Hôm nay,  

Kuku, Nhật Ký Dọc Đường...

06/07/200900:00:00(Xem: 6298)

Kuku, Nhật Ký Dọc Đường...

Lưu Dân (Sydney - Australia)
Bài 3
Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời
Giấc ngủ thẳng cẳng và chầu điểm tâm "cải cách" với cháo cá và bún gà do bác Hồ Tắc (chủ nhà hàng ở Atlanta) đích thân vào bếp đã nạp đầy lại năng lượng tiêu hao trong mấy ngày qua. Tiếng cười đùa rộn ràng làm xao động không khí yên tĩnh của chiếc quán nhỏ trong ngôi làng chài hiền hòa này. Sự thân thiện và hòa đồng của chúng tôi với người địa phương đã xóa hẳn những ngăn cách và e dè lúc đầu. Vài người mang những vỏ ốc hoặc viên đá xinh xắn đến tặng làm kỷ niệm, ai cũng vẫy tay "hello" khi chúng tôi đi ngang. Và các em học sinh, trong những bộ đồng phục sạch sẽ và thẳng nếp, đã không còn ngại ngùng hoặc mắc cỡ khi nhận quà hoặc chụp hình với chúng tôi.
Cả đoàn hôm nay chỉ trang bị nhẹ vì tất cả hành lý đều để lại nhà trọ. Những ngày trước, vì chưa biết "đoạn đường chiến binh" sẽ cam go như thế nào nên ai nấy đều mang theo mọi thứ có thể vác trên lưng để phòng hờ, từ lọ thuốc xịt muỗi đến... thỏi son môi. (Một ông nào đó trong đoàn đã "dại miệng" thốt lên rằng ở Kuku chẳng có khỉ để... làm điệu đâu! Trời hỡi, làm sao bụm miệng cho kịp. "Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho... vừa người nghe" chứ! Chẳng lẽ ổng không hiểu rằng đụng chạm đến mấy vụ này là một hành vi "phạm thượng" không thể tha thứ được sao" Từ đó đến cuối chuyến đi, đương sự bị "trừng phạt đích đáng" bằng biện pháp cúp hẳn phần ô mai xí muội dọc đường!).
Mọi người đều phấn chấn và sẵn sàng. Ai cũng biết, hôm nay là ngày N, cái "đích" của cuộc hành trình. Chúng tôi đã thảo luận các phương án... hành quân, chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho từng người từ tối hôm trước. "Mũi ai nấy thở" nhé, cứ thế mà làm. Anh Trưởng đoàn dặn đi dặn lại mãi. Vậy mà các chị, các cô vẫn... tranh thủ đi xem ngôi chợ quê và mua sắm một ít đồ tươi trong khi chờ ca-nô tách bến. Cái "máu shopping" muôn thưở đó, buổi sáng hôm ấy như nhờ có... bà độ, đã mang lại một niềm vui tràn ngập và bất ngờ cho cả đoàn: một cuộc hạnh ngộ tuyệt vời với người cũ nơi cảnh xưa!
Lúc "rảo" chợ tìm mua trái cây, các cô Kim Vân, Xuân Hương, Ngọc Thúy... bỗng nghe từ phía sau lưng một lời chào hỏi bằng tiếng Việt với giọng miền Nam đặc sệt: "Các chị ơi, tới đây hồi nào dzậy" Ở lại lâu hông" Tôi giúp gì được hông"" Giọng nói ấy bộc lộ sự mừng rỡ pha lẫn chút thích thú. Quay lại, họ thấy một người đàn ông trung niên, khuôn mặt trí thức và trang phục lịch sự, đang đứng mĩm cười thân thiện. Các cô chưa hết ngạc nhiên thì ông ấy tiếp: "Tôi là Adnan Nala, từng làm việc nhiều năm cho người tỵ nạn Việt Nam ở Kuku và Galang. Bữa nay tôi về Letung thăm gia đình. Thấy mấy chị là người lạ và nghe nói tiếng Việt, tôi tới hỏi thăm... Thiệt là hên!"
Phong cách niềm nở, thái độ chân thành và gần gũi của Nala đã tạo nên một sự tin cậy tức khắc. Các cô tíu tít bắt chuyện và mời ông đến cầu tàu, nơi cả đoàn đang chờ đợi nhổ neo. Chẳng chút ngần ngừ, Nala vui vẻ nhận lời sau khi kín đáo ra hiệu cho mấy người đứng chung quanh (dường như là cảnh sát bảo vệ) cứ để ông tự nhiên đi một mình. Cử chỉ ấy không thoát qua đôi mắt quan sát tinh tế của các cô. Họ có cảm giác đang tiếp xúc với một VIP dù không ai hỏi và cũng chẳng ai nói.
Cái duyên hạnh ngộ với Nala bắt đầu một cách đột ngột như thế và câu chuyện sau đó được kể lại về sự liên hệ của ông với thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam đẹp như một huyền thoại có thật trong đời. Khi chúng tôi mời Nala đến ăn tối với đoàn ở khu nhà trọ, ông thoáng lưỡng lự nhưng lại gật đầu ngay. Trên khuôn mặt ông lúc ấy phảng phất một nét bồn chồn mà mãi đến buổi tối hôm ấy chúng tôi mới biết...
"Số 1, có! Số 2, có... Số 22, tây đui là... tui đây! Đủ rồi, bác tài. Nhổ neo!"
Chiếc ca-nô nhẹ nhàng rời bến, phóng mình ra biển trực chỉ hướng Kuku. Hôm nay, ngoài đoàn chúng tôi còn có gần chục người khác - gồm các cảnh sát và lính Nam Dương đi theo bảo vệ. Chúng tôi cũng được khoảng 20 người địa phương từ Air Raya đến trước để giúp việc bốc mộ và hỏa thiêu di hài.
