Hôm nay,  

Tôi Và Bố

16/06/200700:00:00(Xem: 11851)

Tôi lớn lên trong thời Đệ Nhị Cộng-Hòa, Bố tôi là một viên-chức về hành chánh của Bộ-Nội-Vụ, trụ sở ông làm việc nằm ở góc đường Nguyễn-Du và Tự-Do (bây giờ đổi tên là Đồng-Khởi).  Thưở Mẫu-Giáo và Tiểu-Học, Bố cho tôi theo học ở trường Hòa-Bình, bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà, đối diện Bộ-Nội-Vụ, chắc có lẽ để tiện việc đưa đón tôi.  Sau giờ tan học, Bố thường dẫn tôi vào sở vì ông còn làm việc đến hết giờ mới đưa tôi về nhà để Mẹ tôi lo cơm nước cho gia-đình.

 Trong ký ức tôi vẫn còn nhớ tấm thảm đỏ trải dài suốt dãy hành lang trong sở Bố, nhớ những cái xoa đầu tôi của ông “Xếp” (Boss) Bố là ông Lê-Công-Chất (Thứ-Trưởng Bộ-Nội-Vụ lúc bấy giờ). Nhớ hoài những viên kẹo ngọt, những hộp bánh “Bít-quy” (crackers) của mấy cô, mấy bà thư-ký làm việc cho Bố thường đem cho tôi ăn… Có lẽ vì thế mà tôi thân với Bố từ bé và ít khi nào kể cho Mẹ tôi nghe về những người đẹp trong sở Bố làm… (theo lời Bố dặn).

Đối với Bố tôi, bữa ăn trưa và ăn tối trong gia-đình là điều tối quan trọng không thể thiếu một thành viên nào trong nhà.  Ngày xưa, giờ giấc làm việc của các công-nhân-viên chức Việt-Nam theo chính sách của người Pháp đó là được nghỉ trưa từ 1 đến hai tiếng mỗi ngày.  Bố tôi đã bảo với Mẹ tôi và các chị tôi rằng: “Bà và các con dầu đi đâu cũng phải có mặt đầy đủ trong hai bữa ăn của gia-đình!” … Lời dặn chỉ có thế và mọi người trong nhà đều răm-rắp nghe theo.  Về sau này khi lớn lên tôi mới hiểu đó là cách Bố tôi giữ gìn hạnh-phúc gia đình và cũng là cách dễ nhất để ông có thể gần gũi vợ con, vì trong bữa ăn, mọi người đều kể cho nhau nghe về những diễn biến trong ngày, chúng tôi đều phải trình bày những khó khăn trong học-đường và xin ý kiến Bố-Mẹ.  Cũng như Mẹ thường lên kế hoạch để bàn định về những chỗ đi chơi cuối tuần (thí dụ như: đi Cấp, đi lên rẫy ở Long-Khánh hay đi Lái-Thiêu ăn trái cây v.v…) Nhờ vậy mà bây giờ tiền lệ đó đã được tôi áp dụng trong tiểu-gia-đình mình, nhưng chỉ được bữa ăn tối mà thôi vì làm việc ở Hoa-Kỳ không có giờ về nhà để nghỉ trưa.

Thưở lên mười một tuổi, lúc tôi theo học Trường Nữ Trung-Học Trưng-Vương, có lần Bố đưa tôi và Mẹ tôi đi Siêu-Thị ở đường Nguyễn-Du (gần sở Bố) gọi là chợ “P.X”. Hình như thời bấy giờ Saigon chỉ có một siêu-thị duy nhất bán đồ nhập cảng từ Mỹ.  Khi nhìn thấy một chiếc xe đạp mini gấp được làm đôi để có thể bỏ vào “cốp” (trunk) xe hơi, chiếc xe màu bạc óng ánh đã hấp dẫn tôi hơn kẹo sô-cô-la (chocolate), cà-rem (ice cream) hộp và bất cứ thứ gì chung quanh tôi lúc bấy giờ. 

