Hôm nay,  

Khủng Hoảng Lúa Gạo

30/04/200800:00:00(Xem: 10309)

...vừa được mùa lúa gạo mà dân trong Nam lại hốt hoảng sợ thiếu ăn...

Tuần qua, khi mà dân chúng Việt Nam cũng hốt hoảng về nạn thiếu gạo vì giá cả tăng vọt, vụ khủng hoảng về lúa gạo ở khắp Á châu đã thực tế tràn vào Việt Nam, một quốc gia đứng hàng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo. Diễn đàn Kinh tế của đài RFA sẽ tìm hiểu về cuộc khủng hoảng và những giải pháp có thể áp dụng trong tương lai, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cuối tuần qua, cơn sốt gạo đã nổi lên tại Việt Nam khi rất nhiều người đổ xô mua gạo phòng ngửa và nạn đầu cơ tích trữ có xảy ra. Như vậy, vụ khủng hoảng lúa gạo đã thực tế tràn vào một quốc gia đứng hàng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo và vừa được mùa thu hoạch rất khả quan tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Vì lý do đó, mặc dù cơn sốt gạo tại Việt Nam có vẻ đã tạm lui từ hai ngày qua chúng tôi vẫn đề nghị là trong chương trình chuyên đề tuần này, ta sẽ cùng tìm hiểu về cuộc khủng hoảng đó và về những biện pháp mà các nước trên thế giới có thể áp dụng.

Câu hỏi đầu tiên thưa ông, vì sao khủng hoảng lúa gạo đã bùng nổ vào lúc này khi nhiều nước sản xuất gạo đã hoặc sắp tới mùa gặt được thế giới dự đoán là khả quan"

- Vụ khủng hoảng lúa gạo chúng ta đang chứng kiến là một phần của vụ khủng hoảng vì lương thực tăng giá phi mã, mà diễn đàn này đã nhiều lần đề cập tới từ cuối năm ngoái. Gạo là nguồn lương thực chính của nhiều người, nhất là tại Á châu trong đó có Việt Nam. Thành phần dân chúng nghèo đói nhất lại bị ảnh hưởng nặng nhất nên khủng hoảng lúa gạo có thể dẫn tới khủng hoảng xã hội là điều đã xảy ra cho 37 quốc gia trên thế giới, tính tới tuần này. Vụ khủng hoảng lương thực nghiêm trọng đến độ Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã triệu tập một phiên họp bất thường trong hai ngày đầu tuần tại Thụy sĩ để cùng các tổ chức quốc tế tìm phương cách đối phó.

Hỏi: Như vậy, khủng hoảng lúa gạo là một phần của cuộc khủng hoảng về lương thực, nhưng đó là một phần lớn hay nhỏ tới chừng nào"

- Trong các loại ngũ cốc, gạo là lương thực đứng hàng thứ nhì sau lúa mì và là nguồn lương thực chính của các nước châu Á. Dân số thế giới có sáu tỷ người thì hơn 15%, tức là hơn một tỷ người là thành phần nghèo đói, có lợi tức bình quân là dưới một đô la một người trong một ngày, nghĩa là thu nhập cả năm chưa được tới 360 Mỹ kim. Trong số này, hơn hai phần ba là những người ăn gạo tại châu Á, tức là khoảng 700 triệu người. Họ mất chừng 40% ngân sách chi tiêu chỉ nội cho một việc là mua gạo. Ngoài châu Á, châu Phi ngày nay tiêu thụ gạo nhiều hơn trước và có tỷ lệ bần cùng còn cao hơn châu Á nên cũng bị ảnh hưởng rất nguy kịch. Trong những biến động đang dồn dập xảy ra, có lẽ khủng hoảng lương thực gần như là đồng nghĩa với khủng hoảng lúa gạo.

Hỏi: Nếu có thể nói thật ngắn gọn về nguyên nhân thì ông cho là vì sao thế giới lại bị khủng hoảng lương thực vào lúc này khi mà sản lượng ngũ cốc trên toàn cầu đang ở một mức cao kỷ lục như diễn đàn này đã trình bày trong một kỳ trước, là hai tỷ 130 triệu tấn"

- Thật khó mà nói tới một nguyên nhân chính, và tôi lại xin trở lại chuyện "nhân" và "duyên" mà mình thường đề cập tới trong chương trình này. Cái "nhân" ở đây là hoàn cảnh cung cầu đang căng thẳng vì số cầu rất cao. Cái "duyên" chính là nạn đầu cơ tích trữ trên phạm vi toàn cầu.  Chính quyền Việt Nam đang kết án những người gọi là đầu cơ tích trữ trong xã hội, nhưng thực tế thì chính Việt Nam - và nhiều quốc gia khác - cũng đang đầu cơ tích trữ gạo.