Theo sự phân công, chúng tôi chia làm ba cánh, "đánh" ba hướng khác nhau. Nhóm thứ nhất cùng đi với Băng 3T để bốc mộ chị Thu Minh trên đồi trực thăng. Nhóm thứ nhì theo David và bác Hồ Tắc bốc mộ cho mẹ của David ở con suối cạnh bãi tranh. Nhóm thứ ba đi với gia đình Nhà họ Huỳnh tiếp tục tìm kiếm ngôi mộ thân phụ của Thế Trung và Thế Minh. Tất cả đều chuẩn bị khá kỹ (áo quần lao động, dụng cụ đi rừng, lễ phẩm cúng tế...).
Tôi cùng Mimi Đài Trang và Kim Vân theo nhóm đầu, đi với ba anh em Triệu - Tài - Tước lên đồi. Khoảng 10 người Nam Dương giúp việc đã chờ sẵn với đầy đủ cuốc xẻng, dao rựa. Sau nghi thức cầu nguyện ngắn, chúng tôi bắt tay ngay vào việc để tranh thủ thời tiết còn mát vào buổi sáng. Toán nhân công địa phương chặt bớt cây cành và mở rộng diện tích chung quanh ngôi mộ cho dễ làm việc. Anh Triệu lần dở từng tấm hình 27 năm trước để nhớ lại và cám ơn những người bạn đã giúp anh mai táng Cecile trên đảo. Tài và Tước cũng sắp đặt những vật dụng cần thiết cho lễ hỏa thiêu. Hai anh em đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho chuyến đi này từ Việt Nam. Họ mang theo cả chiếc xẻng cá nhân mới keng (loại có thể xếp gọn lại, như lính VNCH ngày xưa thường mang trên ba-lô hành quân), mấy lít rượu đế để rửa hài cốt và chiếc hủ đựng tro xương. Hai ông bạn này chu đáo... đến khiếp, từ việc mang (lén) bánh chưng dưa món ra nước ngoài để "chiêu đãi Việt kiều" đến chuyện đem theo cả cuốc xẻng và rượu đế lên máy bay! Cử chỉ ấy đã nói lên tình nghĩa gia đình với người quá cố, dù cả Tài và Tước đều chưa từng gặp mặt chị Thu Minh lúc sinh thời.
(Một chuyện nhỏ ngoài lề: Nhiều người địa phương xăm xoi nhìn chiếc xẻng cá nhân với một vẻ thích thú đặc biệt. Họ ướm lời muốn xin hoặc mua chiếc xẻng ấy, nhưng Tài và Tước đều lắc đầu vì muốn giữ nó như một vật kỷ niệm của chuyến đi.)
Trái với sự lo ngại của chúng tôi, nơi an táng chị Thu Minh là một vùng đất sét pha cát khá xốp chứ không phải đá núi nên việc bốc mộ diễn ra khá êm xuôi. Dù vậy, anh Triệu đã bắt đầu đứng ngồi không yên khi những người phu đã đào sâu đến ngực, lưng áo đẫm ướt mồ hôi mà vẫn chưa thấy quan tài. Và họ cũng chẳng tìm được chiếc chai bịt kín mà anh đã ghi chi tiết của người quá cố chôn trước đầu mộ. Có lẽ nào...
Chúng tôi quyết định tạm ngưng để bàn bạc với nhau. Anh Triệu vẫn còn nhớ như in lúc quan tài của vợ được hạ huyện, chỉ sâu khoảng này mà thôi. Mọi người lại định thần và chuyên chú cầu nguyện. Hai cô Mimi và Kim Vân cứ thấp thỏm nắm tay nhau đi lên đi xuống từ đồi trực thăng, hỏi thăm và đem nước uống cho chúng tôi. (Sau này, hai cô mới "tự thú" rằng họ không dám chứng kiến cảnh bốc mộ vì... sợ. Ngay cả việc chụp hình lúc các phu mộ đang đào bới họ cũng lâm râm cầu nguyện và xin phép vong linh người quá cố.)
Đột nhiên, anh Triệu như sực nhớ một điều gì và yêu cầu toán phu mộ móc sâu qua phía tay phải. Quả nhiên, chỉ sau vài nhát xẻng, họ đã đụng ngay vách ván thiên. Tiếng bồm bộp dội lên từ lòng huyệt làm anh Triệu chấn động, tay run lên suýt đánh rơi điếu thuốc đang hút dở. Anh chồm đến như muốn nhảy xuống để tận tay sờ vào chiếc áo quan. Tài và Tước xắn tay áo phụ giúp các phu mộ mở rộng chiếc hố từ phía trên. Chẳng mấy chốc, bốn vách quan tài hiện dần ra nhưng nắp ván thiên đã tiêu rã thành cát bụi dưới sức nặng của mô đất phía trên sau thời gian dằng dặc...
Thì ra, lúc những người bạn của anh Triệu còn ở lại Kuku lập bia cho chị Thu Minh, họ đã cắm nó hơi lệch sang hướng trái nên khi các phu mộ đào thẳng xuống không đụng quan tài. Anh Triệu cũng nghĩ rằng những ân nhân chí tình đó của anh cũng đã hủy chiếc chai dấu tích sau khi họ thiết lập tấm bia mộ đàng hoàng cho chị.
Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, chị Thu Minh được nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm xuyên dù hài cốt đã phân hủy gần hết. Và, thật là một tình cờ mầu nhiệm, khi di thể của chị vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ, trời bỗng đổ cơn mưa xối xả như để gội rửa thân thể lấm lem của những người phu mộ vất vả cả buổi sáng, để xóa tan những dòng lệ thương cảm của người thân chất chứa bao tháng năm dài và để tắm mát một linh hồn vừa tái hợp với gia đình sau cuộc phân ly đăng đẳng...
Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, Tài và Tước tỉ mỉ tìm kiếm và thu nhặt những mẩu xương cốt còn lại của người chị vợ trong lúc anh Triệu thẫn thờ cầm những di vật của người bạn đời vừa tìm được trong chiếc bọc. Đoạn phim cũ của thời điểm đau buồn đó cứ chiếu lại trong tâm trí anh, đứt quãng nhòe nhoẹt mà tươi nguyên như mới hôm qua...
