Hôm nay,  

Đạo Làm Con

27/07/201000:00:00(Xem: 8472)

Đạo Làm Con 
               
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc
Những bài học ngày xưa trong trường học thời Đệ Nhị Cộng-Hòa về đạo làm con mà tôi còn nhớ đó là “Nhị Thập Tứ Hiếu”, nói về gương hiếu-thảo của hai mươi bốn người con đối với Cha-Mẹ.  Tác-phẩm này được một học-giả sống vào thời nhà Nguyên, tên là Quách-Cư-Nghiệp viết kể lại bằng chữ Hán.  Ở nước ta, một công-thần nhà Nguyễn là ông Lý-Văn-Phức  (trải qua ba triều vua Minh-Mạng, Thiệu-Trị và Tự-Đức) đã diễn ra Quốc-Âm thành một truyện thơ, viết theo thể “song-thất-lục-bát”;  (trình-tự: hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ)
Đây là những bài học mà học-trò thời ấy (trong đó có tôi) phải thuộc lòng trong môn “Cổ-Văn”.  Còn “Kim-Văn” là những truyện ngắn viết theo thể văn xuôi.  Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ bài thơ nói về nhân vật “Mẫn-Tử-Khiên”:
Thầy Mẫn-Tử rất đường hiếu-nghĩa.
Xét nhà huyên* quạnh quẽ đã lâu,
Thờ Cha sớm viếng khuya hầu,
Chẳng may gặp phải Mẹ sau nồng nàn,
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời kép áo dầy bông,
Chẳng thương chút phận long-đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
Khi Cha dạo theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
Gạt nước mắt chân quỳ miệng gửi:
“Lạy Cha xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống để cơ-hàn cả ba”.
Cha trông xuống cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe lời cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu-cảm nên từ,
Thắm lâu như đá cũng rừ lọ ai”.
(*Nhà huyên: nghĩa là Mẹ).
Đây là câu chuyện nói về một học trò của Khổng-Tử, tên Mẫn-Tử-Khiên, sinh vào đời Xuân-Thu. Mẹ ông mất sớm, Cha ông lấy vợ kế, sinh được hai người con.  Người dì ghẻ đối với ông vô cùng cay độc, nhưng ông vẫn một lòng hiếu thuận.  Vào mùa đông giá rét, hai con riêng của bà được mặc áo ấm lót bông.  Còn Mẫn-Tử-Khiên thì bà cho mặc áo độn hoa lau bên trong không thể đủ ấm, nhưng ông không hề dám hé môi than-phiền.
Một hôm đẩy xe cho Cha dạo chơi, vì quá rét lạnh nên tay chân Mẫn-Tử-Khiên cóng lại và bị xẩy tay kéo.  Cha ông nhìn lại mới biết ra là người kế mẫu đã ác nghiệt để con riêng mình rét lạnh.  Định đuổi ngay người đàn bà ấy đi.  Nhưng Mẫn-Tử-Khiên đã khóc lóc van xin Cha và giải bày rằng: “khi còn bà kế-mẫu trong nhà, thì chỉ một mình con rét lạnh. Nếu bà bị đuổi đi thì hai người em kia của con sẽ chịu rét và khổ lây thêm”.
Người Cha nghe con nói vô cùng xúc động nên nguôi giận.  Còn người dì ghẻ của ông biết chuyện, hiểu rõ lòng hiếu-thảo và tình-thương-yêu của Mẫn-Tử-Khiên đối với hai em cùng Cha khác Mẹ.  Bà suy nghĩ và tự hổ-thẹn là đã ăn ở không phải lẽ.  Từ đó bà thay đổi cách cư-xử với con chồng.
Qua câu truyện ngắn trên, chúng ta thấy lòng hiếu-thảo và tình-thương có thể thay đổi được hoàn cảnh gia-đình một cách êm đẹp.  Theo tác-giả Nhất-Thanh Vũ-Văn-Khiếu trong cuốn sách “Đất Lề Quê Thói” đã nhận định về đạo-hiếu theo quan-điểm xưa như sau:
“Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết.
Thời suy ra trăm nết đều nên.”
Diễn nghĩa là: xét cho cùng những kẻ bất hiếu, bất trung, không tốt với Cha-Mẹ, chắc hẳn không thể tốt với người khác được.  Hơn nữa, những kẻ này sẽ là tấm gương xấu cho con cái họ đi theo.  Người xưa thường bảo: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”.
“Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử,
Ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.
Bất tín đãn khán thiềm đầu thủy,
Điểm điểm trích trích bất sai di”.
Có nghĩa là:
“Nếu mình hiếu với Mẹ-Cha,
Mai sau con hiếu với ta khác gì.
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con thảo làm gì uổng công.
Kìa xem giọt nước xuôi dòng,
Giọt sau, giọt trước cũng đồng một nơi.”
Nho học xưa có một quan niệm rất nghiêm khắc về đạo hiếu: lúc nhỏ, lúc lớn, lúc già không một ngày được quyền sao lãng đạo làm con.  Còn nhỏ thì một niềm kính cẩn, vâng lời hầu hạ.  Lúc khôn lớn ra đời làm ăn thì lo phụng dưỡng báo hiếu Mẹ-Cha.
Nền âm nhạc Việt-Nam từ  thập-niên 50 có những bài hát như “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của Dương-Thiệu-Tước, được mở đầu bằng câu: “Uống nước nhớ nguồn.  Làm con phải hiếu. Công Cha như núi Thái-Sơn.  Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.  Hoặc bài “Lòng Mẹ” của Y-Vân: “Lòng Mẹ bao la như biển Thái-Bình dạt dào”…  là một sự kiện đáng lưu-ý trong đời sống giáo-dục gia-đình của người Việt-Nam về đạo làm con.
Người theo đạo Thiên-Chúa cũng phải thuộc nằm lòng một trong mười điều răn của Đức Chúa Trời, đó là điều răn thứ bốn: “Thảo-Kính với Cha-Mẹ”.  Trong “Huấn Ca Đạo Hiếu” có phần ghi rằng:
“… Ai thờ Cha thì bù đắp lỗi lầm
Ai kính Mẹ thì tích-trữ kho báu.