- Điều ấy cho thấy những bất toàn trong thị trường lúa gạo vì ta nên biết là tâm lý hốt hoảng hoặc phản ứng tích trữ dẫn tới nạn đầu cơ chỉ xảy ra khi thị trường không vận hành một cách bình hòa. Chính quyền Việt Nam cần nhìn ra trách nhiệm của mình trong vụ khủng hoảng đó, chứ nếu chỉ cho công an đi lùng bắt người đầu cơ hoặc cấm báo chí không được loan tin xấu về việc cung cấp lương thực thì cũng không giải quyết được vấn đề.

Hỏi: Nếu vậy, xin đề nghị là chúng ta sẽ lần lượt phân tích những nguyên nhân sâu xa của vấn đề, trước hết là về tình hình cung cầu, được biểu hiệu qua một chỉ dấu là giá cả. Sản lượng lúa gạo của thế giới đã lên xuống ra sao và vì sao giá gạo lại tăng vọt như vậy"

- Theo một cơ quan có thẩm quyền nhất là Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế, có tên tắt là IRRI với trụ sở đặt tại Manila của Philippines, thì sản lượng gạo trên thế giới đã gia tăng đều đặn từ 1960 đến nay, trừ ba năm bị sút giảm nhẹ là từ năm 1999 tới 2001. Giá gạo cũng giảm mạnh và tương đối liên tục kể từ năm 1974, tính theo thực giá của đô la ngày nay thì giảm từ khoảng 1.300 xuống dưới 300 đô la một tấn, cho tới 2001 mới bắt đầu tăng. Nhưng tăng mạnh nhất là kể từ năm 2007, rồi từ bốn tháng đầu năm nay thì đã trở thành phi mã. Nếu lấy giá gạo tiêu chuẩn trên thị trường là gạo Thái loại có 5% tấm, thì từ đầu năm ngoái đến tháng Tư năm nay đã gấp ba, từ 362 đô la đã lên một ngàn đô la một tấn.

- Nguyên nhân chính yếu và sâu xa của hiện tượng trường kỳ này là sau cuộc cách mạng về kỹ thuật nông nghiệp - mà người ta gọi là "Cách mạng Xanh" vào đầu thập niên 1960-1970 - khi sản lượng tăng và giá hạ, nhiều quốc gia Á châu đã rơi vào phản ứng chủ quan ỷ lại mà lãng quên hẳn khu vực canh nông. Chúng ta có đề cập tới vấn đề ấy trong chương trình phát thanh cách đây hai tuần, vào ngày 16 tháng Tư dưới tiêu đề "Nông sản lên giá - Nông gia tuột dốc" khi phân tích báo cáo mới nhất của Ủy ban Kinh tế Xã hội Á châu Thái bình dương ESCAP.

Hỏi: Như vậy, có phải là từ cái nhân là lãng quên nông nghiệp mà chúng ta đang gặp hậu quả ngày nay"

- Khi nói đến tình trạng cung cầu bấp bênh ngày nay, ta nhớ trước tiên là vế cung, là sản lượng và đà gia tăng năng xuất canh tác của các nước có sút kém dần vì ít đầu tư vào hạ tầng vận chuyển, vào công nghệ lúa gạo và bỏ rơi khu vực canh nông, hoặc lấy đất đai canh tác vào công dụng khác. Đấy là phần quan trọng nhất của vấn đề, các yếu tố khác như thiên tai, dịch bệnh hay giá cả nguyên nhiên vật liệu gia tăng, chỉ làm cho vấn đề trở thành trầm trọng hơn.

- Bước sang chuyện cầu và giá cả thì ta không quên rằng nhiều quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng thì thật ra cũng chỉ đủ "vặt mũi bỏ mồm", là trường hợp bốn nước trồng gạo nhiều nhất địa cầu mà tiêu thụ cũng nhiều nhất. Đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh. Quốc gia có sản lượng thứ năm là Việt Nam thì còn dư để xuất khẩu nhưng vẫn thua kém nước thứ sáu là Thái Lan, đứng đầu thế giới về xuất cảng gạo.

- Khi người ta ăn nhiều hơn mà sản xuất không tăng theo cùng nhịp độ thì mình có tình trạng cung cầu bấp bênh như hiện nay. Thế rồi những nước xuất khẩu mà quản lý kém về vĩ mô lại dùng lợi thế ấy để tích trữ và đầu cơ, là trường hợp Việt Nam, với kết quả bất công là nông gia hưởng lợi rất ít mà các đầu nậu thu mua và doanh nghiệp xuất khẩu lại có lời lớn. Trong khi ấy, dân nghèo lại rơi vào hoàn cảnh thiếu ăn trầm trọng nên động loạn mới dễ bùng nổ.

Hỏi: Ông có nghiêm khắc quá khi nói tới trường hợp của Việt Nam hay không"

- Thưa là không và điều mỉa mai là chuyện ấy lại xảy ra khi Việt Nam đang muốn ăn mừng biến cố 1975 vào cuối tháng Tư này! Khi đồng bằng Cửu Long vừa được mùa lúa gạo mà dân trong Nam lại hốt hoảng sợ thiếu ăn khiến Chính phủ và các ban ngành hay chính quyền địa phương phải mở chiến dịch trấn an thì ta thấy ra sự bất trắc và không đáng tin của thông tin và phân phối thị trường.