Chiếc gương, cây lược và những bộ áo quần đó kéo anh về quá khứ của một tuần trăng mật tuyệt vời và gần hai tháng lo âu, khủng hoảng đến gần suy sụp trên đảo Kuku 27 năm trước. Tai anh vẫn văng vẳng lời nhắc nhở của cô bé 14 tuổi đi cùng ghe tên Hiền lúc anh như kẻ mất hồn vì sự ra đi quá thương đau của chị: "Anh Triệu nhớ đem theo áo quần, gương lược cho chị Minh xài..."
Bé Hiền ơi, anh Triệu đây! Anh vẫn còn nhớ vóc dáng nhỏ nhắn của em cẩn thận gói ghém những vật dụng đó cho chị Minh lúc anh vô cùng bối rối trước cảnh sinh ly tử biệt. Bao nhiêu năm nay, chị đã có gương lược bầu bạn và có cả sự chăm chút ấm áp của đứa em nhỏ trong phút lâm chung, dù hai chị em chỉ quen biết nhau trong thời gian ngắn ngủi trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề của cuộc đời tỵ nạn. Bé Hiền ngày nào ơi, bây giờ anh đã gặp lại chị Minh ở nơi chốn ngút ngàn kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau thương của cả một đời người. Hãy cho anh gửi một lời cảm ơn từ đáy lòng.
Đang miên man trong nỗi hồi tưởng về quá khứ, anh Triệu chợt bừng tỉnh vì lời gọi của Tài: "Anh Triệu, chiếc nhẫn của chị nè..." Tài đã biết chuyện người anh cột chèo của mình quyết định để nguyên chiếc nhẫn cưới trên bàn tay của vợ khi anh vĩnh biệt chị. Hai anh chị là những con chiên thuần thành và họ đã sống đạo một cách trọn vẹn theo lời dạy trong Kinh Thánh: "Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly". Với suy luận tự nhiên, Tài tìm thấy chiếc nhẫn ngay vị trí bàn tay trái của di hài dù xương cốt phần cơ thể này đã tiêu tan vào lòng đất.
Thực sự, sau khi tìm được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa "chắc ăn" rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, vì trong vài ngày qua chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn còn âm thầm chờ đợi một xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: "Còn chiếc nhẫn cưới nữa!" Và khi Tài tìm thấy nó, anh đã thở phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến đi...
Ôi, bằng chứng kết ước của tình nghĩa vợ chồng vẫn còn nguyên vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc nhẫn còn dính đất và đeo ngay vào tay mình, như thể không còn chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng anh đã giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như một kỷ vật vì sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích vô lương muốn quật mộ để tìm vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi anh đưa chị về Việt Nam.
Trong lúc anh Triệu và Tước tiếp tục thu nhặt và rửa sạch hài cốt, tôi cùng với Tài và toán nhân công địa phương trở lại mộ phần của chị Thu Minh để lấp lại huyệt mộ. Theo ý nguyện của gia đình, mộ bia cùng với tấm bọc Cao ủy và rễ cây trong đó được gửi lại xuống lòng huyệt như một lời tạ ơn đất trời Kuku về sự nương náu xác thân từ 27 năm qua.
Trên đường về bãi trực thăng, những người phu mộ chỉ cho tôi thấy một lõm đất trũng cách đó không xa. Đó là ngôi mộ của một thuyền nhân VN được hốt cốt cách đây khoảng một năm bởi thân nhân từ Hoa Kỳ. Sự kiện này được xác định khi chúng tôi trở về Letung và tìm thấy trong thời gian đó có tên 5 người Việt trong danh sách khách trọ nơi chúng tôi đang trú ngụ.
Sau lễ tạ từ, nhóm chúng tôi xuống bãi biển để thực hiện cuộc hỏa thiêu hài cốt. Những người địa phương, qua sự thu xếp của công ty du lịch, đã đào hai cái hố cát hình chữ nhật sâu khoảng một mét, chất sẵn củi khô phía dưới và một bình dầu lửa. Họ chỉ yên lặng theo dõi cuộc hỏa thiêu mà không góp tay, có lẽ một phần vì tôn trọng niềm tin tôn giáo hoặc tình cảm gia đình và phần khác, họ cũng chẳng biết phải làm gì vì chưa hề chứng kiến một nghi thức như thế.
Trong nhóm chúng tôi cũng không ai từng thực hiện hoặc chứng kiến sự hỏa thiêu hài cốt bao giờ nên chẳng biết tiến hành thế nào. Riêng tôi vài lần được nghe thoang thoáng nhưng trong hoàn cảnh này, có lẽ là người "rành" nhất. Chúng tôi lại bàn với nhau và anh Triệu cũng đồng ý là mọi việc cốt ở tấm lòng, không nề hà thủ tục gì cả.
Rồi chúng tôi bày ra bình hương giữa trời, tang chủ cáo tế trời đất để xin hỏa thiêu di hài và mỗi người một nén nhang cầu nguyện cho linh hồn Cecile siêu thoát. Bộ hài cốt của Cecile Thu Minh được nhẹ nhàng đặt lên trên lớp củi ẩm ướt vì mưa và được mồi bằng dầu hỏa. Ngọn lửa hồng tươi bùng lên và hài cốt dần dần biến thành tro trắng sau khoảng hơn một giờ hỏa thiêu... Ba anh em hốt nắm tro xương và nén lại trong một chiếc túi nhỏ trước khi bỏ vào hộp plastic mà Tài và Tước mang theo từ Việt Nam. Những tro vụn và tàn củi còn sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo lên ca-nô để rải xuống biển trên đường về Letung.
Trong lúc cánh thứ nhất "hành quân" trên đồi, hai nhóm thứ nhì và thứ ba (do anh Trưởng đoàn dẫn đầu, gồm hai gia đình Trung - Minh - Thanh và David Lý - Hồ Tắc cùng các anh chị em khác trong đoàn) "tảo thanh" các khu mộ địa phía dưới. Họ quyết định đi chung với nhau thay vì tách làm hai, vì cùng theo một hướng.
