Hôm nay,  

Kyoto Ô Hô

07/06/200700:00:00(Xem: 10075)

...Vĩnh biệt Nghị định thư Kyoto - đi tìm cách khác...

Chính quyền của Tổng thống George W. Bush phạm nhiều sai lầm và trở thành đối tượng bị oanh kích tự do. Chuyện ấy, ai cũng đã biết.

Nhưng, bảo rằng ông Bush không lo cho vấn đề nhiệt hoá địa cầu, không chịu chấp hành các quy định của Nghị định thư Kyoto, hoặc trì hoãn hay phá hoại đề nghị của Liên hiệp Âu châu về kế hoạch ngăn ngừa nhiệt hóa địa cầu - như lý luận của một số dư luận Âu châu và Dân chủ tại Mỹ - người ta phạm lỗi ngụy biện.

Hoặc tệ hơn thế, chẳng hiểu gì cả về mưu lược giữa các nước.

Mười lăm năm trước, tại "Thượng đỉnh về Địa cầu" tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) vào năm 1992, Liên hiệp quốc đã nêu vấn đề về hiện tượng thay đổi khí hậu và đạt thỏa ước gọi là "Quy ước khung của Liên hiệp quốc về Thay đổi khí hậu" (UNFCCC). Năm năm sau, Liên hiệp quốc bổ túc quy ước chung đó với Nghị định thư Kyoto, thỏa thuận năm 1997. Văn kiện này yêu cầu các nước ký kết hãy tự nguyện cắt giảm khí khải để tránh hiện tượng lồng kính (do địa cầu bị bao phủ bởi một bầu khí nóng khiến nhiệt độ gia tăng và gây nhiều thảm họa cho nhân loại trong tương lai).

Vấn đề ở đây là sự tự nguyện, như Liên hiệp Âu châu tự nguyện cắt giảm khí thải chừng 8% căn cứ trên lượng khí thải vào năm 1990. Hoa Kỳ tự nguyện giảm 7%, Nhật Bản, quốc gia đăng cai tổ chức hội nghị tại Kyoto, nguyện giảm 6%... Vì được đưa ra trong tinh thần tự nguyện, các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Ấn Độ, lại không bị ràng buộc. Và Nghị định thư có hiệu lực đến năm 2012, sau đó có thể sẽ được tu chỉnh thành Kyoto II.

Ngày 12 tháng 11 năm 1998, Phó Tổng thống Hoa Kỳ là Al Gore đã thay mặt nước Mỹ ký Nghị định thư (từ nay xin gọi tắt là Kyoto). Nhưng, Chính quyền Bill Clinton không chuyển qua cho Quốc hội phê chuẩn và vì vậy Hoa Kỳ không bị ràng buộc. Lý do rất đơn giản: trước khi văn kiện được đưa ra cho các nước ký kết, thì ngày 25 tháng Bảy năm 1997, Thượng viện Mỹ đã bỏ phiếu chống, với tỷ lệ 95-0 (không một Nghị sĩ nào ủng hộ!) Trong số những người chống Kyoto, có các Nghị sĩ Barbara Boxer, John Kerry hay Paul Wellstone, những người tự xưng là triệt để ưu lo về môi sinh.

Họ chống vì không hoàn toàn đồng ý với những kết luận khoa học của văn kiện (khí thải công nghiệp có là nguyên do chính của nhiệt hoá địa cầu không), và vì nhiều quốc gia đang phát triển và thải ra rất nhiều thán khí, như Trung Quốc hay Ấn Độ, lại không bị chi phối bởi Kyoto. Rất nhiều người tranh đấu cho môi sinh, và các Nghị sĩ kể trên, đã tuyên bố rằng Kyoto vô giá trị. Tổng thống Bill Clinton còn khẳng định là phải tu sửa lại văn kiện này rồi mới tính!

Sau khi lên nhậm chức vào tháng Giêng năm 2001, Tổng thống Bush tuyên bố là Hoa Kỳ sẽ không tham giả thảo luận về một thỏa ước mà nước Mỹ không muốn can dự: Hoa Kỳ coi như rút khỏi vòng đàm phán Kyoto kể từ tháng Năm năm 2001.

Lập trường Hoa Kỳ trong vụ này là một lập trường lưỡng đảng, với sự đồng ý hầu như tuyệt đối của hành pháp, lập pháp và cả doanh giới. Cho nên bảo là Tổng thống Bush phá hoại Kyoto hay không quan tâm đến môi sinh - như một số lãnh tụ Dân chủ ngày nay -  hoặc đả kích ông ta là "Toxic Texan" (Tên Texas độc hại - như cách gọi của tổ chức bảo vệ môi sinh rất mạnh ở Âu châu là Greenpeace), người ta đã quên trí nhớ. Hoặc lầm lẫn nguyên nhân với hậu quả. Cũng cần nói thêm rằng 10 năm sau Kyoto, các nước vận động mạnh nhất cho văn kiện này là Âu châu cũng chưa đạt nổi những cam kết của họ từ năm 1997.

