và Uùc châu, người Việt tỵ nạn CS hải ngoại lại không có một nền văn hoc tỵ nạn ở hải ngoại sao. Một ngàn năm lệ thuộc giặc Tàu, một trăm năm lệ thuộc giặc Tây, văn hoc, văn nghệ VN có mất đâu; huống hồ người Việt hải ngoại hội nhập vào nền văn hoá mới một cách tư do chọn lựa.
Hai, văn chương, văn hoc tỵ nan ïhải ngoại mang sắc thái quần chúng vì ảnh hương của truyền thông đại chúng của thời đại Tin hoc mà Tây phuơng là cái nôi. Văn chương văn học hải ngoại vì thế không phải là chuyện riêng của nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ nữa. Nó là sự nghiệp của quần chúng ở hải ngoại. Nguyễn Du, Hồ xuân Hương để lại những vần thơ, áng văn bất hủ thật, nhưng không phổ biến trong quảng đại quần chúng bằng văn hoc bình dân của quần chúng, như ca dao, tục ngữ, vè, hát ru con của người Việt. Không phải không lý do để nhưng nhà văn hoc sử VN gọi đó là túi khôn muôn đời của dân tộc, kho tàng văn chưong không bao giờ cạn nguồn của đất nước. Khi Manometre chưa tìm ra định luật áp suất của không khí, ca dao VN đã có câu, "Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm" Khi Nã phá Luân chưa cho san định luật của Pháp, ca dao VN đã phân biệt của chồng công vợ, tài sản tiền hôn thú và hậu hôn thú, "Một may thiếp có xa chàng, / Đôi bông thiếp trả đồi vàng thiếp xin."
Ba, công đầu biến văn hoc VN hải ngoại thành sự nghiệp của quần chúng thuộc về ngành truyền thông đại chúng đã tạo cơ hội cho quần chúng, đối tượng của truyền thông, nhập cuộc vào văn chương, văn hoc vốn từ lâu được xem là lãnh vực của văn nghệ sĩ và người có học. Thí dụ, tại Little Saigon nhật báo Việt Báo mở ra cuộc thi Viết về Nước Mỹ; thành công hơn dự tưởng, kéo dài nhiều năm. Các nhựt báo khác đi vào chuyên đề hơn với các giải viết về Hành Trình Biển Đông, viết về Vợ Người Tù Cải Tạo. Bên cạnh đó tại nhiều nơi trên thế giới có người Việt định cư, không biết bao nhiêu bài, rất nhiều báo chí in bài của độc giả liên quan đến cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt với bao vấn đề khó khăn và thuận lợi của 3 triệu người hòa nhập không mất bản sắc vào lối sống sở tại. Mỹ, một nước của di dân, có lẽ ý kiến, bài viết về hoà nhập của sắc dân VN là nhiều nhứt dù chưa được chuyển ngữ thành tiếng Mỹ.
Sau cùng, dù bài ngoại, thượng tôn dân tộc hết mình, dù khác chánh kiến Quốc Cộng tới mức, người khảo sát văn hoc, văn chương cũng không thể phủ nhận nền văn học tỵ nạn hải ngoại. Đó là một dấu ấn trong lịch sử văn hoc và trong lịch sử dân tộc mà người Việt tỵ nạn CS là một bộ phận. Chỉ còn tiếc một chút, là chưa nhiều những cây viết trẻ viết mạnh hơn, viết nhiều hơn, viết bằng hai thứ tiếng Việt lẫn tiếng ngoại quốc sở tại để nền văn học tỵ nạn có một chỗ đứng vững vàng trong dòng chính văn học nước định cư. Dù sao đi nữa, giai đoạn này, cũng đã có vài nhà văn gốc Việt dùng tiếng Anh hay Pháp nổi tiếng -- hẳn cũng là bước đầu khích lệ.
Gửi ý kiến của bạn