Hãy thảo-kính Cha-Mẹ con bằng lời nói việc làm.
Để nhờ các Ngài mà con được chúc phúc.
Vì phúc lành của người Cha
Làm cho cửa nhà con cái bền vững.

Chớ vênh vang khi Cha con phải tủi nhục,
Vì nỗi tủi nhục đó chẳng vinh-dự gì cho con.
Quả thật, người ta chỉ vẻ vang
Lúc Cha mình được tôn kính;
Và con cái phải ô-nhục khi Mẹ mình bị khinh-chê…”
 (Huấn-Ca: chương 3, câu 1 đến câu 16).
Trong kho-tàng Ca-Dao Việt-Nam, có mô tả về sinh-hoạt của dân gian như sau:
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…
… Tháng Sáu buôn nhãn bán trâm,
Tháng Bảy, ngày Rằm xá-tội-vong-nhân”.


Rằm tháng Bảy (Âm-Lịch) hằng năm chính là ngày lễ Vu-Lan.  “Xá-tội-vong-nhân” nhằm nhắc đến tấm gương báo hiếu, cứu Mẹ của tôn-giả Mục-Kiền-Liên, sự  tích này xuất phát từ Kinh Vu-Lan-Bồn vào thời Đức Phật còn tại-thế ở Ấn-Độ.  Kinh này nói lên chuyện tôn-giả Mục-Kiền-Liên nhờ vâng lời Phật dậy đã thỉnh-cầu Chư-Tăng mười phương chú-nguyện, cầu siêu, tịnh-độ cho Mẹ mình là bà Thanh-Đề vào dịp Rằm tháng Bảy.  Nhờ vậy mà bà đã thoát khỏi cảnh ngạ-quỷ, khổ-ải trầm-luân.
Người Phật-Tử thường noi gương Mục-Kiền-Liên báo đáp công Cha, nghĩa Mẹ dù đã qua đời hay còn tại thế như ca-dao ngàn xưa truyền dạy rằng:
“ Cha già là Phật-Thích-Ca
Mẹ già như thể Phật-Bà-Quan-Âm
Nhớ ngày xá tội vong nhân
Lên Chùa lạy Phật đền ơn sinh-thành”. 
Những thời-gian về Việt-Nam làm phim tài-liệu hoặc trên bước đường chia xẻ thình-thương đến người già, trẻ em tàn tật, Thương-Phế-Binh Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa… Hạnh-phúc mà tôi tìm lại được là đi đến các cửa tiệm; nơi bán sách cũ.  Kiếm tìm những tác-phẩm văn-học trước 1975 với mọi chủ-đề về nhân-văn, xã-hội, tôn-giáo, công-dân giáo-dục, đạo-lý người xưa v.v… tất cả đã rách bìa, màu giấy ngả vàng mà sao thật quý giá.   Tôi đi tìm những báu vật này như câu chuyện Dương-Phủ đời nhà Minh đi tìm Phật.
Thờì ấy, Dương-Phủ thi đỗ tiến-sĩ, làm tới chức Ngự-Sử, nổi tiếng là vị quan thanh-liêm, chính-trực.  Thuở bé, vì nhà rất nghèo. Ông phải ra sức cầy cấy, chân lấm tay bùn để cung-dưỡng cho song-thân.  Khi lớn lên, vì có lòng mộ đạo.  Ông xin phép Mẹ-Cha tìm đến vùng đất Thục để được học-đạo vì nơi đó có một đạo-sĩ uyên-thâm Phật pháp tên là Võ-Tế.  Đi được nửa đường, Dương-Phủ gặp một vị lão tăng.  Biết ý định của Dương-Phủ là đang đi tìm Võ-Tế để học đạo, lão tăng liền bảo:  “Gặp Võ-Tế sao bằng gặp được Phật!” Dương-Phủ rất mừng, hỏi xem cách nào gặp được Phật thì lão tăng chỉ dẫn là:
“Đừng đi đâu xa cho mất công.  Thí-Chủ cứ quay về nhà, thấy người nào đi dép ngược, quần áo xốc xếch, hình dạng tất-tả thì đó chính là Phật.”
Nghe lời đạo-sĩ quay trở về. Trong khi đi đường ông chú-ý nhưng chẳng thấy người nào đúng như hình-dáng lão-tăng đã tả, dần dần về tới nhà lúc nào không hay.  Lúc đó Trời đã khuya, Dương-Phủ vừa lên tiếng gọi cửa thì Mẹ ông chạy ra.  Vì quá vội mừng con trở về; người Mẹ đi ngược cả dép, quần áo xốc-xếch, cử chỉ tất-tả mừng mừng tủi tủi giống y như lời lão-tăng  đã chỉ dẫn.
