Hôm nay,  

‘Suy Tư Và Ước Vọng’

02/11/200600:00:00(Xem: 8786)

Mấy Cảm Nghĩ  Sau Khi Đọc ‘Suy Tư Và Ước Vọng’

- Vương Quốc Hoài - Cử nhân báo chí

Lời giới thiệu: Cách đây hơn hai năm, nhà báo trẻ Vương Quốc Hoài lần đầu tìm đến thăm tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang và được ông tặng cuốn "Suy tư và Ước vọng". Một tuần sau đó, anh hoàn thành bài viết này. Vì bấy giờ anh đang công tác ở báo Hà Giang nên bài viết phải được cất kín để anh không bị đuổi việc.

Gần đây, sau khi tuyên bố thành lập "Nhóm thanh niên dân chủ Sơn-Hà", anh bị công an săn lùng và đã hàng tháng nay không thấy anh ở nhà nữa. Có thể anh đã trốn biệt, có thể anh đã bị bắt và đang chờ ngày ra pháp đường. Công bố bài viết này, chúng tôi hy vọng độc giả hiểu rõ được những suy tư khắc khoải nào đã dẫn đến hành động của anh và minh oan cho anh nếu anh bị quy là gián điệp, là phản động.  

*

Tôi sinh ra ở một vùng quê nghèo xứ Đoài, khi mà đất nước đã tan khói bom và lắng dần tiếng súng. Lớn lên, tôi được đào tạo ở hai trường đại học xã hội chủ nghĩa. Thôi thì cứ tự phong cho mình cái mác trí thức nhà quê vậy. Tôi đã đi nhiều nơi trên đất nước mình, đi tới đâu tôi cũng được nghe thế hệ cha anh kể về một thời hào hùng của dân tộc. Và, đập vào mắt tôi, trắng xóa khắp đất nước là bạt ngàn những nghĩa trang liệt sỹ.

Là một người hoạt động trong ngành báo chí, lại ham học hỏi nên tôi thường đọc rất nhiều loại báo, cố lắng nghe những gì đang diễn ra xung quanh mình, trong đất nước mình, dân tộc mình. Tôi thấy nhiều điều cũng đáng tự hào, đáng trân trọng, đáng vui mừng. Nhưng, cũng còn quá nhiều điều làm tôi băn khoăn, rất khó hiểu. Khó hiểu tới mức tôi chẳng biết mình dốt nát tới mức nào. Càng vểnh tai lên, căng mắt ra, nghe rõ, nhìn rõ vào thực tế xã hội, càng thấy bộn bề tâm trí.

Hình như có điều gì không ổn với Đất nước này - Một Đất nước đã độc lập, đã hoà bình mà Nhân dân chưa no ấm, chưa tự do, đâu đây còn có bao người nghèo đói, mù chữ, chưa biết điện là gì! Đâu đây còn có những tha hoá, suy đồi, phi nhân bản...

Một bà cụ tự tử vì thèm một bát canh cá, một nhà sư tự thiêu để chống lại sự ngược đãi của chính quyền sở tại, một nông dân treo cổ tự tử do oan ức vì bị vu khống. Cùng lúc đó, báo đưa tin chỗ này quan chức tham nhũng hàng chục tỉ đồng, chỗ kia tiền của mồ hôi nước mắt của Nhân dân bị thất thoát hàng trăm tỉ vì những chủ trương, những quyết sách lầm lạc của Đảng.

Một ông bộ trưởng có bộ mặt khắc khổ như dầu dãi cũng nỗi khổ của nông dân, mùa mùa đầm mình cùng bão lũ, sụt sùi trên truyền hình trước cảnh vùng này có người chết trôi, vùng kia hoa màu bị mất trắng. Dân chúng cảm động và yêu mến ông vô cùng. Thế mà, đùng một cái lại nghe tin ông dính vào tham nhũng. Bên cạnh đó, bao nhiêu giáo sư, tiến sĩ đi làm tay sai cho một mụ đàn bà tham lam, dốt nát. Rồi, một phó chủ nhiệm ngành thể dục thể thao hãm hiếp một cô bé gái. Ấy thế mà mới hôm qua thôi, báo chí còn hết lời ca ngợi ông ta. Và..., vừa hôm nay lại có tin: không đủ căn cứ khép tội vì bé gái kia đã đủ 13 tuổi 4 tháng mà gia đình thì đã rút đơn kiện vì nhận được một tỷ đồng bồi thường!

