Hôm nay,  

Đạo Làm Con

27/07/201000:00:00(Xem: 9027)

Đạo Làm Con 
               
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Những bài học ngày xưa trong trường học thời Đệ Nhị Cộng-Hòa về đạo làm con mà tôi còn nhớ đó là “Nhị Thập Tứ Hiếu”, nói về gương hiếu-thảo của hai mươi bốn người con đối với Cha-Mẹ.  Tác-phẩm này được một học-giả sống vào thời nhà Nguyên, tên là Quách-Cư-Nghiệp viết kể lại bằng chữ Hán.  Ở nước ta, một công-thần nhà Nguyễn là ông Lý-Văn-Phức  (trải qua ba triều vua Minh-Mạng, Thiệu-Trị và Tự-Đức) đã diễn ra Quốc-Âm thành một truyện thơ, viết theo thể “song-thất-lục-bát”;  (trình-tự: hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ)
Đây là những bài học mà học-trò thời ấy (trong đó có tôi) phải thuộc lòng trong môn “Cổ-Văn”.  Còn “Kim-Văn” là những truyện ngắn viết theo thể văn xuôi.  Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ bài thơ nói về nhân vật “Mẫn-Tử-Khiên”:
Thầy Mẫn-Tử rất đường hiếu-nghĩa.
Xét nhà huyên* quạnh quẽ đã lâu,
Thờ Cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải Mẹ sau nồng nàn,
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời kép áo dầy bông,
Chẳng thương chút phận long-đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
Khi Cha dạo theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
Gạt nước mắt chân quỳ miệng gửi:
“Lạy Cha xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống để cơ-hàn cả ba”.
Cha trông xuống cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu-cảm nên từ,
Thắm lâu như đá cũng rừ lọ ai”.
(*Nhà huyên: nghĩa là Mẹ).
Đây là câu chuyện nói về một học trò của Khổng-Tử, tên Mẫn-Tử-Khiên, sinh vào đời Xuân-Thu. Mẹ ông mất sớm, Cha ông lấy vợ kế, sinh được hai người con.  Người dì ghẻ đối với ông vô cùng cay độc, nhưng ông vẫn một lòng hiếu thuận.  Vào mùa đông giá rét, hai con riêng của bà được mặc áo ấm lót bông.  Còn Mẫn-Tử-Khiên thì bà cho mặc áo độn hoa lau bên trong không thể đủ ấm, nhưng ông không hề dám hé môi than-phiền.
Một hôm đẩy xe cho Cha dạo chơi, vì quá rét lạnh nên tay chân Mẫn-Tử-Khiên cóng lại và bị xẩy tay kéo.  Cha ông nhìn lại mới biết ra là người kế mẫu đã ác nghiệt để con riêng mình rét lạnh.  Định đuổi ngay người đàn bà ấy đi.  Nhưng Mẫn-Tử-Khiên đã khóc lóc van xin Cha và giải bày rằng: “khi còn bà kế-mẫu trong nhà, thì chỉ một mình con rét lạnh. Nếu bà bị đuổi đi thì hai người em kia của con sẽ chịu rét và khổ lây thêm”.
Người Cha nghe con nói vô cùng xúc động nên nguôi giận.  Còn người dì ghẻ của ông biết chuyện, hiểu rõ lòng hiếu-thảo và tình-thương-yêu của Mẫn-Tử-Khiên đối với hai em cùng Cha khác Mẹ.  Bà suy nghĩ và tự hổ-thẹn là đã ăn ở không phải lẽ.  Từ đó bà thay đổi cách cư-xử với con chồng.
Qua câu truyện ngắn trên, chúng ta thấy lòng hiếu-thảo và tình-thương có thể thay đổi được hoàn cảnh gia-đình một cách êm đẹp.  Theo tác-giả Nhất-Thanh Vũ-Văn-Khiếu trong cuốn sách “Đất Lề Quê Thói” đã nhận định về đạo-hiếu theo quan-điểm xưa như sau:
“Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết.
Thời suy ra trăm nết đều nên.”
Diễn nghĩa là: xét cho cùng những kẻ bất hiếu, bất trung, không tốt với Cha-Mẹ, chắc hẳn không thể tốt với người khác được.  Hơn nữa, những kẻ này sẽ là tấm gương xấu cho con cái họ đi theo.  Người xưa thường bảo: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”.
“Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đãn khán thiềm đầu thủy,
Điểm điểm trích trích bất sai di”.
Có nghĩa là:
“Nếu mình hiếu với Mẹ-Cha,
Mai sau con hiếu với ta khác gì.
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con thảo làm gì uổng công.
Kìa xem giọt nước xuôi dòng,
Giọt sau, giọt trước cũng đồng một nơi.”
Nho học xưa có một quan niệm rất nghiêm khắc về đạo hiếu: lúc nhỏ, lúc lớn, lúc già không một ngày được quyền sao lãng đạo làm con.  Còn nhỏ thì một niềm kính cẩn, vâng lời hầu hạ.  Lúc khôn lớn ra đời làm ăn thì lo phụng dưỡng báo hiếu Mẹ-Cha.
Nền âm nhạc Việt-Nam từ  thập-niên 50 có những bài hát như “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của Dương-Thiệu-Tước, được mở đầu bằng câu: “Uống nước nhớ nguồn.  Làm con phải hiếu. Công Cha như núi Thái-Sơn.  Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.  Hoặc bài “Lòng Mẹ” của Y-Vân: “Lòng Mẹ bao la như biển Thái-Bình dạt dào”…  là một sự kiện đáng lưu-ý trong đời sống giáo-dục gia-đình của người Việt-Nam về đạo làm con.
Người theo đạo Thiên-Chúa cũng phải thuộc nằm lòng một trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, đó là điều răn thứ bốn: “Thảo-Kính với Cha-Mẹ”.  Trong “Huấn Ca Đạo Hiếu” có phần ghi rằng:
“… Ai thờ Cha thì bù đắp lỗi lầm
Ai kính Mẹ thì tích-trữ kho báu.

