Hôm nay,  

Bất Sỉ Hạ Vấn

23/02/201000:00:00(Xem: 10180)

Bất Sỉ Hạ Vấn

Đoàn Thanh Liêm
Một trong những bài học tôi vẫn còn nhớ hoài, do cha tôi chỉ bảo cho tôi, đó là câu  : Bất sỉ hạ vấn. Câu này có nghiã là : Chúng ta không bao giờ lại cảm thấy nhục nhã, mỗi khi phải đi hỏi điều gì từ nơi người thấp kém hơn mình. Cha tôi vốn là người con trưởng cuả một ông đồ dậy chữ nho, nên ông hay dùng những câu chữ Hán để dậy bảo anh chị em chúng tôi. Với câu này, ông cụ còn giải thích cho rõ nghiã thêm, cụ thể như : người thợ mộc có thể chỉ dẫn cho ta cách thức đóng bàn ghế, giường tủ, hay sưả sang giàn mộc cuả căn nhà. Tụi con đi tới chỗ lạ, mà muốn hỏi đường xá, thì có thể hỏi ngay cả đứa bé lên 5-6 tuổi ở điạ phương, thì nó cũng có thể chỉ dẫn cho mình được. Bởi thế, ta không bao giờ mà vì tự ái quá độ, mà không chiụ đi hỏi người khác, dù họ ít học kém cỏi hơn mình…
Vào năm 1965, lúc tôi đã vào lứa tuổi “tam thập nhi lập”, trong lúc tham gia với các bạn trong chương trình phát triển cộng đồng ở quận 8 Saigon, thì anh em chúng tôi có dịp sát cánh thường xuyên với bà con ở khu vực điạ phương miền ven biên đô thị này. Phải nói là tuy chúng tôi có thiện chí hăng say với công tác xã hội để phục vụ quần chúng, nhưng tất cả chúng tôi chỉ là một lũ “bạch diện thư sinh”, đâu mà có chút kinh nghiệm hoạt động với đồng bào là bao nhiêu. Mà lần hồi, nhờ sự chỉ giáo hướng dẫn cuả các bậc thân hào nhân sĩ ở điạ phương, chúng tôi mới tìm ra cách thức hoạt động cộng đồng sao cho có kết quả tối đa, nhờ vào sự hưởng ứng, tiếp tay cuả tất cả bà con già trẻ lớn bé trong cộng đồng. Rõ ràng là anh em cán bộ tự nguyện chúng tôi đã  “vừa học vừa làm”, nhờ biết lắng nghe lời chỉ bảo, góp ý cuả bà con ở điạ phương, cho nên sau mấy năm thì anh em mới có được kinh nghiệm hoạt động cộng đồng có kết quả tốt đẹp. Nhờ vậy, mà chương trình phát triển này mới đạt được một số thành quả tương đối khả quan, như mọi người đều đã có dịp biết đến.
Cái thái độ khiêm tốn, hoà nhập với cộng đồng điạ phương này đã được nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn cuả Phong trào Du ca vào thời đó,  đã ghi lại trong một bài hát rất được giới thanh niên ưa chuộng và say sưa hát trong các buổi sinh hoạt tập thể. Bài hát nhan đề “Xin làm con xóm làng”, có những câu đại khái như sau :  “Chúng con xin kính mẹ già nua. Xin được yêu kính mẹ. Chúng con xin biến thành người làng. Xin làm con xóm làng…”
( Toàn văn bài hát này sẽ được ghi nơi Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này)
Sau này vào đầu thập niên 1970, tôi được các bạn người Mỹ gửi cho một bài thơ bất hủ, mà rất được dân chúng ở Mỹ ưa chuộng, đó là bài thơ có nhan đề  bằng tiếng La tinh : “Desiderata” ( Những Điều Mong Ước). Tôi rất thích đoạn sau đây, vì nó cũng tương tự như câu “Bất sỉ hạ vấn” là nhan đề cuả bài viết này, xin chép nguyên văn tiếng Anh :
 “ …And listen to others,
Even to the dull and the ignorant;
They too have their story…”
(Tạm dịch là : “ …Và hãy lắng nghe những người khác nói. Kể cả phải lắng nghe người đần độn và dốt nát; Họ cũng có nỗi niềm riêng tư cuả họ đấy…)
Bài thơ Desiderata này, tôi đã có dịp giới thiệu với bạn đọc người Việt hồi đầu năm 2009 vưà qua, kèm theo bản dịch ra Việt ngữ. Quý bạn đọc nào muốn tìm đọc nguyên tác tiếng Anh, thì cứ việc mở Yahoo, hay Google, thì sẽ có ngay toàn văn bài thơ, cũng như các chi tiết rất lý thú xung quanh áng văn bất hủ này trong kho tàng thi ca hiện đại cuả nước Mỹ.