Đây nữa, một Bí thư đoàn Thành phố biển thủ cả tiền cứu trợ đồng bào lũ lụt của học sinh, sinh viên, một ông con bộ trưởng phóng xe cán chết nhiều người mà không bị truy tố, nhờ đã đem tiền ra rải vv....

Tiền đâu mà lắm thế nhỉ" Cùng với quyền-tiền là mại dâm, ma tuý, cướp của, giết người... Đạo đức xã hội bị băng hoại, giống nòi bị suy thoái, dân tộc bị tha hóa, dân chúng hoang mang lo sợ nhưng không thể không quằn quại vùng lên. Chỗ này biểu tình nằm vạ ở trụ sở uỷ ban, chỗ kia chống trả cảnh sát, nổi dậy cướp chính quyền...

Cường hào, ác bá hoành hành khắp nơi, dân chúng bị bóc lột thậm tệ, bị đàn áp dã man, tư tưởng bị nô dịch một cách tinh vi, xảo trá hơn cả thời Pháp thuộc. Người này kêu than với người kia. Người kia kêu than với trời xanh. "Anh hùng đâu tá"".

Tỷ như cái lĩnh vực báo chí, văn nghệ ấy, thời mà dân tộc ta còn chìm đắm dưới ách thực dân, dù le lói nhưng nhờ mấy toà soạn tư nhân, mấy hội Tao Đàn, mấy nhóm thơ phú thâm giao... mà đã có những tác phẩm để đời, sánh bằng văn học thế giới. Cũng từng "Vang bóng một thời", chả kém văn đàn Gôloa mẫu quốc là bao.

Ngày nay thì sao"

Hàng vạn nhà văn, nhà báo được đào tạo chính qui, được thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng rồi cũng chỉ dám ăn theo, nói leo, lái bút rặn ra mấy tiếng gáy te te, ca ngợi lãnh tụ này, quan chức nọ, ca ngợi chuyên chế độc đảng... Mạnh bút như Trần Hiệp thì cũng chỉ dám nói đến cái "Thời chưa xa", Ma văn Kháng cũng chỉ biết ngồi ngắm "Mùa lá rụng trong vườn".

Buồn cười hơn, cứ nhìn vào trang đầu của bất kỳ tờ báo nào cũng thấy cờ hoa rực rỡ, chỗ này tô vẽ lòe loẹt: người dân đã sung túc ấm no; chỗ kia "rên lên": "chưa có bao giờ đẹp như hôm nay". Chỗ nọ mấy cụ già tụng ca "Nhờ ơn Đảng - Chính phủ"; chỗ khác mấy cháu thiếu nhi hát vang lên: "Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng!"

Ngày nào cũng thế, tháng nào cũng thế, năm nào cũng thế, cứ như cả trăm tờ báo chỉ là tiếng nói của một người. Còn "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" thì sao" Chẵng phải chỉ những người học qua ngành báo chí mà bất kỳ ai cũng biết được rằng: Báo chí có quyền đăng tin một cách trung thực, không ai được ngăn cấm. Nhưng, báo chí lại có cả cái quyền không đưa tin thật mà không ai bắt ép được. Thế là cứ bưng bít, cứ làm ngơ, cứ im lặng trước những điều trông thấy ấy. Sao vậy nhỉ" (Tôi lại tự hỏi).

Chắc chắn là phải có một điều gì cơ bản lắm, khủng khiếp lắm, làm cho dân tộc mình đằng đẵng hàng thế kỷ nay trói mình trong bao điều nghịch lý!

Tôi có quá nhiều câu hỏi và cứ ngẩn ngơ đi tìm lời giải. Nhưng, càng tìm càng thấy u mê, vô vọng. Tôi lại tự vấn mình: Tôi là ai" Tôi từ đâu đến" Tôi phải làm gì bây giờ"

Thế là tôi hoang mang, tôi âm thầm tự dày vò, tôi tạm gác công việc, lao vào đọc rất nhiều sách Đông, Tây, Kim, Cổ..., đến nỗi cái thư viện nhỏ ở thị trấn Quốc Oai không còn gì để tôi đọc nữa.

