Hôm nay,  

Con Cào Cào Cô Đơn

02/07/200800:00:00(Xem: 10293)
Buổi sáng thứ Bẩy, ra vườn hít thở chút không khí ban mai, thuởng thức một khoảng thời gian êm ả, không tiếng xe, không khói bụi, và nhìn ngắm khu vườn yên tĩnh còn ngái ngủ. Nhiều cánh lá còn xếp, nhiều cánh hoa còn rung dưới giọt sương đêm, cỏ dưới chân còn ướt. Người và cảnh cùng trong trạng thái buông mềm. Tay chân, cành lá chưa vươn hết sức, vẫn chờ mặt trời lên để hoạt động trong một ngày thật đẹp. Bất chợt, đang lặng ngắm những cánh mong manh của một đóa quỳnh vàng, một chú cào cào xanh từ trong bụi nhẩy ra, mở to cặp mắt tròn như hòn bi nhỏ xíu, nhìn con người đứng trước mặt một cách ngờ vực.

Chiếc đầu nhọn hoắt nghiêng qua nghiêng lại như đánh giá đối phương, còn hai chân có những chiếc răng sắc như dao, nhúc nhích như sẵn sàng đập xuống cỏ, lấy đà rồi bay vù đi vào một chỗ nào khuất khúc. Hai cặp cánh xanh ép bên sườn nhưng cũng như đôi chân, chỉ một chớp mắt là giang rộng ra, vút lên, mất hút!

Ơi! Đã bao nhiêu năm rồi, chưa được nhìn thấy một chú cào cào xanh! Có lẽ từ khi qua đất nước người, có lẽ lâu lắm rồi thì phải... Những chú cào cào xanh, biểu tượng cho một thời thơ ấu quê nhà, thời chạy theo những cánh chuồn lơ lửng; chuồn ngô với đôi mắt thật to và hàm răng thật sắc, đủ làm cho đứa bé lì lợm phải hét lên; chuồn lửa với thân dài đỏ rực; chuồn bà già, chuồn chuồn kim xanh biếc. Nhưng giữa những cánh chuồn, cánh bướm, thì chú cào cào xanh oai hùng nhất, đáng mơ nhất của tuổi thơ, vì chú bay rất khỏe, nếu buộc chỉ vào chân, để chú bay vòng trong nhà, thì thật ác liệt. Tiếng đập cánh của chú "vù vù" nghe như tiếng còi chiến thắng, vì không có thằng nào trong xóm có con cào cào khổng lồ như thế. Tiếng đập cánh của chú cũng gợi lên sự bình an của một thời mà con người yêu thương nhau. Hàng xóm gọi nhau í ới. Bạn bè quấn quít lại qua. Ít thù hận, nhiều thương yêu. Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, nói chuyện đâu đâu. Thằng Lượm, con Mót, ông thầy Tầu "ai lồng hồ, dàng dụn, bạc dụn báng hông...", anh bán kẹo kéo "má ơi, con muốn lấy chồng; lấy anh kẹo kéo, vừa bồng, vừa nhai".. Không có những trận chiến giữa hàng xóm với nhau, nếu có, chẳng qua như một sự xô đũa, xô bát, ồn ào chút xíu rồi lại thôi, đâu vào đấy. Những cãi cọ, cũng sẽ là chiếc đập cánh của con cào cào, ào một cái rồi lại trở về bình yên như lũy tre làng.

