Hôm nay,  

Kinh Tế Mỹ Phục Hồi

17/02/200400:00:00(Xem: 16001)
Hôm Thứ Hai, các thị trường tài chính Á châu suy giảm trên đỉnh cao nhất từ bốn năm nay, vì Á châu âu lo về triển vọng kinh tế Hoa Kỳ trong khi tiền Mỹ vẫn sụt giá. Tình hình phục hồi kinh tế Hoa Kỳ đối với kinh tế toàn cầu ra sao"
Đài RFA trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về chủ đề trên như sau.
Hỏi: Thưa ông, cách đây đúng tám tháng, ngày 17 tháng Sáu 2003, khi dư luận còn chú ý đến tình hình chiến sự Iraq, trên diễn đàn này, ông tiên đoán là kinh tế Mỹ bắt đầu phục hồi và có thể đạt tốc độ tăng trưởng ít nhất là 4% quy ra toàn năm. Sau đấy, tình hình quả nhiên là khả quan hơn cho Mỹ và nhiều nước khác, như Âu châu và cả Nhật Bản. Nhưng tuần qua, Hoa Kỳ có nhiều chỉ dấu đáng ngại, như ngoại thương Mỹ thêm thiếu hụt vì nhập siêu, như số xuất khẩu Mỹ bị sụt và cả chỉ số tin tưởng của giới tiêu thụ cũng sút giảm. Những tin tức đó gây âu lo cho các thị trường chứng khoán Á châu trong ngày hôm qua... Như vậy, liệu sự hồi phục kinh tế của Mỹ có bị khựng hay không"
-- Trước hết, tôi xin được nhắc lại rằng năm nay là năm tranh cử tổng thống tại Mỹ, và mọi biến chuyển kinh tế, thăng hay giáng, đều được truyền thông báo chí thổi phồng và được giới chính trị bình nghị theo hướng này hay hướng khác. Sự sôi nổi đó tức thời chi phối các thị trường tài chính, nhưng đấy chỉ là ảnh hưởng ngắn hạn và giao động tâm lý không kéo dài, trong khi sự vận hành kinh tế vẫn tiếp tục theo những chuyển động lớn của thực tế, có khi vượt ra khỏi tầm suy luận của báo chí... Tuần qua, thống kê bộ Thương mại Mỹ cho biết là trong tháng Giêng, nhập siêu của Hoa Kỳ đã tăng từ gần 39 tỷ lên quá 45 tỷ Mỹ kim trong khi số xuất cảng lại giảm 0,2%, tới mức xấp xỉ 90 tỷ. Mặt khác, viện Đại học Michigan cũng thông báo chỉ số tin tưởng của giới tiêu thụ đã sụt hơn 10 điểm, từ 103,8 vào đầu tháng Giêng xuống 93,1 vào đầu tháng Hai. Những thông tin đó lập tức gây tranh luận trong giới chính trị và truyền thông. Bên phía chính quyền, người ta cho là kinh tế vẫn đang phục hồi và sẽ tuyển dụng rất nhiều nhân công trong thời gian tới, bên ngoài chính quyền, dư luận lại cho rằng sự hồi phục này đã bị chững. Hậu quả chung cuộc là dư luận Mỹ có lo ngại, các cuộc khảo sát ý kiến mới nhất cho thấy tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Bush đã sụt giảm dưới mức 50%, chủ yếu là do tình hình kinh tế. Sự thể đó vì vậy cũng tác động vào các thị trường Á châu, vốn lệ thuộc nặng vào kinh tế Mỹ.
Hỏi: Đó là nhận định chung của dư luận, riêng ông, ông phân tích ra sao về tình hình"
-- Tôi thiển nghĩ rằng dư luận có lo ngại vì một loạt tín hiệu xấu, được các xu hướng chống Bush nhấn mạnh liên tục, như nhập siêu mậu dịch và bội chi ngân sách gia tăng, như đồng đô la tiếp tục tuột giá, hoặc số nhân công thu dụng không tăng mạnh nếu so sánh với các đợt phục hồi cũ trong khi xuất cảng và sự tin tưởng của giới tiêu thụ có sút giảm. Vì kinh tế Mỹ lệ thuộc tới 2/3, thậm chí là gần 70%, vào sức tiêu thụ của dân chúng nên chỉ số tin tưởng đó là tín hiệu đáng quan tâm. Thêm vào đó là sự lúng túng thụ động của chính quyền Bush về vụ Iraq cũng gây hoài nghi, kể cả trong dư luận báo chí chuyên đề về kinh tế tài chính. Vì vậy, ấn tượng chung của nhiều nơi là sự phục hồi kinh tế Mỹ có thể đang rơi vào khoảng trũng. Tuy nhiên, như tôi vừa trình bày, Hoa Kỳ đang khởi sự một năm tranh cử tổng thống và những giao động lẫn lập luận tranh cử có thể khiến dư luận chỉ thấy ra những điểm tiêu cực. Thực tế thì tình hình không đáng bi quan như vậy.