Tôi đã ở lì trong siêu-thị không chịu đi về sau khi Mẹ đã mua xong những thứ cần thiết.  Khi Bố kéo tôi đi, tôi bỗng òa khóc nức nở và chỉ tay vào chiếc xe đạp nói rằng: “Con chỉ đi về khi Bố mua cho con chiếc xe đạp kia thôi!”. Trong đầu óc bé nhỏ của tôi lúc bấy giờ, bao nhiêu là hình ảnh thích thú hiện ra, nếu tự một mình tôi chạy xe (một kiểu xe đạp duy nhất mới có ở nước Việt-Nam thời bấy giờ, các bạn tôi chắc chắn sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu tôi được tự đạp xe đến trường bằng chiếc xe này.  Vì phần lớn nhóm bạn chúng tôi gia-đình ai cũng khá giả, có tài-xế đưa đón và hơn nữa, người lớn đều xem chúng tôi là trẻ nhỏ không được đi học một mình vì sợ bị  “Mẹ Mìn” bắt cóc…)

Tôi còn nhớ phản ứng của Mẹ tôi là mặt bà đỏ bừng lên rồi chạy đến bên tôi ôn tồn bảo: “Con bé hư quá! Nín khóc ngay, không được nhõng nhẽo giữa chợ thế này.  Người ta cười Bố-Mẹ kìa!”.  Đựợc sự vuốt ve của Mẹ, tôi càng khóc lớn hơn vì cảm giác tủi thân chưa được Bố quan-tâm đến.  Tuy khóc nhưng mắt tôi vẫn dõi theo hành động của Bố, tôi thấy Bố đi hỏi giá chiếc xe đạp, sau đó ông quay lại nghiêm nghị bảo với tôi rằng : “Bố sẽ mua cho con với điều kiện là chỉ được chạy sau khi bố tập cho con lái, vì lái xe đạp không phải dễ đâu và con không được tự ý một mình đạp xe ra khỏi khuôn viên nhà, chỉ đạp trong vườn nhà hoặc khi lên rẫy chơi mà thôi, vì lái xe ra đường sẽ rất nguy hiểm”… Tôi gật đầu đồng ý ngay vì nào tôi có nghe rõ những lời Bố dặn, trong tâm thức tôi hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp đã chiếm trọn, miễn làm sao tôi phải có nó bằng được thì tôi mới mãn-nguyện. 

Từ đó, mỗi buổi chiều, sau giờ cơm tối, Bố dạy tôi cách giữ thăng bằng để đạp xe, lúc đầu Bố vịn sau yên cho tôi chạy, rồi dần dần ông buông hẳn tay ra, tôi biết lái ngon lành…  Nhóm bạn thân của tôi gồm chín đứa, vì nhỏ con và học giỏi nên ba đứa ngồi một bàn chiếm ba cái bàn đầu trong lớp, đối diện với Giáo-sư. Thầy-Cô và mọi người vẫn thường gọi đám học trò ồn ào cao ngồng ngồi cuối lớp là “xóm nhà lá”.  Đứa bạn nào của tôi cũng mong mỏi tôi đạp xe đến trường để chúng chiêm ngưỡng và lái thử.  Tôi cố suy nghĩ nát óc để tìm ra phương kế. Thường thì Bố tôi có tài-xế lái xe cho Bố đi làm rồi đưa Bố về nhà ăn trưa và nghỉ trưa, giờ Bố nghỉ trưa là chú tài có nhiệm vụ chở tôi đến trường.  Đến chiều tan học, chú tài đến đón tôi trước rồi mới đón Bố từ sở về nhà tôi ở khu Tân-Định.  Đã đôi lần tôi dò la ý của Bố là tôi muốn được tự lập bằng cách đạp xe đến trường một mình,  Bố đã quắc mắt, gằn giọng bảo: “Con đã hứa với Bố như thế nào trước khi Bố mua xe cho con"”…Thế là tôi im ngay.