Để trở lại với lời khuyên nhủ “Bất sỉ hạ vấn”, tôi muốn ghi thêm về cái chiến dịch “Hạ Phóng” do ông Mao Trạch Đông chủ trương tại Trung Quốc ngay từ hồi thập niên 1950, sau khi đảng cộng sản Trung quốc làm chủ được toàn thể lục điạ Trung Hoa. Qua chiến dịch này, họ Mao đảy giới trí thức ở các thành phố phải đi về với nhân dân là công nhân, là nông dân ở hạ tầng cơ sở, nhằm học hỏi được thực tế cuả xã hội Trung quốc và từ đó mà biết cách phục vụ quần chúng nhân dân một cách có hiệu quả hơn. Trên nguyên tắc, việc “Hạ Phóng” này là rất hay, không có gì sai trái cả. Nhưng tiếc thay, trong thực tế, chiến dịch này cũng giống như vụ “Trăm Hoa Đua Nở”, và sau này là “ Cách Mạng Văn Hoá”, thì đều là do cái thủ đoạn thâm độc cuả họ Mao nhằm triệt hạ mọi thành phần nhân dân nào mà không chịu quy phục theo sự lãnh đạo cuả đảng cộng sản do ông ta lãnh đạo. Vì thế, mà nước Trung Hoa đã bị tàn phá, xâu xé nặng nề, đến nỗi bị tụt hậu về mọi mặt kinh tế, xã hội cũng như về văn hoá khoa học. Ở Việt nam cũng có những bước thụt lùi tương tự như vậy, cụ thể như vụ đàn áp giới văn nghệ sĩ và trí thức vào giưã thập niên 1950 qua chuyện “Nhân Văn Giai Phẩm” và vụ “Xét Lại Chống Đảng” vào giữa thập niên 1960. Mà ngay cho đến hiện nay, cộng sản Việt nam vẫn noi theo gương xấu của cộng sản đàn anh Trung quốc, nên chủ trương đàn áp đối lập như thế đó vẫn còn hoành hành rất tàn bạo, độc ác, bất kể đến sự phản ứng mạnh mẽ cuả công luận quốc tế.
Vai trò làm chất men cuả giới sĩ phu trí thức.
Cái mặt tiêu cực cuả chế độ chuyên chế độc tài toàn trị cuả người cộng sản ởViệt nam cũng như ở Trung quốc, thì đã quá rõ rệt là lạc hậu, phản tiến bộ, vô luân và thất đức rồi. Ta khỏi cần phải nói dài dòng nhiều hơn nưã. Mà trong bài này, tôi muốn bàn thêm về cái khiá cạnh tích cực, lạc quan và tiến bộ trong lời giáo huấn cuả ông cha chúng ta, đặc biệt đối với hàng ngũ sĩ phu trí thức, mà thường được gọi là “vốn quý”, là “nguyên khí” cuả đất nước, thì họ luôn luôn phải gắn bó gần gũi với đại khối quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện được công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia cho mỗi ngày thêm vẻ vang, tốt đẹp viên mãn. Có thể nói vai trò chính yếu cuả giới sĩ phu quân tử là “làm chất men, chất xúc tác”, được vùi sâu trong môi trường quần chúng, hầu có thể phát huy được tác dụng là “tạo dựng được sự phấn khởi, sự hăng say cuả cả khối quần chúng cùng dấn thân, nhập cuộc vào với sự nghiệp cứu nước và dựng nước”, phục hồi lại được cái truyền thống văn hoá nhân ái và đạo đức tốt đẹp cuả cha ông chúng ta thuở xưa. Đó là công cuộc “ Gây ý thức, Gây men, Vận động quần chúng” (Mass Conscientisation, Mass Fermentation / Mass  Mobilization) nhằm tạo thành một phong trào sâu rộng trong mọi giới, mọi giai tầng cuả xã hội, đặc biệt thuộc khu vực xã hội dân sự, là khu vực biệt lập với khu vực nhà nước.
Như ta đã biết, nhu cầu thực tế (real needs) cuả một xã hội thì rất nhiều, khó mà có thể giải quyết cho thoả đáng tất cả, trong một thời gian ngắn được. Mà chỉ khi nào quần chúng cảm nhận sâu sắc được các nhu cầu đó (felt needs), thì họ mới cùng nhau ra tay để tìm cách giải quyết mà cải thiện tình hình đó. Vì thế, người cán bộ vận động quần chúng, thì phải đi sâu, đi sát với bà con trong cộng đồng, biết học hỏi lắng nghe về những nguyện vọng sâu kín cuả ngưới dân, hầu có thể hoà nhập vào môi trường quần chúng, để rồi khơi động được sự tham gia tự nguyện và phấn khởi cuả nhân dân vào việc cải thiện nếp sống cuả cộng đồng tại từng điạ phương một. Và muốn như vậy, thì người cán bộ phải dứt bỏ được cái thái độ “biệt lập tách rời khỏi số đông” (isolated,uprooted from the masses), để mà có thể “tái hội nhập” lại với quần chúng vốn là cơ sở căn bản trước đây cuả mình (reintegrated).
 Có thực hiện được sự hoà nhập như thế, thì người cán bộ mới hy vọng lôi cuốn, khuyến dụ được quần chúng tự phát, đồng lòng tham gia vào công cuộc cải tiến xã hội theo đường hướng nhân bản tiến bộ, như lòng mong ước cuả nhiều bạn trẻ đày tinh thần hăng say lý tưởng đối với đất nước và dân tộc ngày nay vậy./
San Jose, California, Tết Canh Dần 2010
Đoàn Thanh Liêm
 Phụ Lục : Bài hát  “Xin làm con Xóm Làng”.
1 – Đơn  : Chúng con xin được yêu xóm làng
Chung: Xin được yêu xóm làng
2 – Đơn  : Chúng con xin kính mẹ già nua
Chung : Xin được yêu kính mẹ
3 – Đơn  : Chúng con xin yêu đàn trẻ thơ
Chung : Xin yêu đàn trẻ thơ
4 – Đơn  : Chúng con xin biến thành người làng
   Chung : Xin làm con xóm làng./

