Hôm nay,  

Tôi Và Bố

16/06/200700:00:00(Xem: 12189)

Tôi lớn lên trong thời Đệ Nhị Cộng-Hòa, Bố tôi là một viên-chức về hành chánh của Bộ-Nội-Vụ, trụ sở ông làm việc nằm ở góc đường Nguyễn-Du và Tự-Do (bây giờ đổi tên là Đồng-Khởi).  Thưở Mẫu-Giáo và Tiểu-Học, Bố cho tôi theo học ở trường Hòa-Bình, bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà, đối diện Bộ-Nội-Vụ, chắc có lẽ để tiện việc đưa đón tôi.  Sau giờ tan học, Bố thường dẫn tôi vào sở vì ông còn làm việc đến hết giờ mới đưa tôi về nhà để Mẹ tôi lo cơm nước cho gia-đình.

 Trong ký ức tôi vẫn còn nhớ tấm thảm đỏ trải dài suốt dãy hành lang trong sở Bố, nhớ những cái xoa đầu tôi của ông “Xếp” (Boss) Bố là ông Lê-Công-Chất (Thứ-Trưởng Bộ-Nội-Vụ lúc bấy giờ). Nhớ hoài những viên kẹo ngọt, những hộp bánh “Bít-quy” (crackers) của mấy cô, mấy bà thư-ký làm việc cho Bố thường đem cho tôi ăn… Có lẽ vì thế mà tôi thân với Bố từ bé và ít khi nào kể cho Mẹ tôi nghe về những người đẹp trong sở Bố làm… (theo lời Bố dặn).

Đối với Bố tôi, bữa ăn trưa và ăn tối trong gia-đình là điều tối quan trọng không thể thiếu một thành viên nào trong nhà.  Ngày xưa, giờ giấc làm việc của các công-nhân-viên chức Việt-Nam theo chính sách của người Pháp đó là được nghỉ trưa từ 1 đến hai tiếng mỗi ngày.  Bố tôi đã bảo với Mẹ tôi và các chị tôi rằng: “Bà và các con dầu đi đâu cũng phải có mặt đầy đủ trong hai bữa ăn của gia-đình!” … Lời dặn chỉ có thế và mọi người trong nhà đều răm-rắp nghe theo.  Về sau này khi lớn lên tôi mới hiểu đó là cách Bố tôi giữ gìn hạnh-phúc gia đình và cũng là cách dễ nhất để ông có thể gần gũi vợ con, vì trong bữa ăn, mọi người đều kể cho nhau nghe về những diễn biến trong ngày, chúng tôi đều phải trình bày những khó khăn trong học-đường và xin ý kiến Bố-Mẹ.  Cũng như Mẹ thường lên kế hoạch để bàn định về những chỗ đi chơi cuối tuần (thí dụ như: đi Cấp, đi lên rẫy ở Long-Khánh hay đi Lái-Thiêu ăn trái cây v.v…) Nhờ vậy mà bây giờ tiền lệ đó đã được tôi áp dụng trong tiểu-gia-đình mình, nhưng chỉ được bữa ăn tối mà thôi vì làm việc ở Hoa-Kỳ không có giờ về nhà để nghỉ trưa.

Thưở lên mười một tuổi, lúc tôi theo học Trường Nữ Trung-Học Trưng-Vương, có lần Bố đưa tôi và Mẹ tôi đi Siêu-Thị ở đường Nguyễn-Du (gần sở Bố) gọi là chợ “P.X”. Hình như thời bấy giờ Saigon chỉ có một siêu-thị duy nhất bán đồ nhập cảng từ Mỹ.  Khi nhìn thấy một chiếc xe đạp mini gấp được làm đôi để có thể bỏ vào “cốp” (trunk) xe hơi, chiếc xe màu bạc óng ánh đã hấp dẫn tôi hơn kẹo sô-cô-la (chocolate), cà-rem (ice cream) hộp và bất cứ thứ gì chung quanh tôi lúc bấy giờ. 