Hãy thảo-kính Cha-Mẹ con bằng lời nói việc làm.
Để nhờ các Ngài mà con được chúc phúc.
Vì phúc lành của người Cha
Làm cho cửa nhà con cái bền vững.

Chớ vênh vang khi Cha con phải tủi nhục,
Vì nỗi tủi nhục đó chẳng vinh-dự gì cho con.
Quả thật, người ta chỉ vẻ vang
Lúc Cha mình được tôn kính;
Và con cái phải ô-nhục khi Mẹ mình bị khinh-chê…”
 (Huấn-Ca: chương 3, câu 1 đến câu 16).
Trong kho-tàng Ca-Dao Việt-Nam, có mô tả về sinh-hoạt của dân gian như sau:
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…
… Tháng Sáu buôn nhãn bán trâm,
Tháng Bảy, ngày Rằm xá-tội-vong-nhân”.


Rằm tháng Bảy (Âm-Lịch) hằng năm chính là ngày lễ Vu-Lan.  “Xá-tội-vong-nhân” nhằm nhắc đến tấm gương báo hiếu, cứu Mẹ của tôn-giả Mục-Kiền-Liên, sự  tích này xuất phát từ Kinh Vu-Lan-Bồn vào thời Đức Phật còn tại-thế ở Ấn-Độ.  Kinh này nói lên chuyện tôn-giả Mục-Kiền-Liên nhờ vâng lời Phật dậy đã thỉnh-cầu Chư-Tăng mười phương chú-nguyện, cầu siêu, tịnh-độ cho Mẹ mình là bà Thanh-Đề vào dịp Rằm tháng Bảy.  Nhờ vậy mà bà đã thoát khỏi cảnh ngạ-quỷ, khổ-ải trầm-luân.
Người Phật-Tử thường noi gương Mục-Kiền-Liên báo đáp công Cha, nghĩa Mẹ dù đã qua đời hay còn tại thế như ca-dao ngàn xưa truyền dạy rằng:
“ Cha già là Phật-Thích-Ca
Mẹ già như thể Phật-Bà-Quan-Âm
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lên Chùa lạy Phật đền ơn sinh-thành”. 
Những thời-gian về Việt-Nam làm phim tài-liệu hoặc trên bước đường chia xẻ thình-thương đến người già, trẻ em tàn tật, Thương-Phế-Binh Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa… Hạnh-phúc mà tôi tìm lại được là đi đến các cửa tiệm; nơi bán sách cũ.  Kiếm tìm những tác-phẩm văn-học trước 1975 với mọi chủ-đề về nhân-văn, xã-hội, tôn-giáo, công-dân giáo-dục, đạo-lý người xưa v.v… tất cả đã rách bìa, màu giấy ngả vàng mà sao thật quý giá.   Tôi đi tìm những báu vật này như câu chuyện Dương-Phủ đời nhà Minh đi tìm Phật.
Thờì ấy, Dương-Phủ thi đỗ tiến-sĩ, làm tới chức Ngự-Sử, nổi tiếng là vị quan thanh-liêm, chính-trực.  Thuở bé, vì nhà rất nghèo. Ông phải ra sức cầy cấy, chân lấm tay bùn để cung-dưỡng cho song-thân.  Khi lớn lên, vì có lòng mộ đạo.  Ông xin phép Mẹ-Cha tìm đến vùng đất Thục để được học-đạo vì nơi đó có một đạo-sĩ uyên-thâm Phật pháp tên là Võ-Tế.  Đi được nửa đường, Dương-Phủ gặp một vị lão tăng.  Biết ý định của Dương-Phủ là đang đi tìm Võ-Tế để học đạo, lão tăng liền bảo:  “Gặp Võ-Tế sao bằng gặp được Phật!” Dương-Phủ rất mừng, hỏi xem cách nào gặp được Phật thì lão tăng chỉ dẫn là:
“Đừng đi đâu xa cho mất công.  Thí-Chủ cứ quay về nhà, thấy người nào đi dép ngược, quần áo xốc xếch, hình dạng tất-tả thì đó chính là Phật.”
Nghe lời đạo-sĩ quay trở về. Trong khi đi đường ông chú-ý nhưng chẳng thấy người nào đúng như hình-dáng lão-tăng đã tả, dần dần về tới nhà lúc nào không hay.  Lúc đó Trời đã khuya, Dương-Phủ vừa lên tiếng gọi cửa thì Mẹ ông chạy ra.  Vì quá vội mừng con trở về; người Mẹ đi ngược cả dép, quần áo xốc-xếch, cử chỉ tất-tả mừng mừng tủi tủi giống y như lời lão-tăng  đã chỉ dẫn.