Tôi đành lang thang trên Internet để được phóng mắt qua một cửa sổ nhìn ra thế giới. Rồi một ngày, tôi tìm được Nguyễn Thanh Giang, một tiến sĩ, một viện sĩ, một chí sĩ yêu nước đương đại.

Chọn một sáng tháng Tám đẹp trời (ngày mà tôi bước vào tuổi 31) để tìm gặp Nguyễn Thanh Giang. Ấn tượng đầu tiên là tôi phải gọi Nguyễn Thanh Gíang bằng chú. Chú Giang có dáng vẻ một trí thức vừa trầm tư vừa nhanh nhẹn, lịch duyệt, khoáng đạt và cởi mở thân tình. Tôi đã có cảm tình ngay với Chú. Qua tìm hiểu tôi được biết Chú là một trí thức uyên bác có tấm lòng yêu dân, yêu nước thiết tha, tự thấy mình phải có trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc mình. Mấy lời thăm hỏi ngắn ngủi chân tình và thân thiết của Chú về hoàn cảnh cuộc sống của tôi làm lòng tôi thấy ấm áp và bỗng trào dâng một niềm xúc động chân thành. Tôi thấy kính trọng mà rất gần gũi, như đang ngồi trước một người cha lâu ngày mới gặp lại. Mấy lời chỉ bảo động viên bằng cái giọng trầm ấm của Chú đủ làm cho tôi như thấy mình không còn quá u mê, bế tắc và tuyệt vọng. Chia tay ra về tôi được Chú tặng một quyển sách chú tự viết và tự in, có tên: "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG".

Cuốn sách chỉ dày hơn 300 trang mà tôi đã nằm nhà đọc một tuần vì phải đọc đi, đọc lại tới bốn lần. Như vừa có một vầng dương soi sáng tâm hồn tôi, như vừa có một vầng trăng nhô ra khỏi núi, xoá tan những u tối trong đầu tôi. Tôi rũ mình đứng dậy. Bây giờ tôi đã hiểu tất cả. Giờ đây tôi đã biết tôi là ai" Tôi từ đâu tới đây" Tôi phải làm gì bây giờ" Tôi nhận ra: Điều gì đã làm cho xã hội đầy rẫy những nhiễu nhương, mất hết luân thường, đạo lý, đầy rẫy những lố bịch nực cười, tráo trở, tàn bạo, "Bại nhân nghĩa, nát cả đất trời". Tôi đã nhìn thấy bọn gian tà bán nước cầu vinh, dối trời, lừa dân bằng đủ muôn nghìn kế.

Và tôi cũng đã hiểu ra: Tôi từ đâu tới đây"

Tôi từ cha Rồng mẹ Tiên, từ 18 đời Hùng Vương xây dựng cơ đồ. Từ một dân tộc bốn ngàn năm anh dũng kiên cường bất khuất đánh tan mọi ách đô hộ, mọi kẻ thù xâm lăng, mọi thế lực áp chế; từ một Việt Nam qua mấy mươi năm máu lửa, lật đổ phong kiến, đánh bại thực dân, chiến thắng đế quốc. Tôi từ cái nôi, cái võng, từ câu dân ca, từ những chuyện cổ tích truyền thuyết, từ Thạch Sanh - Sơn tinh - Thuỷ tinh, từ Bà Trưng, Bà Triệu, từ Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, từ Lê Lợi, Quang Trung...từ Chu văn An, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám; từ Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Thế Lữ....

Tôi, tôi là một con người như bao con người trong cái cộng đồng nhân loại này. Cũng được Thượng đế sinh ra, cũng có quyền được hưởng tự do và mưu cầu hạnh phúc, cũng được đòi hỏi quyền lợi như mọi người khắp năm châu, bốn bể.