Tôi đã ở lì trong siêu-thị không chịu đi về sau khi Mẹ đã mua xong những thứ cần thiết.  Khi Bố kéo tôi đi, tôi bỗng òa khóc nức nở và chỉ tay vào chiếc xe đạp nói rằng: “Con chỉ đi về khi Bố mua cho con chiếc xe đạp kia thôi!”. Trong đầu óc bé nhỏ của tôi lúc bấy giờ, bao nhiêu là hình ảnh thích thú hiện ra, nếu tự một mình tôi chạy xe (một kiểu xe đạp duy nhất mới có ở nước Việt-Nam thời bấy giờ, các bạn tôi chắc chắn sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu tôi được tự đạp xe đến trường bằng chiếc xe này.  Vì phần lớn nhóm bạn chúng tôi gia-đình ai cũng khá giả, có tài-xế đưa đón và hơn nữa, người lớn đều xem chúng tôi là trẻ nhỏ không được đi học một mình vì sợ bị  “Mẹ Mìn” bắt cóc…)

Tôi còn nhớ phản ứng của Mẹ tôi là mặt bà đỏ bừng lên rồi chạy đến bên tôi ôn tồn bảo: “Con bé hư quá! Nín khóc ngay, không được nhõng nhẽo giữa chợ thế này.  Người ta cười Bố-Mẹ kìa!”.  Đựợc sự vuốt ve của Mẹ, tôi càng khóc lớn hơn vì cảm giác tủi thân chưa được Bố quan-tâm đến.  Tuy khóc nhưng mắt tôi vẫn dõi theo hành động của Bố, tôi thấy Bố đi hỏi giá chiếc xe đạp, sau đó ông quay lại nghiêm nghị bảo với tôi rằng : “Bố sẽ mua cho con với điều kiện là chỉ được chạy sau khi bố tập cho con lái, vì lái xe đạp không phải dễ đâu và con không được tự ý một mình đạp xe ra khỏi khuôn viên nhà, chỉ đạp trong vườn nhà hoặc khi lên rẫy chơi mà thôi, vì lái xe ra đường sẽ rất nguy hiểm”… Tôi gật đầu đồng ý ngay vì nào tôi có nghe rõ những lời Bố dặn, trong tâm thức tôi hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp đã chiếm trọn, miễn làm sao tôi phải có nó bằng được thì tôi mới mãn-nguyện. 

Từ đó, mỗi buổi chiều, sau giờ cơm tối, Bố dạy tôi cách giữ thăng bằng để đạp xe, lúc đầu Bố vịn sau yên cho tôi chạy, rồi dần dần ông buông hẳn tay ra, tôi biết lái ngon lành…  Nhóm bạn thân của tôi gồm chín đứa, vì nhỏ con và học giỏi nên ba đứa ngồi một bàn chiếm ba cái bàn đầu trong lớp, đối diện với Giáo-sư. Thầy-Cô và mọi người vẫn thường gọi đám học trò ồn ào cao ngồng ngồi cuối lớp là “xóm nhà lá”.  Đứa bạn nào của tôi cũng mong mỏi tôi đạp xe đến trường để chúng chiêm ngưỡng và lái thử.  Tôi cố suy nghĩ nát óc để tìm ra phương kế. Thường thì Bố tôi có tài-xế lái xe cho Bố đi làm rồi đưa Bố về nhà ăn trưa và nghỉ trưa, giờ Bố nghỉ trưa là chú tài có nhiệm vụ chở tôi đến trường.  Đến chiều tan học, chú tài đến đón tôi trước rồi mới đón Bố từ sở về nhà tôi ở khu Tân-Định.  Đã đôi lần tôi dò la ý của Bố là tôi muốn được tự lập bằng cách đạp xe đến trường một mình,  Bố đã quắc mắt, gằn giọng bảo: “Con đã hứa với Bố như thế nào trước khi Bố mua xe cho con"”…Thế là tôi im ngay.

