Hôm nay,  

Chế Độ Buôn Người

27/11/200700:00:00(Xem: 10905)

...Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người...

Năm 2007 sắp kết thúc đánh dấu 200 năm của một biến cố đáng chú ý, là đạo luật bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ của nước Anh. Vậy mà hai thế kỷ sau, kỹ nghệ buôn người vẫn đứng hàng thứ ba thế giới, sau buôn lậu ma túy và võ khí. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề này trong cuộc trao đổi sau đây của Việt Long với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.

Hỏi: Thưa ông, năm 1807, Quốc hội Anh đã ban hành đạo luật cấm buôn bán nô lệ gọi là "Slave Trade Act". Hai trăm năm sau, việc buôn người vẫn là một lối làm ăn phát đạt, dù bất chính, vì chỉ thua kỹ nghệ buôn lậu ma túy và võ khí mà thôi. Do đó, chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình tuần này, chúng ta sẽ đề cập tới khía cạnh kinh tế của hiện tượng ấy,  vì nạn buôn người cũng có ảnh huởng đáng kể đến Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, thưa ông, liệu người ta có tìm ra những định luật kinh tế giải thích hiện tượng đó hay không"

Thưa ông, khi William Wilberforce, một người sùng đạo và có từ tâm của Đế quốc Anh đề xướng việc chấm dứt nạn buôn người nô lệ và vận động ra đạo luật Slave Trade Act mà ông nhắc tới, những thuyền trưởng bất lương bị bắt quả tang đang buôn người nô lệ trên Đại tây dương đã phi tang để tránh tội bằng cách quăng dân nô lệ xuống nước. Mãi cho tới năm 1833, tức là 26 năm sau, Đế quốc Anh mới có đạo luật bãi bỏ chế độ nô lệ, gọi là Slavery Abolition Act. Một tư tưởng lớn như vậy mà mất nhiều thập niên mới có kết quả, cho nên chúng ta không quá lạc quan về tính ác và máu tham của loài người.

Liên quan đến Việt Nam, khi Đế quốc Anh thấy ra điều sai trái của nạn buôn người và chế độ nô lệ thì cũng là lúc Nguyễn Du của chúng ta viết Truyện Kiều, trong đó, mấu chốt của câu chuyện vẫn là một vụ buôn người, một thiếu nữ 15 tuổi bị bán vào một ổ điếm! Ta vẫn biết rằng cốt truyện lấy từ một tác phẩm văn học tầm thường của Trung Hoa, và rằng mình không phê phán đời xưa với quy phạm luân lý xã hội của đời nay, nhưng trong hai trăm năm qua, dân ta đã thương xót hay phê phán nàng Kiều mà ít thấy ra hay nói ra sự tồi tệ của hệ thống luật pháp và tâm lý con người đã dung túng chế độ buôn người. Hậu quả là ngày nay, Việt Nam vẫn là quốc gia nổi tiếng với nạn buôn người.

Câu trả lời của tôi vì vậy là trước khi quy luật kinh tế có thể giải thích hiện tượng đó, thì mình cần nhìn ra phản ứng văn hoá tiềm ẩn bên dưới những quyết định kinh tế.

Hỏi:  Xin lỗi, nhưng tôi e rằng sự ví von của ông có phần nào kém chính xác.  Ví dụ như truyện Kiều liên hệ gì tới chế độ buôn người, tới quy luật kinh tế hay những tệ nạn xã hội ngày nay tại Việt Nam"

Từ 200 năm nay, tác phẩm văn chương trác tuyệt này được dân ta truyền đọc và ca tụng, mà ít ai thấy sự thối nát của một xã hội có "hai kinh vững vàng" thời Minh Gia Tĩnh. Ít ai nói tới nạn tham nhũng, xiết nợ, vu cáo người lành khiến một gia đình lương thiện phải bán con gái đi làm điếm. Sau này, gia đình ấy còn kết thông gia với tay cò tham nhũng là Chung công, ông bố vợ của cậu Vương quan! Giờ đây, nhiều gia đình cũng phải bán con, nhiều thiếu nữ phải bán mình làm tì thiếp cho người nước ngoài, coi đó là một thứ tai trời ách nước, mà cả xã hội không thấy rằng thế giới đã đổi thay và những điều ấy là phi pháp.

Cái nếp văn hoá an phận và khinh miệt phụ nữ ấy mới giải thích các động lực kinh tế ghê tởm bên dưới. Nhưng, tôi e rằng chúng ta lạc đề mất!