Đường ra khu mộ khá vất vả. Họ phải băng ngang một con suối nhỏ, mực nước khoảng lưng chừng ống quyển. Chàng nào muốn làm "người hùng cõng giai nhân qua bờ suối" cũng không được, vì chính bản thân mình còn lo chưa xong. Giày vớ bị ướt là... chuyện nhỏ. Hôm nay là ngày thứ nhì ở Kuku, thân thể còn không kể số gì thì giày vớ đâu thuộc vào diện... ưu tiên bảo toàn. Lên dốc con suối hơi khó vì bờ suối đứng thẳng và cao hơn một mét. Vài người địa phương băng qua trước và họ vịn cây, nắm tay kéo lên... từng em một, vì dù bạn có mang loại giày thể thao tốt nhất của siêu cường Mỹ cũng không thể bám vào vách đất như bàn chân trần của họ được.
Ra tới khu nghĩa trang nơi có mộ của mẹ David, chúng tôi thấy người địa phương đã phát quang một khoảng trống chừng trăm mét vuông. Trong khi chờ mọi người tới đủ, Trần Lão Gia đi một vòng chụp hình. Không có mộ nào có hình dạng một ngôi mộ bình thường như người ta vẫn nhìn thấy. Tất cả chỉ là những gộp đá có đánh dấu trên đầu ngôi mộ, chúng tôi nghĩ như thế, vì có cục đá còn dấu sơn đỏ. Một ngôi mộ kế bên có vẻ như bị sụp vì giữa mộ bị lõm xuống chừng 3 - 4 tấc.
Cả nhóm quây quần góp tay bày biện lễ phẩm cúng tế trên đầu ngôi mộ mẹ của David. Trước khi xướng kinh cầu nguyện, anh Trưởng đoàn cùng bác Hồ Tắc kiểm lại lần cuối các chi tiết trên tấm bia. Bia ghi bằng Hán tự tên họ và ngày tháng qua đời là Trịnh Đinh Hằng, chết ngày 31.07.1979 (lúc ấy 44 - 45 tuổi). Như vậy, tính đến ngày tìm thấy ngôi mộ, bà đã được an táng gần đúng 30 năm.


Sau khi khẳng định đúng với mọi chi tiết là mẹ của David, anh Trưởng đoàn khấn vái vong linh người quá vãng: "Thưa chị, tôi là Trần Đông, Giám đốc Văn khố Thuyền nhân Việt Nam, cùng các anh chị em đến đây để tìm kiếm mộ phần của thuyền nhân và thăm lại di tích của người tỵ nạn VN. Cùng đi trong đoàn có David, ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, là con của chị. Cháu lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây tìm mộ phần mẹ để đưa di hài của chị về Hoa Kỳ. Thay mặt cho tất cả anh em trong đoàn, tôi xin khấn báo với chị và xin phép được rước hài cốt chị lên để hỏa táng và đưa về đoàn tụ với gia đình. Kính cầu nguyện vong linh của chị và cầu nguyện ơn trên gia hộ cho chị được yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Xin chị gia hộ cho đoàn được yên ổn và tìm được nhiều mộ phần thuyền nhân VN như mong ước."
Sau tuần nhang khấn báo và đốt giấy vàng bạc theo nghi thức của người Hoa, David cầm cuốc khai mộ với ba nhát cuốc đầu tiên trước khi các phu mộ địa phương tiếp tay anh thực hiện việc khai quật. Họ đào chỉ hơn năm tấc thì tìm thấy quần áo. Thêm chút nữa thấy những lớp đất đổi màu đen. Theo kinh nghiệm của các phu mộ, đó có thể là phần tan rửa của di hài. Họ tiếp tuc đào sâu thêm hơn một mét và mở rộng lòng huyệt đến hai mét nhưng vẫn không tìm thấy được chút xương nào.
Tuy cực nhọc - lúc ấy, trời lại đổ cơn mưa lớn - nhưng những người địa phương đã tỏ ra hết sức tận tụy với công việc. Họ không ngại ướt lạnh hoặc nhớp nháp mà chỉ cố làm cho được việc vì cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của một đứa con và tình nghĩa đồng bào của người Việt Nam.
Mưa càng lúc càng nặng hạt. Chúng tôi phải căng một chiếc bạt lớn để che tạm trong lúc David và các phu mộ vẫn dầm mưa tiếp tục công việc. Giờ trưa, mọi người ngồi ăn trong lều. Buổi ăn trưa đơn giản nơi hoang dã, chỉ mì xào và nước lọc. Anh Trưởng đoàn nới đùa với mọi người: "Thật hoàn toàn không thể tin nổi có những người bỏ hàng ngàn đô-la đi nửa vòng trái đất vào nơi cùng trời cuối đất này, đội mưa ăn cơm tay cầm như thế này, mà lại còn đòi tổ chức để đi nữa!"
Mọi người đều cười: "Như vậy mới có nhiều kỷ niệm!"
Cuối cùng David đành phải đầu hàng hoàn cảnh. Anh tự an ủi rằng mẹ mình ở đây lâu quá, con cái không biết chỗ và không ngờ mình lại tìm được đường đến đây. Bà có bạn bè ở đây nhiều và chắc đã quen chỗ nên nên không muốn "định cư" ở đâu nữa. David gom lại mấy mảnh áo của mẹ ra biển giặt rửa rồi đem hỏa táng, trong chiếc hố thứ nhì tại bãi biển, bên cạnh nơi vừa hỏa thiêu hài cốt của chị Thu Minh. Ngôi mộ mẹ của David được đắp đất trở lại và tấm bia được dựng lên ngay vị trí cũ.