Cơ hội ngàn vàng đã đến với tôi, vì buổi trưa hôm ấy sau giờ ăn trưa, Bố tôi vào phòng nghỉ như thường lệ.  Mẹ tôi có công việc phải đi Đà-Lạt vài ngày. Tôi sửa soạn cặp-táp xong chạy xuống phòng trọ của chú tài bên cạnh phòng chị người làm, thấy chị Ba đang cạo gió cho chú tài. Tôi bảo: “Trời ơi! Chú Minh bị trúng gió rồi.  Chú nghỉ ở nhà đi để chút nữa còn đưa Bố đi làm, con đi xe đạp đến trường được rồi!” Cả hai người  đều trợn tròn mắt nhìn tôi.  Chị Ba nói ngay: “Không được đâu cô. Ông dặn tụi tui là coi chừng không cho cô đạp xe ra ngoài đường.” Chú tài mặt đỏ như gấc cũng nói theo: “Có bệnh gì tôi cũng ráng đưa cô Út đi, lỡ ông biết được tôi bị đuổi việc liền!” Tôi mới kể cho chị Ba và chú tài nghe về sự trông đợi của bạn bè tôi đựợc nhìn thấy chiếc xe đạp, nếu không một lần mang đến cho chúng nó xem thì chúng sẽ bảo tôi là thợ vẽ, làm gì có chiếc xe đạp mini bằng sắt mà gấp lại được…

Tôi đem tất cả khả năng “hùng-biện” của mình để thuyết phục hai người. Nhất là hôm ấy tôi biết trước mình được về sớm hai giờ cuối vì Thầy-Cô bận họp. Tôi nói rằng tôi sẽ đạp xe về nhà sớm, chú Minh không cần phải nói với Bố tôi điều gì cả, vì tôi cũng không muốn chú nói dối.  Buổi chiều khi Bố tan sở là tôi đã có mặt ở nhà rồi, sẽ không ai biết gì cả!” Thấy giọng tôi chắc ăn như bắp.  Chú Minh có vẻ xiêu lòng, phần vì chú có vẻ rất mệt.  Chị Ba run lẩy bẩy như sắp làm một chuyện động Trời. Mọi việc thu xếp xong, tôi ung dung đạp xe đến trường một mình lần đầu tiên trong đời, Saigon tháng sáu thường mưa nên hôm ấy Trời không có nắng, tôi rất thận trọng đạp từng vòng xe.  Người đi đường ai cũng nhìn tôi vì chiếc xe quá đặc biệt lần đầu tiên xuất hiện trên đường phố. Tôi nhớ là khi đến trường, tôi đã gởi chiếc xe yêu quý của tôi trong nhà bác lao-công ở trong trường và cho bác ít tiền. 

Đến giờ tan lớp, các bạn tôi xúm-xuýt, trầm trồ bu quanh chiếc xe, tìm cách gấp đôi lại rồi gỡ ra, tôi cho mỗi đứa chạy thử một vòng ở cuối con đường Nguyễn-Bỉnh-Khiêm.  Có đứa không biết đạp cũng đòi dẫn bộ đi cho oai. Con đường ngập xác lá vàng, có những trái “Giáng-Tiên” rơi xuống xoay vòng cầu đẹp như một bức tranh.  Chưa bao giờ tôi thấy mình hạnh-phúc như thế với bạn bè.  Bất thình lình, mây đen kéo tới, tôi quýnh lên từ giã các bạn để còn đạp xe về nhà sớm. 

Theo lộ-trình mỗi ngày chú tài đưa đi, tôi chạy dọc con đường Thống-Nhất (bây giờ đổi tên là Lê-Duẩn), đến đường Hai-Bà-Trưng quẹo tay mặt là sẽ về đến nhà.  Trời bỗng đổ mưa như trút nước, mưa mịt mù phố xá. Lần đầu tiên tôi được tắm mưa, cảm giác lạnh và sợ, tim tôi đập loạn lên nhưng chân vẫn không ngừng đạp.  Đến gần trước Tòa-Đại-Sứ Mỹ, tôi thấy xe mình lao vào một vật cản bằng sắt lù lù trước mặt, một cái “Rầm”, tôi té xuống đường, rách toạt vạt áo dài trắng, tôi thấy máu chảy ra từ cánh tay và rồi, một ông lính Mỹ trong quân-phục, đội nón sắt có chữ: “MP” gác trước cổng Tòa-Đại-Sứ chạy nhào tới bế xốc tôi lên, tôi bất tỉnh ngay lúc đó…    