Hỏi: Thưa đúng thế, vậy để trở lại nạn buôn người ngày nay, trước khi tìm hiểu xem vấn đề nó nằm ở đâu, ông cho rằng ở Việt Nam thì những biểu hiện gì là đáng chú ý"

Trừ có nạn bắt trẻ em đi làm du kích đã chấm dứt, thì Việt Nam ngày nay có đủ khía cạnh đa diện của nạn buôn người.  Phổ thông nhất là hiện tượng cưỡng bách trẻ vị thành niên, cả trai lẫn gái đi vào kỹ nghệ tình dục, bán dâm. Khi xã hội mở cửa và bước vào toàn cầu hóa thì kỹ nghệ bán dâm và ép người bán dâm cũng đã được quốc tế hoá.  Việt Nam xuất khẩu nhiều loại lao động cưỡng bách đó, dưới dạng cô dâu hay là con nuôi. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã nhập vào dòng khai thác lao động bất chính qua việc lường gạt, xiết nợ và thậm chí bạo động để ép người khác làm những loại việc họ không muốn.

Hỏi: Xin lỗi phải ngắt lời ông, nhưng tôi e rằng sự khẳng định như vừa rồi mới là có tính cách cưỡng ép. Lấy cơ sở nào để xác định như vậy" Tôi thấy là không thể nói rằng vịêc Việt Nam cho kết hôn và cho nhận con nuôi là để phụ nữ và trẻ em đi mãi dâm! Ông chứng minh được điều đó hay không"  

Trong phúc trình năm nay của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn người trên thế giới, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia vừa là xuất xứ vừa là điểm tụ của nạn buôn người, cả nam, nữ lẫn trẻ em cho hai mục tiêu là mại dâm và cưỡng bách lao động. Phụ nữ và con gái Việt Nam bị buôn qua Cambốt, Trung Quốc, Thái Lan, Hong Kong, Macao, Malaysia, Đài Loan và qua cả Anh quốc lẫn Cộng hoà Tiệp. Bọn buôn người đã ngụy trang nạn nhân thành du khách hay dân lao động trong khuôn khổ xuất cảng lao công để đưa họ qua Hong Kong, Đài Loan hay Malaysia. Thậm chí họ còn tuyển mộ phụ nữ qua các công ty tìm việc và bán nạn nhân cho các băng đảng tội ác tại Trung Quốc hay Malaysia, thậm chí còn dùng các chat room trên Internet để khuyến dụ nạn nhân.

Cũng qua phúc trình của bộ Ngoại giao đã đệ nạp Quốc hội Mỹ hồi tháng Bảy vừa rồi, người ta được biết là nhiều phụ nữ Việt Nam được mai mối qua hôn nhân với người nước ngoài thực tế đã bị buôn hoặc bị khai thác. Trong năm ngoái, toà án Việt Nam đã xét xử 700 trường hợp buôn người, liên hệ tới 1.700 nạn nhân trong đó có 200 thiếu nhi. Những trường hợp như vậy chỉ là mặt nổi đã được công khai hoá mà thôi.

Hỏi: Thế cho đến nay, Việt Nam đã làm những gì để ngăn ngừa tình trạng ấy"

Thế giới đã báo động và vận động hợp tác giữa các nước để ngăn ngừa tệ nạn ấy và vì vậy, Việt Nam cũng có cố gắng cải sửa, nhưng vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư của Liên hiệp quốc năm 2000 về nạn buôn người, và Đạo luật về Xuất khẩu Lao động của Việt Nam ban hành cuối năm ngoái cho đến nay vẫn chưa đi vào áp dụng. Theo danh mục của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong báo cáo thường niên về nạn buôn người thì Việt Nam được xếp loại hai, các quốc gia chưa chấp hành những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ nạn nhân hiện tượng buôn người.

Dĩ nhiên, Việt Nam không là duy nhất hay tệ nhất so với nhiều xứ khác. Nhưng nói chung thì dư luận vẫn chưa để ý đến hiện tượng đau lòng này, ngoài một vài tuyên bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hay của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Hỏi: Trước khi nói đến các khía cạnh văn hoá rồi kinh tế, xin hỏi ông là thế giới đã chú ý tới vấn đề này như thế nào - trước hết là về mặt pháp chế"

Từ gần 10 năm nay, thế giới đặc biệt quan tâm đến nạn buôn người. Nói đến nạn buôn người, thế giới tố giác một chuỗi hoạt động, từ tuyển mộ hay chiêu dụ tới vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao, tiếp nhận và phân phối những người bị đẩy vào thị trường phi pháp và bất chính như khai thác tình dục, bóc lột sức lao động.

