Hôm nay,  

Vốn Con Người

30/03/201000:00:00(Xem: 7162)

Vốn Con Người

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Vốn con người, khác với những loại vốn khác, có ba đặc tính.
Trước hết là đặc tính độc đáo. Không như hai đồng tiền có thể đổi chác, con người không ai giống ai. Do đó, thay đổi nhân sự nhất thiết ảnh hưởng đến sự vận hành của cả tập thể, không giống như thay bù lon, đinh ốc, hay cơ phận trong một cỗ máy. Do đặc tính độc đáo này mà hầu như luôn luôn có sự bất cập giữa nhân sự mong muốn và nhân sự có được. Ít khi nào có sẵn người đầy đủ năng khiếu và kinh nghiệm đúng hoàn toàn với nhu cầu của công việc.
Thứ hai là đặc tính toàn diện. Mỗi con người là tổng thể về tâm sinh lý; về con người cá nhân, gia đình và xã hội; về kinh nghiệm chồng chất từ quá khứ đến hiện tại; về cá tính, nhu cầu, và khả năng. Khi tìm nhân sự chúng ta không thể chỉ xét về năng khiếu mà không quan tâm đến tâm tính, về sở trường mà không nghĩ đến hạn chế, hay về công việc mà quên mất đời sống cá nhân.
Thứ ba là đặc tính tự tăng trưởng. Khác với các loại vốn khác, chỉ tăng trưởng do được tác động, con người tự mình phát triển và liên tục tích luỹ kiến thức, khả năng, kinh nghiệm để đáp ứng với tình thế mới. Con người có khả năng phối hợp, tổng hợp, phán đoán và tưởng tượng-những yếu tố cần thiết để tự tăng trưởng. Chính vì đặc tính này mà không thể thiếu con người trong những công việc phức tạp đòi hỏi sự định hướng, lập kế hoạch, hay quyền biến.      
Muốn sử dụng vốn con người, chúng ta cần có kế hoạch và chương trình đào tạo nhân sự để phát triển khả năng và bản lãnh, cần phân bổ nhân sự vào những vai trò và chức năng khác nhau cho phù hợp với sở trường, cần tạo môi trường và phương tiện để nhân sự tăng trưởng về kinh nghiệm và thăng tiến trong công tác, và nhiều khi cần sắp xếp công việc cho phù hợp với nhân sự thay vì gò ép nhân sự vào khuôn khổ của công việc đã định sẵn. Chúng ta còn phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện và hài hoà của nhân sự. Đó là ý nghĩa của “dụng nhân như dụng mộc.”


Đối với cộng đồng, chúng ta nói nhiều về trao truyền ngọn đuốc cho lớp người đi sau nhưng không có kế hoạch để đào tạo và chuẩn bị cho họ, chúng ta kêu gọi người trẻ dấn thân nhưng chưa có nỗ lực nào đáng kể để tạo cơ sở và phương tiện cho họ “dụng võ”, chúng ta hy vọng rằng thế hệ thứ hai và thứ ba lớn lên ở Hoa Kỳ sẽ giỏi giang nhưng lại không có chương trình để lôi cuốn họ đến và giữ họ ở lại với cộng đồng. 
Đối với Việt Nam, cũng vậy, chúng ta hoan nghênh những người dấn thân tranh đấu cho công lý và dân chủ nhưng cũng không có kế hoạch để tạo cơ hội cho họ phát triển năng khiếu, tiếp thu tri thức, mở rộng tầm nhìn, và tích luỹ kinh nghiệm về hoạt động xã hội dân sư ngày hôm nay và nắm vận mạng đất nước mai này. 
Trong 20 năm qua, từ khi còn là một tổ chức nhỏ bé nhưng phải đương đầu với chính sách quốc tế về cưỡng bách hồi hương thuyền nhân, BPSOS đã bắt đầu đào tạo nhân sự qua chương trình thực tập. Qua đó, nhiều người trẻ đã học hỏi về nguồn gốc, phát triển khả năng, và tích luỹ kinh nghiệu qua những công tác cụ thể. Một sốû cho đến nay vẫn tiếp tục con đường phục vụ cộng đồng, dân tộc, và xã hội. Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Ánh là trường hợp điển hình nhưng không phải độc nhất. Từ 5 năm qua, BPSOS cũng thực hiện một nỗ lực tương tự cho Việt Nam.
Một vài tổ chức khác cũng có những nỗ lực cùng chiều hướng ấyï. Tuy nhiên, tất cả những cố gắng cho đến nay, kể cả của BPSOS, còn quá khiêm nhường so với nhu cầu gầy dựng vốn nhân sự cho cộng đồng và cho Việt Nam.  Đã đến lúc chúng ta phải có một kế hoạch rộng lớn và dài hạn để đào tạo thế hệ tiếp nối, tạo cơ sở và phương tiện cho họ phát huy năng lực, và chuẩn bị cho họ thay thế chúng ta trong việc lèo lái cộng đồng và đóng góp cho đất nước.
Chúng ta chỉ có 10 đến 15 năm để hoàn tất công trình to lớn ấy, truớc khi lớp người năng động ngày hôm nay lui vào bóng tối. Đó là trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta đối với thế hệ đi sau và đối với cộng đồng,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.