Tôi bị sốt mê man mấy ngày liền, lúc lơ mơ tỉnh dậy  thấy Mẹ và Bố, sợ quá tôi lại ngất đi, không ăn uống gì được, Bố phải đưa tôi vào bệnh-viện “Đồn-Đất” để được tiếp nước biển cho tôi.  Bác-Sĩ người Pháp nói rằng tôi bị “Thương Hàn”. Một tháng trời tôi phải nằm viện, bỏ học vì cơn đau “thập tử nhất sinh”. Mẹ tôi cầu Trời, khấn Phật ngày đêm.  Bố tôi xanh xao vì lo lắng, ông cũng mất ăn, mất ngủ vì thương tôi quá…

Cuối cùng, tôi khỏi bệnh.  Ngày xuất viện về nhà, Bố mua cho tôi một bó hoa “Tulip” màu vàng rất đẹp, không một ai dám nhắc đến cái tai-nạn “chiếc xe mini gấp của tôi”. Chú tài-xế Minh không bị đuổi việc và chị Ba vẫn là người làm trong nhà. Khi ra nước ngoài, chị tôi mới kể rằng lúc bấy giờ, Bác-Sĩ cấm mọi người trong nhà nhắc đến chuyện đó! Bắt buộc những sinh-hoạt phải bình thường như trước lúc tôi gặp tai-nạn.

Đến năm 1981, Bố lo cho tôi đi vượt biển, tàu tôi may mắn được dàn khoan cứu vớt, tôi qua Úc định cư rồi vài năm sau, tôi lo thủ tục bảo lãnh cho Bố-Mẹ, các chị cùng đoàn tụ gia-đình. Suốt thời gian này tôi được dịp phụng-dưỡng Bố Mẹ để đáp đền phần nào tình-thương mà hai đấng Phụ-Mẫu đã dành cho tôi.

Sau này tôi qua Mỹ định-cư vì tư tưởng luôn tìm tòi, mạo hiểm và thích khám phá tôi đi chu du nhiều nơi trên thế-giới.  Lúc hay tin Mẹ lâm bệnh, tôi đã bay trở lại Úc để lo cho Mẹ tôi đến ngày bà nhắm mắt. Bố ở với các chị, tôi phải quay về Mỹ, vì lúc ấy tôi đã có gia-đình.  Đúng một năm sau ngày Mẹ mất. Một buổi chiều, đầu tháng tám, tôi nhận điện thoại từ Úc, hung tin báo rằng Bố tôi đang hấp hối, tôi xin bên nhà một bức điện thư của bệnh-viện chứng nhận để ra phi-trường được mua vé khẩn bay ngay đêm hôm ấy.  Bố tôi nhắm mắt lúc tôi đang bay ở trên Trời. 

Tới Phi-Trường Melbourne, làm thủ tục nhập cảnh xong , tôi bước ra ngoài gặp ngay một tiệm bán hoa.  Duy nhất một bó “Tulip” vàng nằm trong chậu xen lẫn với những bó hoa Hồng, LyLy, Cúc trắng… Nước mắt bỗng tuôn trào, tôi đến mua ngay bó hoa “Tulip” vàng ấy. Thuê xe tôi lái thẳng đến bệnh-viện, tôi đọc kinh suốt đoạn đường dài, đầu nhức như búa bổ, nhưng sao hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp trong chợ “PX” năm nào hiện ra rất rõ.  Rồi đến khuôn mặt đỏ bừng của Mẹ khi tôi làm nũng, rồi đến hình ảnh Bố, cái nhìn nghiêm khắc nhưng đầy trìu mến của Bố bao trùm lấy tôi…

