Hôm nay,  

Vốn Con Người

30/03/201000:00:00(Xem: 9638)

Vốn Con Người

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Vốn con người, khác với những loại vốn khác, có ba đặc tính.
Trước hết là đặc tính độc đáo. Không như hai đồng tiền có thể đổi chác, con người không ai giống ai. Do đó, thay đổi nhân sự nhất thiết ảnh hưởng đến sự vận hành của cả tập thể, không giống như thay bù lon, đinh ốc, hay cơ phận trong một cỗ máy. Do đặc tính độc đáo này mà hầu như luôn luôn có sự bất cập giữa nhân sự mong muốn và nhân sự có được. Ít khi nào có sẵn người đầy đủ năng khiếu và kinh nghiệm đúng hoàn toàn với nhu cầu của công việc.
Thứ hai là đặc tính toàn diện. Mỗi con người là tổng thể về tâm sinh lý; về con người cá nhân, gia đình và xã hội; về kinh nghiệm chồng chất từ quá khứ đến hiện tại; về cá tính, nhu cầu, và khả năng. Khi tìm nhân sự chúng ta không thể chỉ xét về năng khiếu mà không quan tâm đến tâm tính, về sở trường mà không nghĩ đến hạn chế, hay về công việc mà quên mất đời sống cá nhân.
Thứ ba là đặc tính tự tăng trưởng. Khác với các loại vốn khác, chỉ tăng trưởng do được tác động, con người tự mình phát triển và liên tục tích luỹ kiến thức, khả năng, kinh nghiệm để đáp ứng với tình thế mới. Con người có khả năng phối hợp, tổng hợp, phán đoán và tưởng tượng-những yếu tố cần thiết để tự tăng trưởng. Chính vì đặc tính này mà không thể thiếu con người trong những công việc phức tạp đòi hỏi sự định hướng, lập kế hoạch, hay quyền biến.      
Muốn sử dụng vốn con người, chúng ta cần có kế hoạch và chương trình đào tạo nhân sự để phát triển khả năng và bản lãnh, cần phân bổ nhân sự vào những vai trò và chức năng khác nhau cho phù hợp với sở trường, cần tạo môi trường và phương tiện để nhân sự tăng trưởng về kinh nghiệm và thăng tiến trong công tác, và nhiều khi cần sắp xếp công việc cho phù hợp với nhân sự thay vì gò ép nhân sự vào khuôn khổ của công việc đã định sẵn. Chúng ta còn phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện và hài hoà của nhân sự. Đó là ý nghĩa của “dụng nhân như dụng mộc.”


Đối với cộng đồng, chúng ta nói nhiều về trao truyền ngọn đuốc cho lớp người đi sau nhưng không có kế hoạch để đào tạo và chuẩn bị cho họ, chúng ta kêu gọi người trẻ dấn thân nhưng chưa có nỗ lực nào đáng kể để tạo cơ sở và phương tiện cho họ “dụng võ”, chúng ta hy vọng rằng thế hệ thứ hai và thứ ba lớn lên ở Hoa Kỳ sẽ giỏi giang nhưng lại không có chương trình để lôi cuốn họ đến và giữ họ ở lại với cộng đồng. 
Đối với Việt Nam, cũng vậy, chúng ta hoan nghênh những người dấn thân tranh đấu cho công lý và dân chủ nhưng cũng không có kế hoạch để tạo cơ hội cho họ phát triển năng khiếu, tiếp thu tri thức, mở rộng tầm nhìn, và tích luỹ kinh nghiệm về hoạt động xã hội dân sư ngày hôm nay và nắm vận mạng đất nước mai này. 
Trong 20 năm qua, từ khi còn là một tổ chức nhỏ bé nhưng phải đương đầu với chính sách quốc tế về cưỡng bách hồi hương thuyền nhân, BPSOS đã bắt đầu đào tạo nhân sự qua chương trình thực tập. Qua đó, nhiều người trẻ đã học hỏi về nguồn gốc, phát triển khả năng, và tích luỹ kinh nghiệu qua những công tác cụ thể. Một sốû cho đến nay vẫn tiếp tục con đường phục vụ cộng đồng, dân tộc, và xã hội. Dân Biểu Liên Bang Cao Quang Ánh là trường hợp điển hình nhưng không phải độc nhất. Từ 5 năm qua, BPSOS cũng thực hiện một nỗ lực tương tự cho Việt Nam.
Một vài tổ chức khác cũng có những nỗ lực cùng chiều hướng ấyï. Tuy nhiên, tất cả những cố gắng cho đến nay, kể cả của BPSOS, còn quá khiêm nhường so với nhu cầu gầy dựng vốn nhân sự cho cộng đồng và cho Việt Nam.  Đã đến lúc chúng ta phải có một kế hoạch rộng lớn và dài hạn để đào tạo thế hệ tiếp nối, tạo cơ sở và phương tiện cho họ phát huy năng lực, và chuẩn bị cho họ thay thế chúng ta trong việc lèo lái cộng đồng và đóng góp cho đất nước.
Chúng ta chỉ có 10 đến 15 năm để hoàn tất công trình to lớn ấy, truớc khi lớp người năng động ngày hôm nay lui vào bóng tối. Đó là trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta đối với thế hệ đi sau và đối với cộng đồng,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.