Ta nên phân biệt nạn buôn người, có khác với nạn chuyển người nhập lậu, thí dụ như di dân bất hợp pháp. Di dân nhập lậu trả tiền cho bọn bất lương giúp mình vượt biên và tới nơi là được hạ phóng để sống trà trộn trong cộng đồng di dân. Nạn buôn người lại tệ hơn vậy vì từ xuất xứ tới nơi tiếp nhận và làm việc, người bị buôn như nô lệ hoàn toàn nằm dưới sự khai thác của hệ thống bất lương, kể cả làm đầy tớ hay làm điếm.

Tổ chức Lao động Quốc tế ILO của Liên hiệp quốc cho biết thế giới đang có hơn 12 triệu người, kể cả thiếu nhi, bị cưỡng bách lao động, lao động để trả nợ, hoặc bị khai thác trong kỹ nghệ bán dâm. Nhiều tổ chức khác ước lượng là con số nạn nhân có thể lên tới 27 triệu người, lớn nhỏ, trai gái. Vì hiện tượng phổ biến đó, Liên hiệp quốc và nhiều quốc gia hay các cơ quan ngoài chính phủ đã vận động sự hợp tác quốc tế để bài trừ, chủ yếu là tại ba khâu chính là quốc gia xuất phát, quốc gia tiếp nhận và các tổ chức tội ác.

Hỏi: Vì sao mà vào đầu thế kỷ 21 này, thế giới vẫn còn hiện tượng bất thường đó"

Thưa ông, người ta có thể kể ra hàng chục lý do. Trước hết, hiện tượng toàn cầu hoá và thông tin lẫn việc chuyển vận dễ dàng hơn khiến người ta thấy ra nhiều cơ hội cải tiến cuộc sống ở nơi khác, và ưa đứng núi này trông núi nọ, tưởng rằng bên kia sông là ánh mặt trời nên dễ bị dụ dỗ lường gạt. Thứ hai, chênh lệch về mức sống hay tự do hoặc chế độ phân biệt đối xử của xã hội cũng khiến nhiều người muốn thoát ly và bị sa vào bẫy.

Thứ ba, chiến tranh và bất ổn xã hội khiến nhiều người bị xiêu tán và cố tìm một cuộc sống khá hơn ở nơi khác nên dễ thành nạn nhân của mạng lưới buôn người. Ngoài chiến tranh và sự sụp đổ của khối Xô viết hay nội chiến tại Nam Tư, một số biến cố cũng có thể khiến con người bị đánh bật gốc và rơi vào tình trạng bị buôn như nô lệ là nhiều dự án kinh tế đã giãn dân trên một quy mô lớn mà không có kế hoạch tái định cư.

Theo một phúc trình của Hoa Kỳ, hàng năm có chừng 80 vạn người bị buôn qua biên giới, 80% là phụ nữ, 50% là trẻ vị thành niên. Đa số nạn nhân là từ các nước Cộng sản cũ và các nước Á châu nghèo, bị buôn đi phục vụ các nước giàu có hơn.

Hỏi: Đó là những chuyển động lớn về kinh tế hay chính trị, ngoài ra ông còn thấy những lý do nào khác chăng"

Ngần ấy lý do đều không thể dẫn tới một làn sóng buôn người rất lớn như hiện nay nếu thiếu ba yếu tố quan trọng, là nạn tham ô trong chính quyền, sự hoành hành của tổ chức bất lương và thái độ thụ động của xã hội, kể cả luật pháp. Nguyên do chính là con người ta, từ chính quyền tới báo chí và các tổ chức thiện nguyện, thường coi phụ nữ bán dâm là có tội hơn là những kẻ bất lương đã đẩy họ vào chốn đó. Trong một chế độ mà công an có nhiều quyền hành như tại Việt Nam thì làm sao tội ác lại xảy ra trên một quy mô lớn như vậy nếu không có sự đồng lõa của công an và cán bộ" Dư luận lại quên mất điều này.

Như khi thấy phụ nữ Việt Nam bị bán qua Đài Loan hay Đại Hàn làm nô lệ tình dục hay lao nô, xã hội thường nghĩ ngay là vì họ tham tiền mà quên hẳn tội ác của bọn bất lương và cán bộ hữu trách. Theo cuộc khảo sát của bộ Ngoại giao Mỹ, tới 80% nạn nhân là những người muốn thoát khỏi nghề bán dâm mà không nổi. Đây là lý do vì sao ta nói tới khía cạnh văn hoá qua cách đọc Truyện Kiều khi nhiều người dửng dưng với thằng bán tơ, kẻ lại già và các nhân vật như Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà và lại nặng lời phê phán nạn nhân là Thúy Kiều! Một người nổi tiếng nghiêm khắc ở lời phê phán nàng Kiều là cụ Nguyễn Công Trứ, một khách chơi rất hào hoa trong chốn ca lâu đó. Nếp văn hoá ấy mới giải thích những quy luật kinh tế bên dưới.