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1991 tới 1996, tôi theo học đại học ngoại ngữ ở Tokyo. Sau đó, 1992-93, tôi qua học tiếng Việt ở Sài Gòn. Ngày đó những người ở SG rất dễ thương
Người Việt Được Cứu Giúp Sau Ngày Saigon Thất Thủ Tỏ Lòng Cảm Ơn Nước Mỹ Bằng Tượng Đài Ở Đảo Guam
Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
Cúc Thu Bách Vịnh là một tập thơ 100 bài gồm : 50 bài của Phan Huy Ích và 50 bài của Ngô Thì Nhậm viết từ tiết Trùng Dương năm 1796. Ngô Văn gia phái gọi tập thơ là Cúc Hoa Thi Trận. Sau những biến cố xãy ra trong triều đình Tây Sơn từ khi vua Quang Trung mất năm 1792.
Lá cờ đỏ sao vàng, rõ ràng, không được người Việt nước ngoài chấp nhận.
Trong Thế Giới Phật Giáo Miến điện có ngôi chùa Swedagon cao nhứt Thế Giới, và một Quển sách Lớn nhứt Thế Giới.
Nói đến công tác dò mìn, ai ai cũng đểu nghĩ rằng đây là một công việc rất khó khăn và nguy hiểm chỉ dành riêng cho,những ,người đã từng được huấn luyện am tường rành rẽ,và tháo vát về khoa học, kỹ thuật tháo gỡ chất nổ để làm thế nào có thể hóa giải một trái mìn không nổ mà không an nguy đến tính mạng của mình nên được gọi danh xưng là Chuyên viên chất nổ, ngoài ra còn phối hợp thêm cây dò mìn liên hệ để định vị được trái mìn ở đâu.hầu dễ dàng trong công việc Vậy mà đôi khi chính Chuyên viên chất nổ còn phải gánh chịu hậu quả vô cùng thảm khốc“ sinh nghề tử nghiệp” là chuyện thường tình trong công tác đầy khó khăn và nguy hiểm này.
* Cố TT Nixon về cuối đời than về China rằng: “Phải chăng chúng ta đã tạo ra một con quái vật!” “ Con Đường Tơ Lụa Mới” chỉ là một khẩu hiệu “sexy” gợi cảm để che giấu tham vọng thống trị thế giới của China.” - Một nhà ngoại giao cấp cao phương Tây.
Em ơi lửa tắt bình khô rượu Đời vắng em rồi say với ai? (Vũ Hoàng Chương)
Hoàng Tử Siddhartha Gautama sinh ra và lớn lên tại thành Catilavệ. Ban đầu, Ngài có một cuộc sống xa hoa trong cung điện, không biết gì về những đau khổ và bệnh tật. Tuy nhiên, một lần Ông trốn ra ngoại thành, Ông chứng kiến sự đau khổ giẫy giụa và đầy hối hận. Một số câu hỏi hình thành trong tâm trí của Ông nên Ông muốn tìm một câu trả lời. Trong một đêm thanh vắng, Ông từ giã cung điện vào rừng tìm chân lý, về sau người ta tìm được nhiều chứng tích xác thật cho thấy Ông lên núi Pragbodhi mà bây giời gọi là Dunheswara. Ông ở trong một hang động bây giờ gọi là Pragbodhi Cave (Khổ Hạnh Lâm). Ông sống ở đây sáu năm để tu khổ hạnh. Sau sáu năm tu khổ hạnh Ông nhận thấy tu khổ hạnh không đưa đến Giác Ngộ, Ông rời nơi này đi qua (Bodh Gaya) Bồ Đề Đạo Tràng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.