Cơ hội ngàn vàng đã đến với tôi, vì buổi trưa hôm ấy sau giờ ăn trưa, Bố tôi vào phòng nghỉ như thường lệ.  Mẹ tôi có công việc phải đi Đà-Lạt vài ngày. Tôi sửa soạn cặp-táp xong chạy xuống phòng trọ của chú tài bên cạnh phòng chị người làm, thấy chị Ba đang cạo gió cho chú tài. Tôi bảo: “Trời ơi! Chú Minh bị trúng gió rồi.  Chú nghỉ ở nhà đi để chút nữa còn đưa Bố đi làm, con đi xe đạp đến trường được rồi!” Cả hai người  đều trợn tròn mắt nhìn tôi.  Chị Ba nói ngay: “Không được đâu cô. Ông dặn tụi tui là coi chừng không cho cô đạp xe ra ngoài đường.” Chú tài mặt đỏ như gấc cũng nói theo: “Có bệnh gì tôi cũng ráng đưa cô Út đi, lỡ ông biết được tôi bị đuổi việc liền!” Tôi mới kể cho chị Ba và chú tài nghe về sự trông đợi của bạn bè tôi đựợc nhìn thấy chiếc xe đạp, nếu không một lần mang đến cho chúng nó xem thì chúng sẽ bảo tôi là thợ vẽ, làm gì có chiếc xe đạp mini bằng sắt mà gấp lại được…

Tôi đem tất cả khả năng “hùng-biện” của mình để thuyết phục hai người. Nhất là hôm ấy tôi biết trước mình được về sớm hai giờ cuối vì Thầy-Cô bận họp. Tôi nói rằng tôi sẽ đạp xe về nhà sớm, chú Minh không cần phải nói với Bố tôi điều gì cả, vì tôi cũng không muốn chú nói dối.  Buổi chiều khi Bố tan sở là tôi đã có mặt ở nhà rồi, sẽ không ai biết gì cả!” Thấy giọng tôi chắc ăn như bắp.  Chú Minh có vẻ xiêu lòng, phần vì chú có vẻ rất mệt.  Chị Ba run lẩy bẩy như sắp làm một chuyện động Trời. Mọi việc thu xếp xong, tôi ung dung đạp xe đến trường một mình lần đầu tiên trong đời, Saigon tháng sáu thường mưa nên hôm ấy Trời không có nắng, tôi rất thận trọng đạp từng vòng xe.  Người đi đường ai cũng nhìn tôi vì chiếc xe quá đặc biệt lần đầu tiên xuất hiện trên đường phố. Tôi nhớ là khi đến trường, tôi đã gởi chiếc xe yêu quý của tôi trong nhà bác lao-công ở trong trường và cho bác ít tiền. 

Đến giờ tan lớp, các bạn tôi xúm-xuýt, trầm trồ bu quanh chiếc xe, tìm cách gấp đôi lại rồi gỡ ra, tôi cho mỗi đứa chạy thử một vòng ở cuối con đường Nguyễn-Bỉnh-Khiêm.  Có đứa không biết đạp cũng đòi dẫn bộ đi cho oai. Con đường ngập xác lá vàng, có những trái “Giáng-Tiên” rơi xuống xoay vòng cầu đẹp như một bức tranh.  Chưa bao giờ tôi thấy mình hạnh-phúc như thế với bạn bè.  Bất thình lình, mây đen kéo tới, tôi quýnh lên từ giã các bạn để còn đạp xe về nhà sớm. 