Tôi tới đây để làm gì" Trí hèn, sức mọn nào dám nghĩ tới anh hùng, vĩ nhân. Tôi chỉ lấy Nguyễn Thanh Giang để soi lại mình. Soi vào một con người đã cống hiến cả tuổi trẻ cho cuộc trường chinh cách mạng, đã băng qua bom đạn chiến tranh, đã vượt núi băng rừng mong làm giàu cho Đất nước; đã lao tâm khổ tứ miệt mài học tập để đạt tới đỉnh vinh quang của tri thức khoa học, làm rạng danh cho dân tộc trên trường quốc tế. Một con người luôn canh cánh bên lòng nỗi khổ của nhân dân, không màng danh lợi, bỏ qua hạnh phúc cá nhân mà chọn con đường khổ ải lao tù để đấu tranh cho Dân chủ, Nhân quyền, để tìm ra con đường đi cho dân tộc, biết.lấy hạnh phúc, tự do của Nhân dân làm lý tưởng. Một con người đã vượt lên những kiến thức hạn hẹp giáo điều của một nền giáo dục lạc hậu bảo thủ để nhận ra đất nước không phải là hình chữ S mà đang quặn đau thành dấu hỏi. Nguyễn Thanh Giang chính là một tấm gương sáng cho tôi soi mình vào đó.

Sáng mắt, sáng lòng nên tôi ngộ được ra, tôi từ hai tiếng Việt Nam đến đây trên cõi đời này nhất định không phải để hưởng lạc và mưu cầu hạnh phúc cá nhân, để thu vén sung sướng cho riêng mình, để chạy theo danh lợi, để truy hoan với những thú tiêu khiển dục vọng. Không, tôi không phải đến đây để làm thế. Tôi phải góp phần làm cho đất nước mình vẫn là hình chữ S thân yêu. Phải làm cho bà con tôi, cha mẹ tôi, anh em tôi, bạn bè tôi sống chan hoà trong một xã hội tự do dân chủ và bác ái. Bởi vì tôi là một phần của lịch sử Dân tộc, là một trang nam nhi sau 30 năm binh lửa điêu linh.

Đọc "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" tôi cảm nhận đây là một thiên chính luận sâu sắc, một công trình nghiên cứu rất công phu, rất tỉ mỉ, rất nghiêm túc với đầy tinh thần trách nhiệm. Những lập luận đều được chứng minh bằng những cứ liệu chính xác ở nhiều lĩnh vực: chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội. Tầm bao quát rất rộng nhưng rất súc tích, không hề dàn trải.

Trong "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" không thấy sự tư biện khiên cưỡng, duy ý chí thường gặp trên các tạp chí như kiểu Tạp chí Cộng sản, các sách chính trị như của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, mà tất cả đều xuất phát từ trực quan rồi mới đến lập luận, từ sự việc rồi mới đến lý thuyết. Tưởng như, đây là một công trình khoa học xã hội được nghiên cứu rất công phu của một tập thể nhà khoa học chứ không thể chỉ từ một tiến sĩ Địa Vật Lý, dù là rất uyên bác.

Tác giả đã mổ xẻ phơi bày toàn bộ cơ chế của một chính thể, đã giải phẫu để soi tìm ra căn bệnh quái ác đã làm cho cái Đất nước Việt Nam này "Quặn đau hình dấu hỏi", để rồi đã vạch một định hướng, một đường đi chung cho Dân tộc.

Ở vào cái tuổi gần cổ lai hy mà mỗi trang viết của Chú vẫn rừng rực nhiệt huyết, tràn đầy ý chí và khát vọng. Lẽ ra chú rất xứng đáng được hưởng một tuổi già vui vầy hạnh phúc, yên ổn bên gia đình nhưng trớ trêu sao, chú đã bị cầm tù biệt giam, bị lăng mạ, bị hạ nhục, bị vu khống, bị tước đoạt tài sản. Thậm chí còn bị mưu sát. Để phản đối sự bắt bớ sai trái của chính quyền, Chú đã hai lần tuyệt thực trong nhà giam B14.

Nhưng, Chú không để người ta vỗ về, lừa mị. Chú không sợ người ta trù diệt, hãm hại. Những Suy tư về Đất nước, về Dân tộc về Nhân dân, những Ước vọng Dân chủ, Tự do, Bác áí đã hối thúc chú phải đăng đàn tranh đấu.

Qủa là: "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm. Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà", "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" phân tích, giải phẫu rất nhiều vấn đề nhức nhối, những mâu thuẫn nội tại của chế độ, của nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa, nguyên nhân phát sinh mọi tiêu cực xã hội; đồng thời chỉ ra những đường lối sai trái, mù quáng, giáo điều của Đảng đối với các vấn đề như Nhân quyền, Dân chủ, như vấn đề "Hội Nhập để phát triển", vấn đề "Vai trò của doanh nghiệp nhà nước"... Rồi "Định hướng xã hội chủ nghĩa" là như thế nào" Thế nào là nền kinh tế tri thức" vv...

