Hôm nay,  

Tại Sao Yukon?

25/08/200800:00:00(Xem: 8781)
1.-   CỘNG ĐỒNG, ĐẤT NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ

Từ  ngày 1 đến ngày 3 tháng 8 vừa qua, tại thành phố Whitehorse, thủ phủ của địa hạt Yukon, diễn ra lễ hội “Whitehorse Heritage Festival and Grand March”. (tạm dịch “Lễ hội Di sản và diễn hành Whitehorse”).  Trong cuộc diễn hành, các đoàn tham dự là cộng đồng các sắc dân sinh sống tại Yukon.  Lễ hội nầy là “Lễ hội di sản” (Heritage Festival) của các cộng đồng công dân Canada, chứ không phải là “Lễ hội quốc gia”, hay “Lễ hội Quốc tế”.  Nhân đây có ba khái niệm căn bản cần phải phân biệt.  Đó là cộng đồng, đất nước và chế độ trên đất nước đó.

Cộng đồng là tập hợp một nhóm người có một mẫu số chung như địa phương, sắc tộc, chính trị, hay tôn giáo… Ví dụ Cộng đồng người Hoa, Cộng đồng người Do thái… Đất nước hay quê hương là nơi xuất phát của cộng đồng sắc dân, hay tổ tiên của thành viên trong cộng đồng sắc dân.  Ví dụ Cộng đồng người Việt gồm những thành viên xuất phát từ nước Việt Nam, hay là con cháu của những thành viên đến từ Việt Nam.  Chế độ chính trị là tổ chức cai trị của một đất nước hay quốc gia.  Chế độ của mỗi đất nước có thể thay đổi theo những hoàn cảnh chính trị. Vì vậy, tuy xuất phát cùng một đất nước, hay cùng một sắc dân, nhưng theo những chế độ chính trị khác nhau nên có những cộng đồng khác nhau.  Ví dụ Cộng đồng Hồng Kông, cộng đồng Quảng Đông…

Những định nghĩa trên đây có thể còn thiếu sót, nhưng rất căn bản để nhìn vào vấn đề Cộng đồng người Việt trên đất nước Canada thanh bình nầy.

2.-   CĂN CƯỚC CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở CANADA 

Người Việt ở Canada trước năm 1975 rất ít.  Ít đến nỗi có thể đếm trên đầu ngón tay.  Trước  năm 1975, nước Việt Nam bị chia thành hai nước, theo hai thể chế chính trị khác nhau.  Bắc Việt là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), theo chủ nghĩa cộng sản.  Nam Việt là Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) theo chế độ tự do dân chủ.  Được Cộng sản Quốc tế viện trợ, Bắc Việt chủ động xua quân tấn công Nam Việt từ  năm 1956, và chiếm toàn thể VNCH từ ngày 30-4-1975. 

Sau ngày 30-4-1975, do chính sách độc tài của chế độ cộng sản, nhiều người Việt ở miền Nam bỏ nước ra đi.  Nhân đó, có một số người miền Bắc cũng ra đi.  Tất cả người Nam hay người Bắc Việt đều ra đi vì lý do chính trị, mới được Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp quốc cho đi định cư.

Từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, theo thống kê của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, số người Việt bỏ nước ra đi và đến được các nước tự do là 989,100, cả đường biển lẫn đường bộ.  Số người tử nạn trên đường vượt biên phỏng chừng từ 400,000 đến 500,000 người.  Nhiều nước trên thế giới đã bao dung, đón nhận thuyền nhân Việt Nam.  Trong số nầy, Canada là nước sớm trở thành quê hương thứ hai của những người tỵ nạn cộng sản Việt Nam.  Chính phủ Canada còn cho phép người tỵ nạn bảo lãnh gia đình đến định cư, nên người Việt càng ngày càng đông. 

Bỏ nước ra đi sau năm 1975 để tỵ nạn cộng sản chính là căn cước của Cộng đồng người Canada gốc Việt hiện nay ở Canada.  Sau năm 1975, phải là người tỵ nạn chính trị, chính phủ Canada mới chấp nhận cho vào định cư ở Canada.  Những người được bảo lãnh cũng bắt nguồn từ việc tỵ nạn chính trị của thân nhân của mình.  Chỉ có một số rất ít ra đi theo cách kết hôn.  

Theo thống kê, trên toàn quốc Canada ngày nay có khoảng 180,000 người Canada gốc Việt.  Cộng đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản đã đóng góp không ít cho nhà nước Canada.  Ví dụ điển hình gần đây nhất là chiếc huy chương vàng đầu tiên của Canada tại Thế vận hội Bắc Kinh ngày Thứ Bảy 16-08-2008 là thành tích của Carol Huỳnh, một phụ nữ trong một gia đình ở Sài Gòn trước đây, đã vượt biên và định cư ở tỉnh bang British Columbia.

3.-   CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT VÀ CHẾ ĐỘ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 

Chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) ở trong nước hiện nay là hậu thân của chế độ VNDCCH, theo chủ nghĩa cộng sản.  Quốc hội Âu Châu, họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg ở đông bắc nước Pháp, đã đưa ra nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại và vi phạm nhân quyền tập thể.  Chế độ CSVN ở trong nước hiện nay giống như các chế độ cộng sản khác, đã vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng, mà ai cũng biết qua những vụ án lịch sử, như Các cuộc thủ tiêu chính trị năm 1945, Cuộc Cải cách ruộng đất (1955-1956), Nhân Văn Giai phẩm (1956), Tết Mậu Thân (1968), và gần đây, hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng ở trước tòa án Huế ngày 30-3-2007, làm cho cả thế giới bàng hoàng.