Đến cửa bệnh-viện, tôi mệt gần muốn xỉu.  Người ta cho biết xác Bố tôi đã được đưa vào phòng lạnh.  Tôi khóc ngất, đòi được nhìn xác Bố.   Các nhân-viên phải làm thủ tục ngay vì biết tôi mới từ Mỹ bay về.  Mười phút sau, một người y-tá dẫn tôi đi qua một hành lang dài hun hút im lìm hai dẫy phòng trắng toát màu vôi.  Tôi chợt nhớ đến dãy hành lang trải thảm đỏ trong sở Bố ngày xưa. Mắt tôi cay xé, đến trước một căn phòng với cánh cửa sắt thật dầy (có lẽ để giữ được độ lạnh phía bên trong), người y-tá khó khăn lắm mới đẩy được cánh cửa để đưa tôi vào. 

Một Thế-giới khác!  Lạnh toát và thật xa lạ, Bố tôi nằm thanh thản như ngủ trên một chiếc giường cũng bằng sắt lạnh, hai tay chắp trước ngực.  Đó là giấc ngủ ngàn thu của Bố, tôi xin người y-tá ra ngoài cho tôi được một mình với Bố.  Ông ta hỏi lại tôi bằng tiếng Anh: “Are you sure"” Tôi gật đầu bảo chỉ vài phút thôi.  Cánh cửa đóng lại sau khi người y-tá bước ra, tôi ôm chầm lấy xác Bố mà khóc nức nở.  Tôi ước gì những giọt nước mắt nóng của mình sẽ làm ấm lại thân thể đóng băng của Bố tôi.  Tôi đặt bó hoa “Tulip” vàng gọn gàng trên ngực Bố.

Bó hoa “Tulip” vàng được liệm cùng xác Bố tôi, thay cho lời tạ lỗi mà tôi không có dịp để tỏ bày khi Bố còn sống về vụ việc năm xưa.

Bây giờ ở Hoa-Kỳ, mỗi khi ngày Lễ Father’s Day đến, tôi đều tìm mua một tấm thiệp có hình hoa “Tulip” vàng đề vào đó ba chữ: “Con Yêu Bố!” rồi đốt đi như gửi vào đất, vào gió tình của tôi và Bố./.

(www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đức Huỳnh Phú Sổ sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc ngày 15/1/1920, nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi, gần 100 năm trước.
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Chả việc gì phải “nhậy cảm” đến thế đâu, ông B.S ạ. Bên giới dược họ còn bán cả đến thuốc giả nữa cơ mà đã có sao đâu. Bà Kim Tiến vẫn hạ cánh an toàn đấy thôi.
Ban Tuyên giáo của đảng cộng sản Quận Hai Bà Trưng, Hà nội, hôm cuối tháng 11/2019 vừa rồi, họp đảng để kiểm điểm hiệu quả của khả năng đảng ở Thủ đô chống thế lực thù địch trên mạng xã hội.
Hôm qua, vừa nhận được một lá thư của một em cựu sanh viên Trường Luật từ trong nước viết cho cho ông thầy cũ … Xin phép em, cho phép được đăng tải nôi dung để chia sẻ những nhận định quý hóa và trung thực của em cùng quý bà con ngoài hải ngoại nầy… Cám ơn em nhiều.
Khoảng cách giàu nghèo hiện đang là một trong các nguyên nhân chính làm chấn động nền chính trị ở Tây Phương, điển hình với Brexit ở Anh, phong trào áo vàng tại Pháp và Donald Trump đắc cử Tổng Thống ở Mỹ.
Vài tháng trước, TTXVN và tất cả báo chí nhà nước đều long trọng đi tin “Kỷ Niệm 51 Năm Ngày Chiến Thắng Khe Sanh – 9/7/1968.” Vào thời điểm này, tôi còn là một thiếu niên ăn chưa no lo chưa tới nên không hiểu chi về chiến sự hay thời cuộc.
Báo chí suy thoái tư tưởng, cán bộ mơ hồ chệch hướng và đảng viên không thèm đọc Nghị quyết để thi hành là những chứng tật báo hiệu Đảng đang mất lãnh đạo từ trên xuống dưới.
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.