Dương-Phủ đứng ngẩn người ra nhìn, hiểu ngay đó chính là Đức Phật từ-bi mà lão-tăng muốn mình thờ-phụng.  Từ đó trở đi ông tu tại-gia thờ kính Mẹ-Cha như là Phật vậy.  Không cần phải lặn lội đường xa hay cầu kỳ học đạo nữa.
Theo Tăng-Tử thì: “Hiếu-Thảo là đức hạnh đứng đầu trăm đức-hạnh.  Lòng hiếu-thảo mà thấu đến Trời thì gió mưa hòa-thuận.  Lòng hiếu thảo mà thấu đến đất thì muôn vật sinh sôi.  Lòng hiếu-thảo thấu đến người thì các điều phước đều tuôn đến”.
Riêng với Mạnh-Tử, Ngài đã phán-quyết rằng: “Theo thế-tục có năm tội bất hiếu là: Tay chân lười biếng, không đoái hoài đến việc nuôi dưỡng Mẹ-Cha; là một tội bất hiếu.  Thích cờ bạc, rượu chè, bỏ bê Cha-Mẹ; là hai tội bất hiếu.  Ham tiền tài của cải vật-chất không ngó ngàng đến Mẹ-Cha là ba tội bất hiếu. Theo đuổi, ham muốn của tai mắt, dục-vọng bản thân; làm cho Cha-Mẹ mang nhục; là bốn tội bất hiếu. Thích hung-hăng tranh hơn thua địa-vị thế-gian làm liên-lụy đến Mẹ-Cha là năm tội bất hiếu”.
Ai trong chúng ta dường như cũng am hiểu chữ “Đạo” không có ý-nghĩa liên quan đến tín-ngưỡng tôn-giáo.  Theo thuần-ý “Đạo” là “Con Đường”.  “Tu” không có nghĩa là phải cạo đầu vào Chùa hay khoác áo Dòng, áo Triều…  Mà “Tu” có nghĩa là “Sửa”. 
Khổng-Tử cũng đã dạy rằng: “Có lỗi mà không sửa, thì đúng là có lỗi vậy!”
Trở lại với chữ “Đạo” và chữ “Tu”.  Ca-dao Việt-Nam từ ngàn xưa vẫn dạy rằng:
“Tu” đâu cho bằng “Tu” nhà.
Thờ Cha kính Mẹ ấy là “Đạo” con.
Thân-Phụ-Mẫu của tôi đã qua đời hơn mười năm qua.  Ngày giỗ hai Vị thường rơi vào mùa lễ Vu-Lan báo hiếu.  Tôi lại nhớ đến lời Đức Phật dậy trong kinh “Đại-Báo-Phụ-Mẫu-Trọng-Ân”, là phải thực-hiện sáu bổn-phận để báo đáp phần nào công-ơn sinh-dưỡng:
1/ Giữ gìn Tam-Quy, Ngũ-Giới.
2/ Thường học-hỏi và tụng đọc các Kinh-Điển.
3/ Siêng năng lễ Phật Sám-Hối.
4/ Chí-thành phụng-sự Tam-Bảo.
5/ Bố-thí, làm phước, hồi-hướng công-đức cho Cha-Mẹ
6/ Cúng-dường thập-phương-tăng trong ngày Vu-Lan Tự-Tứ.
Tôi cũng ao ước rằng “Đạo Làm Con” trong mỗi người chúng-ta gắn liền với cuộc sống hiện thực; cho dẫu đời tạm này có trùng trùng nhiễu-nhương,  trăm công, nghìn chuyện.  Cho dẫu lòng người thay trắng, đổi đen.  Tình nhân-ái có thu ngắn trong một diện-tích giới-hạn nào hoặc sự bao-dung có khan hiếm như lá mùa Thu.  “Chân-Quê” tôi vẫn nguyện noi theo tấm gương hiếu-hạnh như trong câu chuyện “Nam Hải Quan-Âm”:
“Chân như đạo Phật rất màu,
Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân.
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.
Tinh-thông nghìn mắt, nghìn tay.
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Xem trong biển nước Nam ta,
Phổ Môn có Đức Phật-Bà-Quan-Âm.”
Chân-Quê: Diamond Bích-Ngọc.  Viết cho Mùa Vu-Lan năm 2010 (Dương-Lịch) Sẽ được chuyển dịch qua Anh-Ngữ nhằm viết cho những Thế-Hệ Trẻ Việt-Nam nối tiếp).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.