- Bây giờ, hãy tưởng tượng ra phản ứng của từng tỉnh là lui về chế độ "ngăn sông cấm chợ" thời trước để gạo của tỉnh nhà khỏi lọt qua nơi khác thì ta suy ra quy mô toàn cầu của vấn đề, khi các nước đều phải có phản ứng phòng ngừa như thế. Đây là một sự thất bại hiển nhiên của quản lý thị trường.

Hỏi: Chúng ta bước qua phần thứ hai của đề tài là làm sao giải quyết vấn đề này, vấn đề ông cho là do sản xuất kém và quản lý kém. Hãy nói về sản lượng trước, người ta có thể làm được những gì"

- Chúng ta sẽ phải nói đến biện pháp ngắn hạn và chiến lược trường kỳ. Nhưng, ngay trước mắt thì ai cũng có thể thấy rằng mình phải gia tăng sản lượng lúa gạo. Làm sao đạt mục tiêu ấy" Để tăng sản lượng, ai cũng có thể nghĩ đến mở rộng diện tích canh tác, đạt năng xuất cao hơn trên cùng một diện tích hoặc phải cùng lúc làm cả hai việc đó. Thực tế cho thấy những giới hạn quá lớn của việc mở rộng diện tích canh tác nên giải pháp chủ yếu và thiết thực là phải nâng cao năng xuất.

- Một cách cụ thể, và cần xúc tiến ngay trong một chiến lược có tầm vóc quốc gia, là xác định lại ưu tiên của nông nghiệp và đầu tư nhiều hơn vào việc nghiên cứu ra công nghệ mới và phổ biến kiến thức mới cho nông gia. Nói cho dễ hiểu là phát động một cuộc Cách mạng Xanh trên phạm vi toàn cầu và toàn quốc. Đó là về chiến lược trường kỳ mà các nước đều đang được nhắc nhở.

Hỏi: Về những biện pháp trước mắt thì các nước có thể làm được những gì"

- Tôi thiển nghĩ rằng ở gốc thì trong khi chờ đợi tìm ra giải pháp kỹ thuật cải thiện năng xuất, người ta cần giảm thiểu những thất thoát oan uổng trong quy trình từ sản xuất, xay xát, đến phân phối, tức là tồn trữ, bảo quản và vận chuyển. Việt Nam có thể tiết kiệm - nghĩa là gia tăng được - số thất thâu là từ 10 đến 15% sản lượng lúa gạo trồng trọt được và nâng cao được phẩm chất lúa gạo mình có. Chính quyền nên đi tiên phong trong việc đầu tư thiết thực ấy.

- Bước kế tiếp là nên bắt đầu giải phóng thị trường để nông gia ngày càng có cơ hội tiếp cận thẳng với nhà tiêu thụ thay vì phải mất tiền cho hệ thống trung gian, và cho doanh nghiệp thực tế đang được độc quyền xuất khẩu và làm giá.

- Tôi xin lấy một thí dụ dễ hiểu là nếu các doanh nghiệp phân phối hay bán lẻ hoặc hệ thống siêu thị của quốc tế mà được đầu tư vào thị trường Việt Nam, chính họ sẽ trực tiếp gặp gỡ nông gia, giải thích về yêu cầu hay thị hiếu của thị trường, đặt ra tiêu chuẩn chính xác cho nông gia biết rõ mà cung ứng vì điều ấy có lợi cho cả đôi bên. Khi được yểm trợ từ gốc mà lại có cơ hội tự do trao đổi ở ngọn thì nông gia sẽ có lợi và chính là thị trường sẽ cải thiện được những bất toàn hay ách tắc trong phân phối.

Hỏi: Câu hỏi sau cùng mà nhiều người rất quan tâm, thưa ông, liệu một trận đói có thể xảy ra tại Việt Nam hay không mà vì sao dân chúng lại hốt hoảng như vậy"

- Chúng ta không quên rằng hai chục năm trước, khi Việt Nam bắt đầu giải phóng nông nghiệp từ thời kỳ đổi mới và lần đầu tiên xuất khẩu gạo sau mấy chục năm chiến tranh, một số tỉnh đã bị đói. Ngày nay, có lẽ nạn đói sẽ khó đe dọa như thời ấy nhưng tâm lý hốt hoảng thì vẫn còn, là trường hợp xảy ra cho mọi xã hội trong hoàn cảnh bất trắc của thị trường.

- Tuy nhiên, dù không sợ bị chết đói, Việt Nam cũng cần chú ý đến tình trạng ngặt nghèo nhất của các thành phần cùng khốn mà chuẩn bị những biện pháp cung cấp và cấp cứu xã hội. Tất nhiên, đây không phải là sự tái lập của chế độ tem phiếu ngày xưa, và trong hoàn cảnh đó, người ta cũng không nên quên rằng nạn tham nhũng vẫn hoành hành và các phần tử thiếu lương thiện sẽ thừa cơ trục lợi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.