Nhưng, bây giờ, ở xứ người, sao lâu lắm không được nhìn thấy cào cào, sao lâu lắm không thấy tình hàng xóm.. Còn cộng đồng thì sao" Chỉ khi nào thấy có sự xuất hiện của Cộng Sản, có những khiêu khích đến từ Hà Nội, "thủ đô của phẫm giá con người", hay "cái nôi của văn minh nhân loại" như lời quảng cáo ì xèo cho một nơi chốn mà nhân phẩm của phụ nữ nghèo bị chà đạp thê thảm, lúc ấy, mới thấy sự đoàn kết, vai kề vai, tay nắm tay, cùng hô lên chung một tiếng "Tự Do cho Việt Nam". Ngoài ra, sau khi hình bóng Cộng Sản qua rồi, thì cũng như con cào cào xanh kia, ít thấy xuất hiện tình đồng hương, đồng chủng. Chỉ thấy người mình đánh người mình, người Sàigon chụp mũ, tấn công người Biên Hòa, người lính áo xanh tấn công người lính áo sọc. Đâu đâu cũng thấy nón cối bay tung. Kèm theo nón cối là những văn chương bình dân "mất gà, mất vịt". Những danh từ, tĩnh từ, trạng từ vốn được xử dụng thường xuyên nơi chợ "búa", nay được đem ra phân phối trên các tờ lá cải, trong hệ thống truyền thanh, và đặc biệt là trong hệ thống thư điện tử miễn phí. Người ta muốn cho nhau thân tàn, ma dại, chết dở sống dở..

Sau khi bỏ quê hương để sống ở xứ lạ, người mình hình như không mang theo hương vị của lúa, ngô, khoai, sắn; không giữ được hình ảnh của nhũng cánh chuồn, cánh bướm; không nhớ đến những chú cào cào xanh; không còn thích nghe những câu ca dao "hỡi anh đi đường cái quan, dừng chân đứng lại em than đôi lời", hay "Nhà Bè nước chẩy chia hai, ai dìa Gia Định, Đồng Nai thì dìa"… Câu thơ "gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương" không còn vẳng trong không gian nữa. Có lẽ vì không còn cảnh "học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huệ, chân đi không rời"... Hay có lẽ vì không còn những níu kéo "người ơi, người ở, đừng về", nên người ở Cali cứ lẳng lặng bỏ qua Texas, người ở miền Bắc Seattle thiên di về xứ nóng Arizona, mà chẳng mang theo kỷ niệm gì..

Đất nước người, dù sang, dù đẹp, dù cũng có đồng quê, nhưng không gọi được tiếng võng đưa kẽo kẹt ban trưa, tiếng mẹ ru con ời ợi. Cho nên, không ai thương ai. Nhìn chung quanh, cứ thấy đầy dẫy kẻ thù. Khuôn mặt nào cũng là Cộng Sản. Kể cả các nhà văn, nhà thơ đã từng chiến đấu gần hết một đời, còn vài năm nữa là lẳng lặng ra đi, mà vẫn bị tiếng không lành. Dĩ nhiên cũng có một vài khuôn mặt hiếm hoi từng là chiến sĩ, lúc đi xuống gần chân đồi, mới đổi giọng tay sai. Họ là những kẻ bất cố liêm sỉ, tham tiền, mê sắc, mà bán cả thân phận, "mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"; những kẻ đó, không đuợc ví với con cào cào anh dũng, bay "vù vù" kia, mà chỉ xứng đáng làm thân cuốn chiếu. Gặp ai đụng tới, thì co giúm lại, mặc cho trẻ dùng que, vất qua vất lại, cũng không được ngang tàng như giun, có quẫy có đạp.

Vì thế, nhìn con cào cào cô đơn kia, đứng hiên ngang, ngẩng cổ nhìn con người to hơn ngàn lần mà không tỏ ra chút nào sợ hãi, con người có chút nào kính trọng. Người xưa đã từng nói "Ngược đời, châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng". Con cào cào xanh kia, với đôi mắt long lanh, với cái đầu liếc qua liếc lại, mi là biểu tượng của cô đơn, nhưng cũng là hình bóng của quê hương yêu dấu. Sao mi không kéo bầy, kéo lũ về đây, để cho chúng ta thương yêu nhau hơn, bớt tiếng bấc tiếng chì, bớt gây gây gổ gổ, và triệt tiêu đi những hình ảnh không đẹp của đồng hương đánh đồng hương, người Việt Bẩy Lăm chống người Việt Chín Mươi, cựu chiến sĩ tấn công cựu quân nhân... Buồn quá, cào cào ơi!

Con cào cào cô đơn, hình như hiểu tiếng người, lúc lắc đầu thêm vài lần, dáng điệu như suy nghĩ mông lung, rồi chợt đập cánh bay "vù"...

Chu tất Tiến.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.