Khi cuộc khai mộ mẹ của David bắt đầu, một toán 6 người khác lên đường đi tìm mộ Ba của Trung - Minh ở cách đó không xa. Cùng đi với toán này có 3 người địa phương dẫn đường. Nhóm này đi từ mé bên trái của nền chùa, nhìn ra hướng bãi biển nơi Trung và Minh chắc chắn là khu vực mộ phần của Ba mình ngày trước. Cả hai anh đều khẳng định nơi đây là vị trí ngôi mộ của cha, vì chính họ đã tự tay xây mộ và thăm viếng hàng ngày trong mấy tháng ở đảo. Nhóm Trung - Minh tìm quanh cả tiếng đồng hồ nhưng tuyệt nhiên không thấy một chút dấu tích nào của một ngôi mộ xi măng. Từ trước khi khởi hành chuyến đi, ai cũng tin rằng ngôi mộ của Nhà họ Huỳnh có nhiều hy vọng tìm thấy nhất vì mọi chi tiết về vị trí và dấu tích đều rất rõ ràng nhưng, có lẽ do ước muốn của người quá cố, chúng tôi đành đốt nén nhang từ biệt và hẹn sẽ có cơ hội trở lại tìm kiếm thêm một lần nữa.
Như dự định, cả đoàn tập trung tại bãi biển vào quãng ba giờ chiều khi mọi việc cũng vừa hoàn tất. Chúng tôi tận dụng thời gian còn lại tản ra chung quanh khu vực văn phòng Cao ủy và bệnh viện cũ để tìm kiếm di vật thuyền nhân với ước vọng sẽ thành lập một viện bảo tàng (hoặc nơi lưu giữ những chứng tích đó) cho các nhà viết sử hoặc cho những thế hệ sau. Tuy thời gian đã xóa nhòa gần hết dấu vết của người tỵ nạn trên hòn đảo này nhưng chúng tôi cũng còn tìm được những đoạn giây neo, vài chiếc dép nhựa và những mảnh chén bát còn sót lại trong các dãy barrack ngày xưa...
Chiếc ca-nô đưa chúng tôi quay về Letung khi trời đã bắt đầu xế chiều. Dù vậy, để "kiếm chút lời", nhóm từ Âu châu lại "vòi" thêm phần bonus: ghé ngang qua bãi Kuku 2 để... nhúng mình năm phút. Chả là họ đã từng sống một khoảng thời gian đáng nhớ ở bãi này nên tận dụng cơ hội... ba mươi năm một lần để sống lại giai đoạn đầy kỷ niệm đó. Mọi người ô-kê cái rụp và viên tài công cũng cười toét miệng gật đầu. Làn nước trong xanh mát rượi và tiếng cười đùa vui vẻ của chúng tôi như truyền nhiễm và làm lay động đến cả những cây dừa cao ngất cô đơn còn sót lại trên bãi...
Hoàng hôn xuống thật nhanh trên biển. Chúng tôi về lại Letung khi trời đã sẫm tối. Cứ như các hướng đạo sinh đi "trại chạy", mọi người chỉ kịp dội qua loa vài gáo nước lạnh cho trôi lớp muối biển trên thân thể trước khi tập họp tại "quán đầu ngõ" cho buổi cơm tối. Đêm nay, chúng tôi có những người khách đặc biệt: viên cảnh sát trưởng Letung, vị sĩ quan chỉ huy lực lượng quân sự trên đảo, xếp bến tàu "Mặt Đen" (cũng được mời... cho phải phép) và Adnan Nala, một người mà thực tình cho đến lúc đó chúng tôi cũng chưa biết ông đang làm gì.
Buổi ăn tối trong chiếc quán bình dân rộn ràng tiếng nói cười nhưng cũng đậm đà tình cảm với Nala (ông muốn chúng tôi gọi tên như thế cho thân mật). Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm cũ ở các trại Air Raya, Kuku, Galang... như thể các câu chuyện đó vừa xảy ra hôm qua. Những tên cảnh, tên người một thời từng là niềm an ủi, là nguồn hy vọng của người tỵ nạn cũng được ưu ái nhắc đến dù họ vắng mặt; như các nhân viên định cư người Nam Dương của Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR): chàng Martin tóc quăn tốt bụng hút thuốc như khói tàu (được tin đã qua đời cách đây 3 năm vì bệnh gan), cô Chandra tròn trĩnh thường phát kẹo cho con nít (nghe rằng đang là một nhà ngoại giao ở tận Dubai), ông George mập vui tính luôn tình nguyện báo tin mừng cho những người "bị đá" (cũng được biết đang là một công chức cao cấp ở thủ đô Jakarta) v.v...
Cả một trời quá khứ hiện về trong chiếc quán ấm cúng ở ngôi làng chài này. Nó hiển hiện trước mắt trong giọng kể bùi ngùi của Adnan Nala, người từng sống một cuộc đời đẹp hơn bất cứ quyển tiểu thuyết nào mà bạn đã đọc. Đêm nay, người đàn ông có khuôn mặt dày dạn phong sương với nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đó đang ngồi cạnh chúng tôi...
Hơn 30 năm trước, Nala là một sinh viên trẻ trung yêu đời ở thủ đô Jakarka với cả chân trời tương lai rộng mở trước mặt, nhưng không ngờ cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn không định trước bởi một mẩu tin nhắn từ người dì ruột ở hòn đảo Letung xa xôi tít mù này.
"Cháu ơi, nhân dịp mấy tuần nghỉ hè, hãy về đây... Gấp lắm cháu ạ, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết... xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe... thảm lắm! Họ là những người chạy nạn từ Việt Nam, bỏ hết tất cả, bất chấp bão tố biển khơi và đói khát để tìm một cuộc sống tự do... Dì cũng đang giúp đỡ, an ủi họ... Sắp xếp về ngay cháu nhé, gấp lắm! Dì mong cháu sẽ góp tay xoa dịu phần nào nỗi đau khổ này..."
Với chiếc túi vải đựng bộ đồ đi đường và vài ba quyển sách, Nala rời căn phòng trọ êm ấm ở thủ đô để đáp tàu về quê ngoại ngay hôm sau. Chàng sinh viên ăm ắp lý tưởng nhân văn ngày đó chỉ tưởng "công tác nhân đạo tình nguyện" trong vài tuần nghỉ hè nhưng cuối cùng anh đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình - suốt gần 20 năm trời chứ ít gì - để góp phần làm vơi bớt nỗi khổ đau thăm thẳm của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam.