Theo lộ-trình mỗi ngày chú tài đưa đi, tôi chạy dọc con đường Thống-Nhất (bây giờ đổi tên là Lê-Duẩn), đến đường Hai-Bà-Trưng quẹo tay mặt là sẽ về đến nhà.  Trời bỗng đổ mưa như trút nước, mưa mịt mù phố xá. Lần đầu tiên tôi được tắm mưa, cảm giác lạnh và sợ, tim tôi đập loạn lên nhưng chân vẫn không ngừng đạp.  Đến gần trước Tòa-Đại-Sứ Mỹ, tôi thấy xe mình lao vào một vật cản bằng sắt lù lù trước mặt, một cái “Rầm”, tôi té xuống đường, rách toạt vạt áo dài trắng, tôi thấy máu chảy ra từ cánh tay và rồi, một ông lính Mỹ trong quân-phục, đội nón sắt có chữ: “MP” gác trước cổng Tòa-Đại-Sứ chạy nhào tới bế xốc tôi lên, tôi bất tỉnh ngay lúc đó…    

Tôi bị sốt mê man mấy ngày liền, lúc lơ mơ tỉnh dậy  thấy Mẹ và Bố, sợ quá tôi lại ngất đi, không ăn uống gì được, Bố phải đưa tôi vào bệnh-viện “Đồn-Đất” để được tiếp nước biển cho tôi.  Bác-Sĩ người Pháp nói rằng tôi bị “Thương Hàn”. Một tháng trời tôi phải nằm viện, bỏ học vì cơn đau “thập tử nhất sinh”. Mẹ tôi cầu Trời, khấn Phật ngày đêm.  Bố tôi xanh xao vì lo lắng, ông cũng mất ăn, mất ngủ vì thương tôi quá…

Cuối cùng, tôi khỏi bệnh.  Ngày xuất viện về nhà, Bố mua cho tôi một bó hoa “Tulip” màu vàng rất đẹp, không một ai dám nhắc đến cái tai-nạn “chiếc xe mini gấp của tôi”. Chú tài-xế Minh không bị đuổi việc và chị Ba vẫn là người làm trong nhà. Khi ra nước ngoài, chị tôi mới kể rằng lúc bấy giờ, Bác-Sĩ cấm mọi người trong nhà nhắc đến chuyện đó! Bắt buộc những sinh-hoạt phải bình thường như trước lúc tôi gặp tai-nạn.

Đến năm 1981, Bố lo cho tôi đi vượt biển, tàu tôi may mắn được dàn khoan cứu vớt, tôi qua Úc định cư rồi vài năm sau, tôi lo thủ tục bảo lãnh cho Bố-Mẹ, các chị cùng đoàn tụ gia-đình. Suốt thời gian này tôi được dịp phụng-dưỡng Bố Mẹ để đáp đền phần nào tình-thương mà hai đấng Phụ-Mẫu đã dành cho tôi.

Sau này tôi qua Mỹ định-cư vì tư tưởng luôn tìm tòi, mạo hiểm và thích khám phá tôi đi chu du nhiều nơi trên thế-giới.  Lúc hay tin Mẹ lâm bệnh, tôi đã bay trở lại Úc để lo cho Mẹ tôi đến ngày bà nhắm mắt. Bố ở với các chị, tôi phải quay về Mỹ, vì lúc ấy tôi đã có gia-đình.  Đúng một năm sau ngày Mẹ mất. Một buổi chiều, đầu tháng tám, tôi nhận điện thoại từ Úc, hung tin báo rằng Bố tôi đang hấp hối, tôi xin bên nhà một bức điện thư của bệnh-viện chứng nhận để ra phi-trường được mua vé khẩn bay ngay đêm hôm ấy.  Bố tôi nhắm mắt lúc tôi đang bay ở trên Trời. 