Hỏi: Ông có thể trình bày cụ thể một số cơ sở lý luận cho sự lạc quan này không"
-- Tôi thiển nghĩ rằng kinh tế Mỹ đang phục hồi và còn là đầu máy lôi kéo các nền kinh tế khác như Âu châu, Nhật Bản, Trung Quốc và nói chung Đông Á lẫn Mỹ châu Latinh. Và mấy nơi đáng ưu lo hơn chính là Trung Quốc và Mỹ châu Latinh, nếu mình có giao dịch mua bán với hai khối này thì nên quan tâm hơn cả. Lý do thứ nhất là về mậu dịch, Mỹ sở dĩ nhập cảng nhiều hơn vì kinh tế đã phục hồi nên số cầu gia tăng mạnh, trong khi xuất cảng chậm hơn vì khả năng ứng phó chậm của các nền kinh tế khác, đặc biệt là Hoa Lục và Âu châu. Tình hình giao dịch này phản ảnh hai mức độ năng động khác nhau, của kinh tế Mỹ và của các nền kinh tế kia. Về việc giới tiêu thụ có vẻ mất tin tưởng thì ta nên hiểu ra ảnh hưởng của nạn thất nghiệp được báo chí nói tới rất nhiều. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã giảm từ 6,4% xuống còn 5,6% trong gần nửa năm qua và ngoài triển vọng thu nạp nhân công trong thời gian tới, ta còn có hiện tượng phức tạp khác mà báo chí nhiều khi không trình bày được cho rõ là năng suất và cấu trúc của thị trường nhân dụng Mỹ khiến người ta chuyển dịch lao động và thay đổi việc làm mà thống kê không ghi nhận cho kịp và cho đúng. Thứ nữa, vì kinh tế Mỹ tùy thuộc nhiều vào tiêu thụ, dân Mỹ dù sao vẫn tiêu xài mạnh và tiết kiệm ít nên số nhập cảng mới gia tăng. Nói chung, giới tiêu thụ Mỹ rộng tay chi tiêu hơn giới tiêu thụ Âu và Á châu nên hậu quả trước mắt mới là nạn nhập siêu của Hoa Kỳ. Đó là về tình hình trước mắt, trong viễn ảnh dài hơn thì có khác.

Hỏi: Xin ông trình bày tiếp là khác như thế nào"
-- Tuần qua, Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang, là Thống đốc hệ thống Ngân hàng Trung ương Mỹ, ông Alan Greenspan, đã ra trình bày trước Ủy ban Tài chính Ngân hàng của Thượng viện về tình hình kinh tế. Ông ta ủng hộ quyết định giảm thuế của chính quyền dù nhấn mạnh là cùng với việc giảm thuế, Quốc hội phải biết giới hạn công chi để giảm dần nạn bội chi ngân sách. Ông cũng cho biết là nhờ tình hình vật giá vẫn khả quan, ngân hàng trung ương chưa tính đến việc nâng lãi suất ngắn hạn trong tương lai trước mắt, và đồng Mỹ kim suy yếu như hiện nay thực ra có lợi cho mậu dịch vì sẽ hạn chế đà thiếu hụt ngoại thương do hàng nhập vào Mỹ sẽ thành cao giá hơn. Từ nhận định của một nhân vật có thẩm quyền và nhất là có quyền độc lập đối với mọi áp lực chính trị, ta có thể kết luận là Mỹ kim còn xuống giá, lãi suất Mỹ chưa tăng, nhờ đó, mậu dịch Mỹ sẽ có cải tiến. Đồng thời, giới chính trị cũng được nhắc nhở là phải giới hạn công chi, là điều cánh hữu của đảng Cộng hòa than phiền khá nhiều với chính quyền Cộng hòa của ông Bush. Song song, nạn nhập siêu và thất nghiệp vẫn được bên Dân chủ khai thác để gây sức ép với chính quyền trong mùa tranh cử. Vì vậy mà Hoa Kỳ mới bị đả kích là theo đuổi chế độ bảo hộ mậu dịch hoặc gây hấn với xứ khác vì mậu dịch, và