"Ngày rời Jakarta tôi không mang theo gì cả, vì đâu có ngờ mình sẽ không bao giờ trở lại căn phòng trọ sinh viên độc thân rất vui vẻ đó... Sau mấy tuần hè, tôi không thể nào đành lòng trở lại học hành khi mỗi ngày vẫn còn thấy thảm kịch con người tiếp diễn trước mắt, ở ngay Letung này chứ đâu xa - và những hòn đảo kế cận như Air Raya, Air Biru, Berhala, Keramut... Trong mấy năm đầu, mỗi ngày tôi bế trên tay mình ít nhất một người chết vì kiệt sức hoặc bệnh tật trên đảo, hoặc những xác thuyền nhân trôi giạt vào bờ. Cứ như thế, thời gian vẫn vô tình trôi qua với những chuyện dồn dập từng ngày. Một tháng, rồi một năm, rồi vài ba năm... cho đến khi giai đoạn cao điểm tạm lắng xuống, đầu tôi chỉ còn vài cụm tóc lưa thưa. Trong thời gian đó, tôi học tiếng Việt và được tuyển dụng làm nhân viên cứu trợ khẩn cấp của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Tôi là người đầu tiên khánh thành văn phòng UNHCR ở Tanjung Penang và cũng là người cuối cùng đóng cửa cơ quan này hơn 20 năm sau...
"Không... Tôi không kể câu chuyện này để gợi lại những đau thương mất mát quá lớn của người tỵ nạn Việt Nam thời đó, nhưng thực sự tôi đã khóc vì vui mừng khi gặp lại các bạn sáng nay. Hẳn là linh hồn của những người nằm lại ở đây sẽ được an ủi rất nhiều vì các bạn đã không quên họ... Nếu được sống một cuộc đời khác, tôi chỉ xin giữ lại thời gian đáng nhớ và đầy tình người đó..."
Với một giọng kể đầm ấm và thân mật, Nala cười vui tiếp:
"Nhưng cũng nhờ cơ duyên làm việc cho người tỵ nạn, tôi mới bị... 'kẹt luôn' ở đây. Tôi kết hôn với một cô giáo làng Letung ngoan hiền và xinh đẹp. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau gần 20 năm qua. Hôm nay, tôi về đây thăm gia đình và tình cờ gặp lại các bạn. Có lẽ, cái duyên của tôi với người Việt Nam chưa dứt!"
Cái duyên đó, ngay trong buổi tái ngộ trên hòn đảo Letung này, chúng tôi hân hoan đón nhận một tin vui cũng hết sức bất ngờ: trong lúc chúng tôi còn tất bật khai quật và hỏa thiêu hài cốt ở Kuku, Adnan Nala được chính thức xác nhận đã đắc cử dân biểu của Quốc hội bang Tanjung Pinang! Thảo nào, ông đã nén lại sự sốt ruột sùng sục khi đến thăm chúng tôi ở cầu tàu vào buổi sáng. Chúng tôi càng cảm kích nghĩa tình đó khi biết tối hôm nay, ông đã phải từ chối nhiều lời mời mọc liên hoan khác để đến dự buổi cơm thân mật với chúng tôi trong một quán bình dân bên đường, kể lại chuyện tỵ nạn - bằng tiếng Việt rặc giọng miền Nam và rất đúng văn phạm - mà tròng mắt đỏ hoe... 
(Cuộc hạnh ngộ với Nala khiến tôi bùi ngùi nhớ đến Alcoh Wong, một đại ân nhân khác của người tỵ nạn Việt Nam ở Mã Lai và cũng là một người đỡ đần rất nhiều cho công tác của Văn khố Thuyền nhân Việt Nam. Là một sử gia gốc Hoa ở Terrenganu, ông Wong cũng đã dành gần trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho việc cứu giúp, chôn cất và ghi chép thảm kịch con người này trong gần ba thập niên, từ khi thuyền nhân Việt Nam đầu tiên đặt chân lên trại tỵ nạn Bidong năm 1977 cho đến khi ông qua đời vì một cơn bạo bệnh cách đây hơn ba năm...
Trong suốt thời gian dài dặc đó, ông Wong đã bôn ba khắp nơi để gõ cửa xin các cơ quan từ thiện cứu trợ cho người tỵ nạn, đã lặn lội đến mọi bãi biển ở Mã Lai mỗi khi nghe tin có xác thuyền nhân Việt Nam trôi dạt vào bờ, đã ghi chép bất cứ chi tiết nào có được của người xấu số để chôn cất, lập bia và in sách cho thân nhân tìm kiếm về sau... Ông đã làm tất cả những việc đó trong âm thầm, bằng thời giờ và tiền túi của mình, mà không mảy may mong chờ một sự đền đáp. Bây giờ, Alcoh Wong đã vĩnh viễn ra đi, nhưng chắc chắn hình ảnh của ông vẫn sống mãi trong lòng những người từng thọ ơn ông...)
Buổi cơm tối với liều lượng vitamin tình cảm tràn đầy cùng Nala đã gội rửa sạch sẽ  hai ngày dãi dầu mưa nắng ở Kuku. Chúng tôi hầu như đã gửi lại trên hòn đảo ấy những niềm vui nỗi buồn của thời long đong tỵ nạn, để chỉ còn trân trọng nâng niu giờ phút quý giá bên nhau giữa những người tuy không cùng nguồn gốc chủng tộc - văn hóa nhưng lại vô cùng gần gũi trong tình người và lẽ sống.