Dương-Phủ đứng ngẩn người ra nhìn, hiểu ngay đó chính là Đức Phật từ-bi mà lão-tăng muốn mình thờ-phụng.  Từ đó trở đi ông tu tại-gia thờ kính Mẹ-Cha như là Phật vậy.  Không cần phải lặn lội đường xa hay cầu kỳ học đạo nữa.
Theo Tăng-Tử thì: “Hiếu-Thảo là đức hạnh đứng đầu trăm đức-hạnh.  Lòng hiếu-thảo mà thấu đến Trời thì gió mưa hòa-thuận.  Lòng hiếu thảo mà thấu đến đất thì muôn vật sinh sôi.  Lòng hiếu-thảo thấu đến người thì các điều phước đều tuôn đến”.
Riêng với Mạnh-Tử, Ngài đã phán-quyết rằng: “Theo thế-tục có năm tội bất hiếu là: Tay chân lười biếng, không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng Mẹ-Cha; là một tội bất hiếu.  Thích cờ bạc, rượu chè, bỏ bê Cha-Mẹ; là hai tội bất hiếu.  Ham tiền tài của cải vật-chất không ngó ngàng đến Mẹ-Cha là ba tội bất hiếu. Theo đuổi, ham muốn của tai mắt, dục-vọng bản thân; làm cho Cha-Mẹ mang nhục; là bốn tội bất hiếu. Thích hung-hăng tranh hơn thua địa-vị thế-gian làm liên-lụy đến Mẹ-Cha là năm tội bất hiếu”.
Ai trong chúng ta dường như cũng am hiểu chữ “Đạo” không có ý-nghĩa liên quan đến tín-ngưỡng tôn-giáo.  Theo thuần-ý “Đạo” là “Con Đường”.  “Tu” không có nghĩa là phải cạo đầu vào Chùa hay khoác áo Dòng, áo Triều…  Mà “Tu” có nghĩa là “Sửa”. 
Khổng-Tử cũng đã dạy rằng: “Có lỗi mà không sửa, thì đúng là có lỗi vậy!”
Trở lại với chữ “Đạo” và chữ “Tu”.  Ca-dao Việt-Nam từ ngàn xưa vẫn dạy rằng:
“Tu” đâu cho bằng “Tu” nhà.
Thờ Cha kính Mẹ ấy là “Đạo” con.
Thân-Phụ-Mẫu của tôi đã qua đời hơn mười năm qua.  Ngày giỗ hai Vị thường rơi vào mùa lễ Vu-Lan báo hiếu.  Tôi lại nhớ đến lời Đức Phật dậy trong kinh “Đại-Báo-Phụ-Mẫu-Trọng-Ân”, là phải thực-hiện sáu bổn-phận để báo đáp phần nào công-ơn sinh-dưỡng:
1/ Giữ gìn Tam-Quy, Ngũ-Giới.
2/ Thường học-hỏi và tụng đọc các Kinh-Điển.
3/ Siêng năng lễ Phật Sám-Hối.
4/ Chí-thành phụng-sự Tam-Bảo.
5/ Bố-thí, làm phước, hồi-hướng công-đức cho Cha-Mẹ
6/ Cúng-dường thập-phương-tăng trong ngày Vu-Lan Tự-Tứ.
Tôi cũng ao ước rằng “Đạo Làm Con” trong mỗi người chúng-ta gắn liền với cuộc sống hiện thực; cho dẫu đời tạm này có trùng trùng nhiễu-nhương,  trăm công, nghìn chuyện.  Cho dẫu lòng người thay trắng, đổi đen.  Tình nhân-ái có thu ngắn trong một diện-tích giới-hạn nào hoặc sự bao-dung có khan hiếm như lá mùa Thu.  “Chân-Quê” tôi vẫn nguyện noi theo tấm gương hiếu-hạnh như trong câu chuyện “Nam Hải Quan-Âm”:
“Chân như đạo Phật rất màu,
Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân.
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.
Tinh-thông nghìn mắt, nghìn tay.
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Xem trong biển nước Nam ta,
Phổ Môn có Đức Phật-Bà-Quan-Âm.”