dĩ nhiên là chính quyền Bush nhận lãnh sự đả kích đó. Nhưng nói chung thì kinh tế Mỹ vẫn khả quan hơn các nền kinh tế khác, sự hồi phục đang tiếp tục và năm nay Mỹ có thể đạt tốc độ tăng trưởng từ 4,5% đến 5%. Ngược lại, việc Mỹ kim tuột giá sẽ khiến sự hồi phục nhờ xuất khẩu của Âu châu bị trở ngại. Dường như tuần qua, Ngân hàng Trung ương Âu châu đã kín đáo can thiệp, tức là bán Euro và mua Mỹ kim, để giảm đà tăng giá của tiền Âu nhằm hạ thấp đà tăng giá của hàng hóa và dịch vụ Âu châu. Kết luận chung ở đây là kinh tế Mỹ vẫn có chiều hướng khả quan hơn nhiều xứ khác và đó là một tin vui cho các nước Đông Á đang cần giao dịch mua bán với Hoa Kỳ. Về dài thì nạn bội chi ngân sách mới là vấn đề đáng lo, nhưng đó là chuyện về dài, sau nhiều năm, khi ông Bush đã hết làm tổng thống.
Hỏi: Ở trên, ông có nói đến mối ưu lo về kinh tế Trung Quốc và Mỹ châu Latinh.
-- Vâng, ngoài những bất ổn cả chính trị lẫn kinh tế sẽ sớm thấy tại Âu châu, trong thời gian tới, dư luận sẽ chú ý hơn tới mặt trái của đà tăng trưởng ngoạn mục của Trung Quốc, đến 9% vào năm ngoái. Trước hết là hậu quả chưa thể lường nổi của dịch cúm gia cầm, thứ nữa là sự ung thối của hệ thống ngân hàng chìm dưới núi nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, kế tiếp là nguy cơ lạm phát vì kinh tế nóng máy và mới nhất là rủi ro suy sụp đầu tư vì nạn đầu cơ, là hiện tượng của một trái bóng thổi phồng không cơ sở. Ngoài dịch cúm gà, tai nạn hỏa hoạn vừa xảy ra tại Cát Lâm thuộc tỉnh Cát Lâm và Hải Ninh thuộc Chiết Giang cho thấy sự non yếu của hạ tầng cơ sở cả vật chất lẫn hành chính và nhân lực của xứ này nếu so sánh với đà tăng trưởng làm thế giới khâm phục và lãnh đạo hãnh diện. Cuối năm nay có thể là thời kết toán tính sổ, khi Trung Quốc đụng mạnh vào thực tế thảm khốc trước mắt. Điều này mà xảy ra tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam, về cả nhận thức và lý luận của lãnh đạo cho tới thực tế của giao dịch kinh tế trong toàn khu vực. Dịch cúm gia cầm hay nạn hỏa hoạn không là điềm xấu của quỷ thần mà là sự phơi bày tất yếu nhược điểm của một hệ thống tổ chức lạc hậu được dung dưỡng nhờ ách độc tài. Quay ra Mỹ châu Latinh thì vì dư luận nhiều năm nay ít quan tâm đến vùng đất này nên người ta không thấy một số nguy cơ động loạn trong khu vực: từ vụ Argentina bị vỡ nợ và đang tính chuyện quịt nợ tới 90% tổng số ngoại trái đến tình trạng khủng hoảng âm ỉ của Venezuela, và một vụ phá sản sắp tới của chính quyền xứ Cộng hòa Dominican sau khi ngân hàng Banco International sụp đổ vì tội gian lận... Gần đây nhất và nóng hổi nhất là vụ khủng hoảng tại một xứ lân bang là Haiti trong vùng biển Caribbe. Chính là trong khung cảnh bất ổn này người ta mới càng theo dõi triển vọng phục hồi kinh tế Mỹ, vì xứ nào cũng có thể ghét Mỹ hay tha hồ chửi Mỹ, chứ suy đi tính lại thì làm ăn với kinh tế Mỹ vẫn an toàn và có lợi hơn cả.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.