Tối nay, anh Trưởng đoàn tuyên bố... xả giới nghiêm, mọi người có thể tha hồ "chơi xả láng, sáng dậy... trễ", vì ngày mai là một chương trình hoàn toàn tự do để thư giãn và... phục hồi công lực. Khỏi cần nói, xếp ơi! Thấy ông bận bịu quá nên tụi tui đã tự động chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Út Hùng ra chợ đẩy về một xe cút kít đầy... bia Tiger. Bác Hồ Tắc vào bếp trổ tài nấu cà-ri cá đuối làm mồi. Bạn Văn Nam lòng vòng kiếm được một chiếc guitar từ thời Suharto mới lên cầm quyền. Cô nương Mimi rảo trong xóm rủ rê các em thiếu nhi đi xem "văn nghệ quốc tế". Ông nhà báo Lựu Đạn đóng vai chủ xị, ai lạng quạng là phạt... chết liền! Và toàn thể anh chị em trong đoàn - không chừa người nào - đều trở thành "ngôi sao một đêm" của xóm chài Letung, nơi chúng tôi so sánh một cách lãng mạn (có kẻ xấu miệng lại bảo là lãng... xẹt!) như một Venice của Á châu.
Sân khấu (kiêm bàn nhậu) là phần sàn gỗ trước căn nhà trọ "tổng hành dinh" của đoàn. (Bây giờ nghĩ lại mới thấy... ớn. Rủi bửa đó có chàng nào xỉn xỉn mà 'ôm trăng đánh giấc' dưới nước như nhà thơ Lý Bạch thì khôn!). Hai hàng ghế dài bày ra, lổn ngổn ở giữa là... bánh phồng cá, cà-ri cá và những thứ đồ nhậu không tên khác. Mọi người cứ "tự nhiên như ruồi" chứ chẳng có màn... nhà hàng hết lòng phụ vụ quý khách đâu nghen!
Khán thính giả bao gồm cả các vị "đại diện" (dịch nôm na là... tai to mặt lớn) chính quyền và quân đội trên đảo - kể cả "Thằng Mặt Đen" bây giờ cũng nhập sòng và đã góp phần trình diễn vài bài hát khá hay - và... một bầy tang tình con nít! Thành phần "diễn viên và ca sĩ chủ lực" không ai khác hơn là... tụi tui, dù chẳng mạng nào qua trường lớp ca hát đâu cả nhưng đã "xuất thần" chẳng kém các thí sinh chung kết của American Idols! Nếu có ai muốn đánh đổi buổi văn nghệ ngẫu hứng đó bằng bất kỳ chiếc vé đại nhạc hội thượng hạng nào trong các hí viện "hoành tráng" nhất ở Úc, Đức, Pháp hay Mỹ với sự hiện diện của các siêu sao "vào cầu rực lửa" lừng danh thế giới, tôi chắc rằng chẳng ai trong đoàn... thèm vào!
Vì dễ gì bạn nghe "Khúc hát Air Raya" (một trong những nhạc phẩm đầu tiên được viết bởi chính người tỵ nạn VN ở hải ngoại) từng được sáng tác ở ngay trên hòn đảo này hơn 30 năm trước, dễ gì có cảm xúc bồi hồi "Trở về mái nhà xưa" bởi giọng ca rè của cựu ca truởng Ca đoàn (V)ô nhiễm Nguyễn Triệu, dễ gì được quằn quại cùng "Nửa hồn thương đau" với Oanh Oanh, dễ gì có cơ hội được thưởng thức các "tài năng trẻ" mới vừa "xuất khẩu" từ trong nước (không theo Nghị quyết 36) của Tài và Tước... Rồi được cười lộn ruột với những vũ điệu sút quần của cựu cán bộ nông thôn Hồ Tắc, với những mẩu chuyện tiếu lâm mặn hơn nước biển của ông già làm báo. Và những "mầm non văn nghệ" ở tuổi... tri thiên mệnh; như Đình Chung, Ngọc Thúy, Kim Vân...
Nhưng xuất sắc nhất vẫn là những giọng ca hồn nhiên trong sáng của các em nhỏ Letung trong những bài dân ca Nam Dương tuyệt vời. Chỉ nhìn các em say sưa đánh đàn gõ trống (trên chiếc can nhựa đựng nước) với tất cả sự nhiệt tình và ngây thơ của tuổi trẻ, đám người lớn chỉ biết... lắc đầu chào thua. "Thôi tiếc mà chi, than mà chi..." Thời của các bác, các chú, các cô đã qua rồi! Giấc mơ trở thành ca sĩ xin vui vẻ nhường lại từ đây...
Rồi buổi tiệc cũng tàn. Chiến trường la liệt xác... quân ta. Làng chài yên ắng trở lại. Khi thu dọn "sân khấu về khuya", tôi đã nghe tiếng gà gáy sáng và lác đác đã có người đẩy ghe ra biển, bắt đầu một ngày mới cho cuộc sống bình dị của người dân địa phương như từ bao đời nay...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuối năm là lúc con người nhìn lại về giá trị cuộc sống. Một bài viết trên trang mạng The Conversation nêu vấn đề về những vực thẳm chính trị, các cuộc chiến tranh, áp bức… và con người vì thế cảm thấy vô vọng và bất lực khi chứng kiến những thế lực đen tối diễn ra khắp nơi trên thế giới. Liệu chúng ta có thể làm được điều gì đem lại thay đổi trước những bi hoại này hay không?
Danh hiệu “Nhân Vật Của Năm” do TIME bắt đầu từ năm 1927 – theo truyền thống được trao cho những người có ảnh hưởng đáng kể trong các sự kiện toàn cầu, từ chính trị đến văn hóa, môi trường, nghệ thuật. Những người được chọn đóng vai trò như một “thước đo phong vũ” về sức lan tỏa trong xã hội đương đại. Ảnh hưởng đó, theo tiêu chuẩn do chính TIME đề ra, có thể là “for better or for worse – làm cho thế giới tốt đẹp hơn hoặc tệ hại hơn.”