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.  Viết cho Mùa Vu-Lan năm 2010 (Dương-Lịch) Sẽ được chuyển dịch qua Anh-Ngữ nhằm viết cho những Thế-Hệ Trẻ Việt-Nam nối tiếp).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gần đây, theo tin từ báo chí trong nước loan đi, thì trong một cuộc nói chuyện với giới truyền thông,về vấn nạn tham nhũng tràn lan và việc vô tài cán của cán bô quản lý trong chế độ hiện hành, cũng như việc nhà nước Việt nam hiện nay không thể đối phó thích đáng trước những hành vi ngang ngược của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa,
Tối trước ngày bầu cử tôi mới bắt đầu đánh ô bầu chọn. Từ nhiều năm qua tôi và nhà tôi chọn cách bầu qua bưu điện nên lá phiếu được gửi đến nhà từ vài tuần trước. Nhưng chúng tôi không bầu chọn và gửi phiếu đi ngay vì cần thêm thời gian để tìm hiểu về các ứng viên.
(Trích Quê Hương Còn Đó trong Tuyển Tập Trần Phong Vũ do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành và sẽ được tổ chức giới thiệu ở Trung Tậm Công Giáo Việt Nam Giáo phận Orange lúc 2 giờ chiều Chúa Nhật 11-11-2012.)
Lời mở đầu: Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, người mà tôi đã được hội kiến mùa Hè 2011 vừa qua tại Little Sài Gòn năm 2011 mừng Lễ Sinh Nhật Thượng Thọ 80 tuổi trong tháng 11-2012. Nhân dịp Mừng Lễ Sinh Nhật Thượng Thọ 80 tuổi của Giáo Sư tôi mạn phép phổ biến lại bài tôi đã viết năm 2010 với chủ đề "Tôn Sư Trọng Đạo".
Tôi nhớ đã đọc được ở đâu đó một câu thơ viết về người tù “Mười năm còn quen ngồi một mình trong bóng tối” và chạnh nhớ đến thi sĩ Phùng Cung. Khi đang thụ án 12 năm tù vì một bài viết đăng trên Nhân Văn Giai Phẩm; một đêm, Phùng Cung bỗng sững sờ vì bắt gặp ánh trăng len qua các song sắt vào thăm mình.
Hồi nhỏ, tôi nhát ma lắm, nhất là từ lúc Mẹ tôi giận Thầy tôi (Tôi gọi bố mẹ bằng Thầy, Me) linh tinh sao đó, nên đùng đùng kéo sáu đứa con từ Hà Nội về Bùi Chu. Anh em chúng tôi phải bỏ ngôi nhà to đùng hai tầng ở phố Khâm Thiên, có cái cầu thang bằng đồng ở giữa nhà, nơi tôi lẫm chẫm đứng vịn và chỉ tay ra ngoài đường: “Phở! Phở!” mà về căn nhà số 1 đường Phạm Ngọc Chi, Bùi Chu.
...Mỹ đã rơi vào tình trạng phân hóa mạnh nhất trong lịch sử cận đại...
Chỉ sau khoảng vài ngày lắng đọng kể từ diễn văn của Tổng Bí Thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng kết thúc Hội nghị Trung ương 6, hầu hết các nhà phân tích, bình luận đã gạt qua bên các điểm mang tính trang điểm khác để tập trung vào hệ quả lớn nhất của Hội nghị Trung ương đảng 6, đó là hiện tượng không còn thế lực nào đủ sức đối đầu với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Hôm 24 tháng 5 vừa qua, tôi có đọc trên trang pro&contra một đoạn văn ngắn – hơi buồn – của nhà văn Phạm Thị Hoài viết cho (và viết về) “cuộc đọ sức” của Người Buôn Gió, cùng những người đồng cảnh:
Đảng Cộng sản TQ sắp họp đại hội lần thứ 18, sẽ khai mạc vào sáng ngày 8-11 tới. Cứ qua 2 đại hội, nghĩa là 10 năm, đảng lại thay một thế hệ lãnh đạo, thay một loạt các nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và bộ máy nhà nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.