Hôm nay,  

Bất Sỉ Hạ Vấn

23/02/201000:00:00(Xem: 9318)

Bất Sỉ Hạ Vấn

Đoàn Thanh Liêm
Một trong những bài học tôi vẫn còn nhớ hoài, do cha tôi chỉ bảo cho tôi, đó là câu  : Bất sỉ hạ vấn. Câu này có nghiã là : Chúng ta không bao giờ lại cảm thấy nhục nhã, mỗi khi phải đi hỏi điều gì từ nơi người thấp kém hơn mình. Cha tôi vốn là người con trưởng cuả một ông đồ dậy chữ nho, nên ông hay dùng những câu chữ Hán để dậy bảo anh chị em chúng tôi. Với câu này, ông cụ còn giải thích cho rõ nghiã thêm, cụ thể như : người thợ mộc có thể chỉ dẫn cho ta cách thức đóng bàn ghế, giường tủ, hay sưả sang giàn mộc cuả căn nhà. Tụi con đi tới chỗ lạ, mà muốn hỏi đường xá, thì có thể hỏi ngay cả đứa bé lên 5-6 tuổi ở điạ phương, thì nó cũng có thể chỉ dẫn cho mình được. Bởi thế, ta không bao giờ mà vì tự ái quá độ, mà không chiụ đi hỏi người khác, dù họ ít học kém cỏi hơn mình…
Vào năm 1965, lúc tôi đã vào lứa tuổi “tam thập nhi lập”, trong lúc tham gia với các bạn trong chương trình phát triển cộng đồng ở quận 8 Saigon, thì anh em chúng tôi có dịp sát cánh thường xuyên với bà con ở khu vực điạ phương miền ven biên đô thị này. Phải nói là tuy chúng tôi có thiện chí hăng say với công tác xã hội để phục vụ quần chúng, nhưng tất cả chúng tôi chỉ là một lũ “bạch diện thư sinh”, đâu mà có chút kinh nghiệm hoạt động với đồng bào là bao nhiêu. Mà lần hồi, nhờ sự chỉ giáo hướng dẫn cuả các bậc thân hào nhân sĩ ở điạ phương, chúng tôi mới tìm ra cách thức hoạt động cộng đồng sao cho có kết quả tối đa, nhờ vào sự hưởng ứng, tiếp tay cuả tất cả bà con già trẻ lớn bé trong cộng đồng. Rõ ràng là anh em cán bộ tự nguyện chúng tôi đã  “vừa học vừa làm”, nhờ biết lắng nghe lời chỉ bảo, góp ý cuả bà con ở điạ phương, cho nên sau mấy năm thì anh em mới có được kinh nghiệm hoạt động cộng đồng có kết quả tốt đẹp. Nhờ vậy, mà chương trình phát triển này mới đạt được một số thành quả tương đối khả quan, như mọi người đều đã có dịp biết đến.
Cái thái độ khiêm tốn, hoà nhập với cộng đồng điạ phương này đã được nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn cuả Phong trào Du ca vào thời đó,  đã ghi lại trong một bài hát rất được giới thanh niên ưa chuộng và say sưa hát trong các buổi sinh hoạt tập thể. Bài hát nhan đề “Xin làm con xóm làng”, có những câu đại khái như sau :  “Chúng con xin kính mẹ già nua. Xin được yêu kính mẹ. Chúng con xin biến thành người làng. Xin làm con xóm làng…”
( Toàn văn bài hát này sẽ được ghi nơi Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này)
Sau này vào đầu thập niên 1970, tôi được các bạn người Mỹ gửi cho một bài thơ bất hủ, mà rất được dân chúng ở Mỹ ưa chuộng, đó là bài thơ có nhan đề  bằng tiếng La tinh : “Desiderata” ( Những Điều Mong Ước). Tôi rất thích đoạn sau đây, vì nó cũng tương tự như câu “Bất sỉ hạ vấn” là nhan đề cuả bài viết này, xin chép nguyên văn tiếng Anh :
 “ …And listen to others,
Even to the dull and the ignorant;
They too have their story…”
(Tạm dịch là : “ …Và hãy lắng nghe những người khác nói. Kể cả phải lắng nghe người đần độn và dốt nát; Họ cũng có nỗi niềm riêng tư cuả họ đấy…)
Bài thơ Desiderata này, tôi đã có dịp giới thiệu với bạn đọc người Việt hồi đầu năm 2009 vưà qua, kèm theo bản dịch ra Việt ngữ. Quý bạn đọc nào muốn tìm đọc nguyên tác tiếng Anh, thì cứ việc mở Yahoo, hay Google, thì sẽ có ngay toàn văn bài thơ, cũng như các chi tiết rất lý thú xung quanh áng văn bất hủ này trong kho tàng thi ca hiện đại cuả nước Mỹ.