Đó là về bối cảnh của vấn đề.

Bây giờ, ta trở lại mâu thuẫn và đòn phép hiện nay giữa Âu châu và Hoa Kỳ về hồ sơ này.

Nhìn từ Âu châu, việc một quốc gia có lượng khí thải của một phần tư địa cầu (là Hoa Kỳ cho tới năm ngoái, năm nay, giải quán quân đó thuộc về... Trung Quốc), không tham gia thảo luận vào một quy ước chung về việc hạn chế khí thải là điều vô cùng bất lợi. Vấn đề ở đây là sức nặng của Mỹ, và kéo Mỹ vào cuộc là một ưu tiên.

Vì vậy, Âu châu phải dụng mưu. Chiêu dụ! Đừng nói đến chuyện cam kết cắt giảm khí thải vội, hãy vào bàn hội nghị đã.

Năm 2005, tại Thượng đỉnh của khối G-8 ở Gleneagles, các nước Âu châu phần nào đạt mục tiêu khi tám nước của khối này (Anh, Pháp, Đức, Ý, Canada, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Liên bang Nga) đồng ý sẽ nói chuyện về nhiệt hoá địa cầu trong một khuôn khổ quốc tế. Ít ra, Mỹ cũng đồng ý thảo luận khi Kyoto mãn hạn năm 2012.

Đòn chiêu dụ của Âu châu được sự hỗ trợ của các tổ chức bảo vệ môi sinh tại Mỹ. Vì biết rằng Chính quyền Bush sẽ không gia nhập Kyoto và sẽ không ban hành một chánh sách kiểm soát khí thải để bảo vệ môi sinh, họ trông cậy vào áp lực của Âu châu. Trong khi ấy, các doanh nghiệp cũng thấy ra sức ép rất mạnh của các tiểu bang hay địa phương, mỗi nơi lại đưa ra một số quy định mới nhằm kiểm soát lượng khí thải. Chi bằng, giới bảo vệ môi sinh dùng đòn bẩy Âu châu để đề nghị một chánh sách môi sinh toàn quốc khả dĩ thỏa mãn được yêu cầu của doanh giới: thà là có một quy định chung còn hơn là phải chấp hành những đòi hỏi riêng lẻ của từng tiểu bang (như California hay New York trong số 15 tiểu bang đã đi đầu trong việc đối phó với nạn nhiệt hoá).

Mưu đã sâu, nhưng khốn nỗi chệch hướng!

Cả Âu châu lẫn các tổ chức đấu tranh cho môi sinh cứ tưởng rằng sẽ lùa Hoa Kỳ vào cửa Kyoto. Chăn mèo là điều rất khó, huống hồ mèo Mỹ!

Năm 2007 này đánh dấu một biến cố ai cũng có thể thấy từ 2003, là Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ thành quốc gia có lượng khí thải cao nhất thế giới. Nhưng, một chi tiết khác lại lọt khỏi tầm quan tâm của nhiều người.

Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Canada và Austria là năm nước chiếm quá nửa tượng khí thải của thế giới. Đã đành là Trung Quốc và Ấn Độ không tham gia Kyoto, Hoa Kỳ và Austria cũng vậy. Canada có ký kết và phê chuẩn, nhưng Chính quyền mới của phe bảo thủ đang đòi xét lại. Nghĩa là năm nước "bẩn" nhất đều muốn lánh xa Kyoto, và cả năm đều có một đặc tính chung, rửa chân dưới nước trong vòng cung Thái bình dương!

Chính quyền Bush mời các quốc gia này, và cả Nhật Bản - chủ trì hội nghị Kyoto - cùng tham gia nghiên cứu vấn đề. Nếu cắt giảm khí thải là việc khó đạt thì chia sẻ kỹ thuật giảm thiểu khí thải lại là điều hấp dẫn. Ai chẳng muốn hít thở khí trời trong sạch! Nhất là các nước đang phát triển có trình độ tổ chức và sản xuất đầy ô nhiễm. Kế hoạch hợp tác Á châu Thái bình dương để phát triển trong lành hầu bảo vệ khí hậu địa cầu đã ra đời như vậy vào đầu năm ngoái với sự tham gia của năm nước kể trên và Nam Hàn (thành sáu nước trong nhóm gọi tắt là AP6).