Tới Phi-Trường Melbourne, làm thủ tục nhập cảnh xong , tôi bước ra ngoài gặp ngay một tiệm bán hoa.  Duy nhất một bó “Tulip” vàng nằm trong chậu xen lẫn với những bó hoa Hồng, LyLy, Cúc trắng… Nước mắt bỗng tuôn trào, tôi đến mua ngay bó hoa “Tulip” vàng ấy. Thuê xe tôi lái thẳng đến bệnh-viện, tôi đọc kinh suốt đoạn đường dài, đầu nhức như búa bổ, nhưng sao hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp trong chợ “PX” năm nào hiện ra rất rõ.  Rồi đến khuôn mặt đỏ bừng của Mẹ khi tôi làm nũng, rồi đến hình ảnh Bố, cái nhìn nghiêm khắc nhưng đầy trìu mến của Bố bao trùm lấy tôi…

Đến cửa bệnh-viện, tôi mệt gần muốn xỉu.  Người ta cho biết xác Bố tôi đã được đưa vào phòng lạnh.  Tôi khóc ngất, đòi được nhìn xác Bố.   Các nhân-viên phải làm thủ tục ngay vì biết tôi mới từ Mỹ bay về.  Mười phút sau, một người y-tá dẫn tôi đi qua một hành lang dài hun hút im lìm hai dẫy phòng trắng toát màu vôi.  Tôi chợt nhớ đến dãy hành lang trải thảm đỏ trong sở Bố ngày xưa. Mắt tôi cay xé, đến trước một căn phòng với cánh cửa sắt thật dầy (có lẽ để giữ được độ lạnh phía bên trong), người y-tá khó khăn lắm mới đẩy được cánh cửa để đưa tôi vào. 

Một Thế-giới khác!  Lạnh toát và thật xa lạ, Bố tôi nằm thanh thản như ngủ trên một chiếc giường cũng bằng sắt lạnh, hai tay chắp trước ngực.  Đó là giấc ngủ ngàn thu của Bố, tôi xin người y-tá ra ngoài cho tôi được một mình với Bố.  Ông ta hỏi lại tôi bằng tiếng Anh: “Are you sure"” Tôi gật đầu bảo chỉ vài phút thôi.  Cánh cửa đóng lại sau khi người y-tá bước ra, tôi ôm chầm lấy xác Bố mà khóc nức nở.  Tôi ước gì những giọt nước mắt nóng của mình sẽ làm ấm lại thân thể đóng băng của Bố tôi.  Tôi đặt bó hoa “Tulip” vàng gọn gàng trên ngực Bố.

Bó hoa “Tulip” vàng được liệm cùng xác Bố tôi, thay cho lời tạ lỗi mà tôi không có dịp để tỏ bày khi Bố còn sống về vụ việc năm xưa.

Bây giờ ở Hoa-Kỳ, mỗi khi ngày Lễ Father’s Day đến, tôi đều tìm mua một tấm thiệp có hình hoa “Tulip” vàng đề vào đó ba chữ: “Con Yêu Bố!” rồi đốt đi như gửi vào đất, vào gió tình của tôi và Bố./.

(www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.
Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
Sau thất bại trước đối thủ đảng Dân Chủ Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, nội các “gia đình trị” của Donald Trump gần như biến mất khỏi chính trường. Các đồng minh không thể có cùng tiếng nói với Trump, nhất là sau vụ bạo loạn Quốc Hội Jan 06. Duy nhất một người vẫn một lòng trung thành không bỏ rơi Trump, đó chính là Stephen Miller. Nhiệm kỳ hai của Trump, người được cho là có quyền lực hơn trong vòng tròn thân cận của Trump, hơn cả JD Vance, chẳng ai khác hơn chính là Stephen Miller. Để tạo ra những ảnh hưởng chính trong chính quyền Trump hôm nay, Miller đã có một đường dài chuẩn bị, khôn ngoan và nhẫn nại.
Đầu tháng 8 năm 2025, Tổng thống Donald Trump đã ký một mệnh lệnh đặc biệt, chỉ đạo các cơ quan hữu trách lập kế hoạch đưa quân đội Hoa Kỳ đi trấn áp các tổ chức tội phạm ở Mỹ Latinh. Khoảng hai tuần sau, mệnh lệnh đã thành hiện thực. Ba khu trục hạm có gắn phi đạn viễn khiển (guided-missile destroyers) của Hoa Kỳ đã được khai triển tới vùng biển Venezuela, đảm trách việc chặn giữ các chuyến hàng ma túy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.