Để trở lại với lời khuyên nhủ “Bất sỉ hạ vấn”, tôi muốn ghi thêm về cái chiến dịch “Hạ Phóng” do ông Mao Trạch Đông chủ trương tại Trung Quốc ngay từ hồi thập niên 1950, sau khi đảng cộng sản Trung quốc làm chủ được toàn thể lục điạ Trung Hoa. Qua chiến dịch này, họ Mao đảy giới trí thức ở các thành phố phải đi về với nhân dân là công nhân, là nông dân ở hạ tầng cơ sở, nhằm học hỏi được thực tế cuả xã hội Trung quốc và từ đó mà biết cách phục vụ quần chúng nhân dân một cách có hiệu quả hơn. Trên nguyên tắc, việc “Hạ Phóng” này là rất hay, không có gì sai trái cả. Nhưng tiếc thay, trong thực tế, chiến dịch này cũng giống như vụ “Trăm Hoa Đua Nở”, và sau này là “ Cách Mạng Văn Hoá”, thì đều là do cái thủ đoạn thâm độc cuả họ Mao nhằm triệt hạ mọi thành phần nhân dân nào mà không chịu quy phục theo sự lãnh đạo cuả đảng cộng sản do ông ta lãnh đạo. Vì thế, mà nước Trung Hoa đã bị tàn phá, xâu xé nặng nề, đến nỗi bị tụt hậu về mọi mặt kinh tế, xã hội cũng như về văn hoá khoa học. Ở Việt nam cũng có những bước thụt lùi tương tự như vậy, cụ thể như vụ đàn áp giới văn nghệ sĩ và trí thức vào giưã thập niên 1950 qua chuyện “Nhân Văn Giai Phẩm” và vụ “Xét Lại Chống Đảng” vào giữa thập niên 1960. Mà ngay cho đến hiện nay, cộng sản Việt nam vẫn noi theo gương xấu của cộng sản đàn anh Trung quốc, nên chủ trương đàn áp đối lập như thế đó vẫn còn hoành hành rất tàn bạo, độc ác, bất kể đến sự phản ứng mạnh mẽ cuả công luận quốc tế.
Vai trò làm chất men cuả giới sĩ phu trí thức.
Cái mặt tiêu cực cuả chế độ chuyên chế độc tài toàn trị cuả người cộng sản ởViệt nam cũng như ở Trung quốc, thì đã quá rõ rệt là lạc hậu, phản tiến bộ, vô luân và thất đức rồi. Ta khỏi cần phải nói dài dòng nhiều hơn nưã. Mà trong bài này, tôi muốn bàn thêm về cái khiá cạnh tích cực, lạc quan và tiến bộ trong lời giáo huấn cuả ông cha chúng ta, đặc biệt đối với hàng ngũ sĩ phu trí thức, mà thường được gọi là “vốn quý”, là “nguyên khí” cuả đất nước, thì họ luôn luôn phải gắn bó gần gũi với đại khối quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện được công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia cho mỗi ngày thêm vẻ vang, tốt đẹp viên mãn. Có thể nói vai trò chính yếu cuả giới sĩ phu quân tử là “làm chất men, chất xúc tác”, được vùi sâu trong môi trường quần chúng, hầu có thể phát huy được tác dụng là “tạo dựng được sự phấn khởi, sự hăng say cuả cả khối quần chúng cùng dấn thân, nhập cuộc vào với sự nghiệp cứu nước và dựng nước”, phục hồi lại được cái truyền thống văn hoá nhân ái và đạo đức tốt đẹp cuả cha ông chúng ta thuở xưa. Đó là công cuộc “ Gây ý thức, Gây men, Vận động quần chúng” (Mass Conscientisation, Mass Fermentation / Mass  Mobilization) nhằm tạo thành một phong trào sâu rộng trong mọi giới, mọi giai tầng cuả xã hội, đặc biệt thuộc khu vực xã hội dân sự, là khu vực biệt lập với khu vực nhà nước.
Như ta đã biết, nhu cầu thực tế (real needs) cuả một xã hội thì rất nhiều, khó mà có thể giải quyết cho thoả đáng tất cả, trong một thời gian ngắn được. Mà chỉ khi nào quần chúng cảm nhận sâu sắc được các nhu cầu đó (felt needs), thì họ mới cùng nhau ra tay để tìm cách giải quyết mà cải thiện tình hình đó. Vì thế, người cán bộ vận động quần chúng, thì phải đi sâu, đi sát với bà con trong cộng đồng, biết học hỏi lắng nghe về những nguyện vọng sâu kín cuả ngưới dân, hầu có thể hoà nhập vào môi trường quần chúng, để rồi khơi động được sự tham gia tự nguyện và phấn khởi cuả nhân dân vào việc cải thiện nếp sống cuả cộng đồng tại từng điạ phương một. Và muốn như vậy, thì người cán bộ phải dứt bỏ được cái thái độ “biệt lập tách rời khỏi số đông” (isolated,uprooted from the masses), để mà có thể “tái hội nhập” lại với quần chúng vốn là cơ sở căn bản trước đây cuả mình (reintegrated).
 Có thực hiện được sự hoà nhập như thế, thì người cán bộ mới hy vọng lôi cuốn, khuyến dụ được quần chúng tự phát, đồng lòng tham gia vào công cuộc cải tiến xã hội theo đường hướng nhân bản tiến bộ, như lòng mong ước cuả nhiều bạn trẻ đày tinh thần hăng say lý tưởng đối với đất nước và dân tộc ngày nay vậy./
San Jose, California, Tết Canh Dần 2010
Đoàn Thanh Liêm
 Phụ Lục : Bài hát  “Xin làm con Xóm Làng”.
1 – Đơn  : Chúng con xin được yêu xóm làng
Chung: Xin được yêu xóm làng
2 – Đơn  : Chúng con xin kính mẹ già nua
Chung : Xin được yêu kính mẹ
3 – Đơn  : Chúng con xin yêu đàn trẻ thơ
Chung : Xin yêu đàn trẻ thơ
4 – Đơn  : Chúng con xin biến thành người làng
   Chung : Xin làm con xóm làng./

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.