Âu châu bỗng thấy ngỡ ngàng. Tưởng rằng kéo Mỹ vào Kyoto với vai trò chủ động của Liên hiệp Âu châu dựa thế Liên hiệp quốc, ai dè Hoa Kỳ chạy qua Á châu! Mưu sâu của Âu châu là kéo Mỹ vào một hội nghị quốc tế để cùng chặn đà nhiệt hoá toàn cầu. Ai ngờ Hoa Kỳ lại có một khuôn khổ quốc tế quy tụ những nước có lượng khí thải cao nhất - ngoài Âu châu.

Thế rồi, trước khi qua Âu châu tham dự Thượng đỉnh G-8, Tổng thống Bush giáng thêm một đòn chí tử khi đề nghị một khuôn khổ quốc tế quy tụ 15 nước thải khí độc nhiều nhất.

Đó là đòn chí tử cho Kyoto, dù là Kyoto I hay Kyoto II, và cho Âu châu. Nghĩa là lạc quan lắm thì Kyoto II sẽ là một trò chơi hoàn toàn Âu châu, với nhau. Nhìn lại cho kỹ thì Kyoto coi như đã bị khai tử từ năm 2005, tại Thượng đỉnh G-8 ở Gleneagle!

Liệu phản đòn của Chính quyền Bush có thành hay không"

Hoa Kỳ dự tính là qua năm tới, 15 nước có khí thải nhiều nhất sẽ đồng ý về một kế hoạch đối phó với nạn nhiệt hoá địa cầu. Kế hoạch ấy sẽ là khuôn khổ hợp tác giữa các nước và là quy định chung cho các doanh nghiệp.

Doanh trường Mỹ tất nhiên ủng hộ kế hoạch vì hai lẽ: ít ra là có luật lệ thống nhất rõ ràng trên một vùng đất rộng lớn là vòng cung Thái Á và nhất là trên lãnh thổ Hoa Kỳ; và kế hoạch ấy còn tạo thêm cơ hội kinh doanh mới là kỹ thuật sản xuất sạch, với những loại năng lượng có khả năng thay thế khoáng sản độc hại (than, dầu khí, v.v...)

Các tổ chức bảo vệ môi sinh thì ngập ngọng. Không lẽ đòi hỏi áp dụng Kyoto, một khuôn khổ không có Hoa Kỳ, và chối từ một khuôn khổ mới, trong đó Hoa Kỳ sẽ giữ vị trí chủ chốt, với sự ủng hộ của các doanh nghiệp Mỹ"

Đảng Dân chủ cũng không thể đòi hỏi nhiều hơn được! Nghị sĩ Barbara Boxer nổi tiếng chống Bush cũng là người ủng hộ kế hoạch của ông, và bất cứ một ứng viên thắng cử nào bước vào Toà Bạch Cung năm 2009 cũng muốn có một kế hoạch "sạch" được 15 nước "bẩn nhất" tham gia.

Còn lại, Âu châu bỗng thấy lạnh lẽo trong lòng. Duy nhất có một trò chơi tập thể khả dĩ khẳng định tư thế của mình, Liên hiệp Âu châu tự nhiên như thấy mình đi xe nhỏ, một mình. Chưa kể là nhiều nước hội viên đã phàn nàn về những ràng buộc quá đáng của Kyoto. Và Ba Lan, một nước Âu châu mới thuộc loại thân Mỹ nhất, còn hăm là sẽ dùng quyền phủ quyết chống Kyoto! Một lá phiếu phủ quyết là Liên hiệp Âu châu hết liên hiệp.

Cho nên, Nghị định thư Kyoto sẽ rơi vào hư vô và các nước lại lục tục nhảy lên con tầu Mỹ, với các nước Á châu ngồi quanh tài công Mỹ. Thứ Sáu này, ông Bush có thể sẽ nói ra điều ấy, theo kiểu Texas của ông. Rằng Hoa Kỳ nhiệt liệt ngợi ca nỗ lực giảm trừ nạn nhiệt hoá địa cầu do nước Đức đang đề xướng, và nguyện tiếp tục theo đuổi mục tiêu của Liên hiệp quốc đề ra tại Kyoto, nhưng theo kiểu Mỹ.

Các quan sát viên Trung Quốc hay Ấn Độ ngồi dưới sẽ hoan hỷ vỗ tay.

Lúc ấy, ta cần theo dõi phản ứng của Pháp, với một siêu Tổng trưởng vốn là nguyên Thủ tướng, nay đặc trách về môi sinh, ông Alain Juppé.

Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.