Khi phải lìa bỏ quê hương ra đi, người Việt tỵ nạn cộng sản mang theo trong tâm trí mình hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, trong đó đặc biệt là hình ảnh Lá Cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ của Việt Nam trước khi đảng Cộng Sản chiếm quyền ở miền Bắc năm 1954 và trước khi Cộng sản chiếm quyền ở miền Nam năm 1975. 

4.-   TẠI SAO YUKON" 

Theo công pháp quốc tế, chế độ cộng sản CHXHCNVN hiện nay là đối tác chính thức của chính phủ Canada.  Không ai chối cãi điều nầy.  Tuy nhiên, CĐNCGV đang sinh sống, làm việc, thực hiện nghĩa vụ công dân, và đóng góp cho sự phát triển của Canada là một thực thể không thể phủ nhận được.  Các cấp chính quyền Canada cần phân biệt rõ ràng giữa Cộng đồng người Canada gốc Việt (CĐNCGV) với chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay trong nước là hai thực thể hoàn toàn khác nhau.  Đừng đồng hóa CĐNCGV tỵ nạn cộng sản ở Canada với chế độ cộng sản CHXHCNVN.

Trong khi chính phủ Canada bang giao, trao đổi mậu dịch với CHXHCNVN, thì CSVN đã lợi dụng cơ hội này để đưa cán bộ cộng sản vào Canada qua nhiều phương tiện khác nhau, nhằm tiếp tục tuyên truyền, rỉ tai, đe dọa những người Canada gốc Việt tỵ nạn cộng sản. Chính phủ Canada đã vì lợi ích của mình trong việc bang giao với CHXHCNVN, nhưng thủ tướng Stephen Harper đã từng tuyên bố tại Hà Nội năm vừa qua rằng Canada không đổi những giá trị nhân quyền để lấy dollar, thì chính phủ Canada cũng nên trực tiếp can thiệp, bảo đảm quyền lợi và sự an toàn cho CĐNCGV ngay tại Canada, để họ có điều kiện bảo tồn di sản của họ, mà trong đó Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là điều tối ưu tiên.  Nước Canada nổi tiếng là nước đa văn hóa.  Chính phủ Canada nổi tiếng tôn trọng nhân quyền.  Không có lý do gì chính phủ Canada từ chối việc thừa nhận di sản văn hóa của CĐNCGV.

Các cấp chính quyền Canada cần lưu ý rằng Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng văn hóa, tâm linh thiêng liêng của CĐNVGC.  Đối với CĐNCGV tỵ nạn cộng sản, Lá Cờ Đỏ Sao Vàng của chế độ CHXHCNVN không khác gì lá cờ của Đức Quốc Xã đối với các Cộng đồng Do Thái.  Người Do Thái kinh hoàng và căm ghét lá cờ Đức Quốc Xã như thế nào thì người Việt tỵ nạn cộng sản kinh hoàng và căm ghét lá cờ của chế độ cộng sản Việt Nam như thế đó.  Đó là lý do tại sao mà CĐNCGV cương quyết tranh đấu cho Lá Cờ Vàng tại Whitehorse Heritage Festival and Grand March ngày 02-08-2008.

(Toronto, 20-08-2008).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
Một bài viết ngay sau khi được bầu vào chức Tổng Bí thư đảng CSVN cho thấy ông Tô Lâm đã hiện nguyên hình một người giáo điều, bảo thủ và hoài nghi trong “hợp tác quốc tế” với các nước. Trước hết ông cáo giác: “Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” Lời tố cáo này không mới vì chỉ “nói cho có” và “không trưng ra được bằng chứng cụ thể nào”, giống hệt như những người tiền nhiệm...
- Mình lúc này không muốn theo dõi tin tức nữa. Mệt lắm. - Mình cũng vậy, không đọc báo, chỉ xem phim hoặc nghe thuyết pháp, tránh nhức đầu. - Đời người ngắn ngủi, sao phải tốn thì giờ… - Ở tuổi này, chuyện gì không vui xin miễn, tội gì phải đọc tin tức rồi tự mình làm khổ mình. Trong những năm gần đây, những phát biểu đại loại như trên từ bạn bè khiến những người trong ngành chúng tôi đôi lúc không khỏi ngán ngẫm về công việc báo chí của mình, một việc làm nếu đã không được tưởng thưởng tài chánh tương xứng, thì phần thưởng tinh thần từ ý nghĩa tự nó cũng không đủ bù đắp. Đọc báo hay không đọc báo?
Hồi đầu thế kỷ, có bữa, tôi nhận được thư của Vũ Thư Hiên. Ông hớn hở cho hay “Anh Tấn sắp sang Pháp chơi với anh vài tuần”. Thuở ấy, hai ông còn khá trẻ trung (và còn sung lắm) nên chắc chắn là đôi bạn già sẽ đi lung tung khắp Âu Châu, chứ dễ gì mà chịu quanh quẩn ở Paris. Mãi cả chục năm sau, sau khi nhà văn Bùi Ngọc Tấn lâm trọng bệnh, tôi mới nghe ông nhắc đến chuyến du hành thú vị này (với ít nhiều tiếc nuối) trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC – vào hôm 14 tháng 11 năm 2014: “Sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm… Đi thì mới biết mình bị mất những gì.”
Chủ tịch nước Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư đảng CSVN, thay ông Nguyễn Phú Trọng từ trần ngày 19/07/2024, nhưng ông Tô Lâm chỉ dám hứa sẽ tiếp tục đi theo con đường ông Trọng đã đề ra...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.