Tiễn 2024, thế giới sẽ chào đón một năm mới 2025 mang theo cả bóng tối lẫn ánh sáng. Các cuộc xung đột, sự phân cực chính trị và những rủi ro khôn lường là lời nhắc nhở về sự bất ổn của thời đại. Nhưng đồng thời, khả năng phục hồi kinh tế, sự phát triển công nghệ, tinh thần hợp tác quốc tế, hơi thở và sự sống còn bất khuất của từng người mẹ, từng đứa trẻ vực dậy và vươn lên từ những đống gạch vụn đổ nát ở Ukraine, ở Gaza, ở Syria… cũng là cảm hứng và hy vọng cho tương lai nhân loại. Nhà văn Albert Camus đã viết: “Giữa mùa đông lạnh giá nhất, tôi tìm thấy, trong mình, một mùa hè bất khả chiến bại.”* Thế giới năm 2025, với tất cả những hỗn loạn, vẫn mang đến cơ hội để con người vượt qua và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, tử tế hơn. Đó cũng là lời chúc chân thành cuối năm của toàn ban biên tập Việt Báo gửi đến quý độc giả: một năm 2025 tràn trề cơ hội và hy vọng.
Trong ba năm học gần đây, PEN America đã ghi nhận hàng loạt trường hợp cấm sách xảy ra trên toàn nước Mỹ, đặc biệt trong các trường công lập. Những nỗ lực xóa bỏ một số câu chuyện và bản sắc khỏi thư viện trường học không chỉ gia tăng mà còn trở thành dấu hiệu của một sự chuyển đổi lớn hơn, đặt ra câu hỏi nghiêm trọng về tương lai của giáo dục công lập. Việc kiểm duyệt này phản ánh một xu hướng đáng lo ngại: sự tập trung vào việc kiểm soát nội dung văn hóa và giáo dục, thay vì khuyến khích học sinh tiếp cận kiến thức đa chiều.
Syria đang sống trong một bước ngoặt lịch sử sau khi chế độ độc tài sụp đổ nhanh chóng và Bashar al-Assad trốn sang Nga để tị nạn. Các nhóm nổi dậy chiến thắng đang cố gắng duy trì trật tự công cộng và thảo luận về các kịch bản cho tương lai. Lòng dân hân hoan về một khởi đầu mới đầy hứa hẹn pha trộn với những lo âu vì tương lai đất nước còn đầy bất trắc. Trong 54 năm qua, chế độ Assad đã cai trị đất nước như một tài sản riêng của gia đình và bảo vệ cho chế độ trường tồn là khẩu hiệu chung của giới thân cận.
Các số liệu gần đây cho thấy những thách thức mà nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đối mặt để phục hồi kinh tế cho năm 2025, khi quan hệ thương mại với thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc có thể xấu đi cùng lúc mức tiêu thụ trong nước vẫn sụt giảm. Và thật sự thì nền kinh tế Trung Quốc tệ đến mức nào? Việc đặt câu hỏi này ngày càng trở nên hợp lý khi Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng sản xuất trì trễ và tiền tệ mất giá kéo dài trong những năm gần đây. Đặc biệt, chính quyền Bắc Kinh dường như không muốn công khai toàn bộ thực trạng.
Chiều ngày Thứ Ba 17/12, tòa án New York kết án Luigi Mangione 11 tội danh, bao gồm tội giết người cấp độ 1, hai tội giết người cấp độ 2 cùng các tội danh khác về vũ khí và làm giả danh tính. Theo bản cáo trạng, một bồi thẩm đoàn ở Manhattan đã truy tố Mangione về tội giết người cấp độ hai là tội khủng bố. Tòa đã kết tội hành động của Luigi Mangione – một hành động nổi loạn khó có thể bào chữa dù đó là tiếng kêu cuối cùng của tuyệt vọng.
Ngay từ thời điểm này, cho dù chưa chính thức bước vào Tòa Bạch Ốc, tổng thống đắc cử Donald Trump đã hứa hẹn một chiến dịch bài trừ di dân lớn nhất lịch sử Mỹ. Những cuộc kiểm soát, bắt bớ, trục xuất di dân dự kiến sẽ diễn ra với qui mô lớn trong vài năm tới. Nhiều sắc dân nhập cư ở Mỹ sẽ phải lo lắng, nhưng cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là cộng đồng di dân gốc Mỹ Latin. Lời hứa này đang làm hài lòng những người Mỹ xem dân nhập cư là kẻ cướp đi việc làm và quyền lợi của mình. Rất đông trong số này thuộc các cộng đồng di dân, trong đó có cộng đồng gốc Việt. Tuy nhiên, có bao nhiêu người thấy được toàn cảnh ảnh hưởng của những chính sách bài trừ di dân đến nền kinh tế và xã hội Hoa Kỳ?
Trong tài liệu của Thư Viện Quốc Hội ghi rằng, nguồn gốc của quyền ân xá trong Hiến Pháp Hoa Kỳ đến từ lịch sử Anh quốc. Quyền ân xá xuất hiện lần đầu tiên dưới thời trị vì của Vua Ine xứ Wessex vào thế kỷ thứ bảy. Mặc dù tình trạng lạm dụng quyền ân xá ngày càng tăng theo thời gian, dẫn đến những hạn chế sau đó, nhưng quyền ân xá vẫn tồn tại trong suốt thời kỳ thuộc địa của Mỹ.
Tôi cộng tác với tuần báo Trẻ (tờ báo có nhiều ấn bản nhất tại Hoa Kỳ) gần hai chục năm qua. Sự gắn bó lâu dài này không chỉ vì tấm lòng yêu nghề (và thái độ thân thiện cởi mở) của ban biên tập mà còn vì chút tình riêng. Mỗi tuần Trẻ đều dành hẳn một trang báo, để trân trọng giới thiệu đến độc giả hai ba vị thương phế binh (Việt Nam Cộng Hòa) đang sống trong cảnh rất ngặt nghèo ở quê nhà. Nhìn hình ảnh đồng đội của mình đang ngồi trên xe lăn, hay nằm thoi thóp trong một gian nhà tồi tàn nào đó – lắm lúc – tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi: “Liệu có còn ai nhớ đến những kẻ đã từng vì đời mà đi không vậy?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.