Nhiều lập luận, quan điểm của chú đã khai mở những suy tư, giải tỏa những thắc mắc của tôi từ bấy lâu nay làm tôi rất tâm đắc.

Tỷ như việc "Bàn về giai cấp công nhân Việt Nam". Trước đây tôi đã từng tranh luận với mấy cán bộ tuyên giáo ở một trung tâm chính trị rằng: Đâu là giai cấp công nhân Việt Nam" Giai cấp công nhân Việt Nam là ai" Là những "cửu vạn" đang phơi mình đào đất ngoài nắng kia hay mấy ông quan bụng phệ ngồi trong phòng máy lạnh. Ai là người lãnh đạo" Ai là người bị lãnh đạo" Mấy bà buôn thúng bán bưng ngoài chợ, mấy ông cựu chiến binh tạm bỏ quê lên phố kia (lực lượng này khá lớn) là thuộc giai cấp nào" Chỉ đến nay chú Giang mới giải đáp được cho tôi khi chú chứng minh: ở Việt Nam không có và chưa bao giờ có giai cấp công nhân.

Từ khi học lớp bốn cô giáo chủ nhiệm tôi giảng rằng: "Không có Bác Hồ thì không có các em." Tôi cứ thắc mắc mãi: Tôi được bố mẹ sinh ra, nếu không có Bác Hồ thì tôi vẫn cứ có mặt trên đời này. Bác Hồ chỉ là người tìm ra con đường đi tới độc lập cho dân tộc mình mà thôi. Rồi mới đây tôi có phê phán việc người ta thần thánh hoá Bác Hồ Chí Minh tức là phủ nhận, phỉ báng công lao của Người chứ không phải tôn vinh Người. Tôi thấy nhiều nơi người ta thờ Hồ Chí Minh như một vị thánh. Các bà sãi thường thờ tượng bán thân của Bác bên cạnh tượng Phật Thích Ca. Mấy điểm di tích lịch sử lập am miếu hương khói lễ bái có phần mê tín dị đoan. Họ coi Hồ Chí Minh như một vị thánh cứu nhân độ thế. Cứ đà này rồi lũ trẻ sẽ hiểu hai từ "Bác Hồ" giống như một vị thần, một ông tiên giáng thế chứ không phải một con dân, một công dân số một của Dân tộc ta. Các nhạc sĩ thì đua nhau ca ngợi Hồ Chí Minh với những sáng tác mà ca từ, giai điệu phảng phất các bản thánh ca của tôn giáo Đảng. Huyễn hoặc sao, người ta còn đặt ra các giai thoại để dựng thành truyền thuyết. Ví dụ, người ta nói ở Nam Đàn (Nghệ An) có một con suối được sinh ra đúng vào ngày Bác Hồ chào đời. Đến ngày Bác Hồ mất thì bỗng con suối kia cạn nước. Có người còn nói vào năm 1890 trên trời xuất hiện một vì sao rất sáng, sáng mãi đến ngày 2-9- 1969 thì vụt tắt....

Tất cả những điều như vậy thực tế, vô hình chung đã xuyên tạc Bác.Bác là con người bằng xương, bằng thịt thì tất có mơ ước lớn lao, nhưng cũng có những ham muốn cá nhân và cả những dục vọng xác thịt.

Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, chính tôi đã viết bài đăng trên một tạp chí chính trị phê phán việc một số nhà văn nói cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là "cuộc chiến thần thánh". Tôi cho thế là phủ nhận công lao của hàng triệu liệt sĩ nằm lại ở các chiến trường. Chiến thắng này, chúng ta đổi bằng hàng núi xương, hàng bể máu, bằng nỗi đau quằn quại của cả dân tộc, chứ làm gì có vị thánh, vị thần nào giúp. Hàng vạn, hàng vạn chiến sỹ hăm hở xông trận đều là những con người bằng xương, bằng thịt có căm giận, có xót thương của cha mẹ, vợ con, xóm làng. Họ đâu phải là những thiên binh được Thượng đế phái xuống. Họ là cha, là anh, là bạn bè chúng ta đấy chứ.

Rồi đến cái việc "Hội nhập để phát triển", đúng là chúng ta phải rũ bỏ những định kiến cổ hủ. Chúng ta không thể xếp các nước XHCN vào những cái hộp, không thể nhìn thế giới qua một lỗ châu mai. Bởi vì, chúng ta là một phần của nhân loại, của thế giới. Không thể hiểu độc lập dân tộc là phải và chỉ để cho: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư".

Chúng ta không thể lấy giá nhân công rẻ mạt làm lợi thế trường cửu để thu hút đầu tư nước ngoài. Như vậy thì người lao động nước ta mãi hèn kém, mãi mãi nghèo khó, mãi mãi là tôi đòi. Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang đã rất có lý khi đả phá luận điểm trên và chỉ ra cho Đảng phải biết khai thác tư chất thông minh, cần cù, khéo tay của con người Việt Nam làm lợi thế cạnh tranh.

"SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" xứng đáng là cuốn cẩm nang cho các nhà lãnh đạo nước ta, nếu họ muốn đảng Cộng sản còn tiếp tục gánh vác được sự nghiệp lãnh đạo Đất nước; là đơn thuốc tốt có thể chữa lành những căn bệnh trầm kha cho xã hội Việt Nam ngày nay; là kim chỉ nam định hướng cho Đất nước phát triển theo định hướng Dân chủ, Tự do tới giầu mạnh, văn minh.

Đúng là ở nước ta "Hào kiệt đời nào cũng có" nhưng những người như chú Nguyễn Thanh Giang đã bị câu thơ Đặng Dung vận vào: "Thời lai đồ điếu thành công dị. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa". Người ta không những không biết tôn trọng, trân quý mà còn hắt hủi. Không chỉ hắt hủi mà còn dày xéo, trấn áp. Nhưng, tôi vẫn hy vọng một ngày kia, những ý kiến của chú sẽ được người ta nghiên cứu, bàn thảo một cách nghiêm túc

Tôi cầu mong rồi đây không chỉ có một mà sẽ nhanh chóng xuất hiện hàng trăm, hàng ngàn Nguyễn Thanh Giang đang đâu đó âm thầm ưu tư vì vận nước. Nhất định không lâu nữa, rồi lũ "đồ đểu" kia phải phục thiện tung hô Chú như ngày nay chúng đang hò nhau dựng tượng ông Kim Ngọc.

Gấp cuốn "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" lại và ngẩng đầu thở phào, tôi trả lời được cái dấu hỏi quặn đau mang hình hài Đất nước. Tôi biết được như Chú đã hình tượng qua hai câu thơ Tế Hanh: đất nước mình như "Mấy chuyến toa đầy nặng khổ đau" chỉ vì "Có gì vướng víu trong hơi máy."

Hôm nay tôi đã được ba mươi tuổi bảy ngày. Có ai đó hỏi rằng: "Mày đã làm gì được cho đời". Vâng! Tôi chưa làm được gì được cho Nhân dân tôi, Đất nước tôi, nhưng "SUY TƯ VÀ ƯỚC VỌNG" đã bảo cho tôi biết phải làm gì. Và, tôi xin hứa!

Thật tiếc là cuốn sách quí này không được in ấn công khai để được phổ biến rộng rãi. Gíá như tất cả lớp trẻ chúng tôi có được cuốn sách này thì chúng tôi sẽ phải ngậm ngùi nói thực với nhau rằng "Chúng mình đang chạy mãi phía sau trên con đường thời đại". Rồi, khi biết được có cái gì "vướng víu trong hơi máy" thì chúng tôi sẽ đồng tâm hợp lực "ghé vai vào" sửa lại cho con tàu Đất nước chạy nhanh hơn, kịp với con tàu thế giới, để, không còn cảnh "Những chuyến toa đầy nặng khổ đau".

"Lời quê góp nhặt dông dài", gọi là để tỏ lòng cảm tạ người chí sĩ đã khai sáng cái đầu óc u tối của tôi, đưa tôi lên khỏi lòng gíếng giáo điều hạn hẹp. Kính chúc chú Nguyễn Thanh Giang và gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc. Chúc cho ƯỚC VỌNG của chú sớm thành hiện thực...

Đêm 28-8-2004

Vương Quốc Hoài

Email: [email protected]

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.