Hỏi: Nếu đã vậy, xin ông nói luôn về những quy luật kinh tế này trong hiện tượng buôn người.

Tôi thiển nghĩ là có ba quy luật khả dĩ giải thích được tình trạng đó.

Thứ nhất là quy luật tạm gọi là "ảnh hưởng của ngoại cảnh”, nôm na là những xáo trộn trong môi trường sinh sống ở chung quanh khiến mức sống và nhân phẩm bị phá giá và nhiều gia đình bị đẩy vào chỗ phải có những chọn lựa đau lòng. Khi quá nhiều người phải bán vợ bán con thì những người chung quanh hết thấy rằng việc đó là xấu nữa. Lợi ích kinh tế xoay chuyển ngược chiều với tiêu chuẩn về đạo lý xã hội vì ngoại cảnh. Và  đây là một trách nhiệm lớn của chính quyền trong địa hạt quản lý kinh tế vĩ mô. Sau một trận lũ lụt chẳng hạn, hãy kiểm tra xem nạn bán dâm và buôn người có thể gia tăng ra sao.

Thứ hai là quy luật thông tin bất cân đối. Chúng ta đều biết rằng người bán ít lầm, người mua mới lầm. Người mua ở đây là những người cùng khốn muốn thoát khỏi nghịch cảnh và đành chấp nhận rủi ro và bị bắt bí. Sở dĩ họ bị bắt bí là vì ở vào thế yếu và không có thông tin rõ ràng về quyền hạn của mình, trước tiên là về nhân quyền, một vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam. Thứ nữa là những kẻ bán dịch vụ lao động theo kiểu bất lương đó lại biết rõ mục tiêu, môi trường và đối tác ở nước ngoài nên có lợi thế lường gạt người mua.

Việt Nam đang bán sức lao động tới các nước xa xôi như Thái Lan, Đài Loan, Malaysia, Saudi Arabia và nhiều xứ Trung Đông khác, nhưng Luật Xuất khẩu Lao động chưa áp dụng và chính sách kiểm soát lỏng lẻo càng đào sâu chênh lệch về loại thông tin của thị trường quái gở này, và tạo cơ hội cho bọn bất lương tung hoành.

Hỏi: Hai quy luật ấy nghe thấy cũng lạ. Thế còn quy luật thứ ba nữa là gì"

Thứ ba là một quy luật khá phổ biến từ kinh nghiệm của ngành bảo hiểm ra, đó là nạn ỷ thế làm liều, mà thuật ngữ kinh tế gọi là "moral hazard". Đó là những kẻ nghĩ mình có gốc lớn hay quan hệ tốt với chính quyền hay cán bộ nhà nước khả dĩ kinh doanh có lời và không bị rủi ro trong những ngành nghề họ biết là bất chính. Thí dụ như trong một đường dây buôn người có sự đỡ đầu của một quan chức cao cấp hay thân tộc của một đồng chí lãnh đạo thì bọn bất lương vẫn yên tâm làm bậy. Họ biết rằng dứt dây thì động rừng, cho nên vì thể thống của chế độ, việc sai quấy của họ cũng sẽ khó bị tố giác hay chấm dứt. Mối lợi của việc sai quấy đó mà được phân chia sòng phẳng thì mọi việc vẫn trót lọt. Và nhiều xứ giàu có cũng đáng quy trách khi không có nỗ lực trừng phạt bọn bất lương đó.

Hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam có hy vọng gì thoát khỏi tình trạng ô nhục này chăng"

Tôi nghĩ rằng sẽ có, dù rất chậm và cần tới phản ứng của dư luận. Một thí dụ là nạn buôn phụ nữ dưới dạng hôn nhân giả đã giảm đáng kể với Đài Loan vì chính quyền xứ này có luật lệ kiểm soát khắt khe hơn. Ngược lại, trong năm năm qua, số cô dâu Việt Nam được bán qua Nam Hàn đã tăng gấp đôi. Khi bắt đầu hội nhập với thế giới bên ngoài thì luật lệ của quốc tế và của các nước khác liên hệ tới nạn buôn người cũng khiến Việt Nam phải tuân thủ mà thay đổi dần. Điều đáng buồn là Việt Nam chỉ biết tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của công dân mình khi có sức ép của ngoại quốc. Đây là một nỗi nhục mà dân mình nên nhìn ra, và có phản ứng, thay vì cứ thụ động trước sự bất lực hay bất lương của những người có trách nhiệm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.
Ở đời dường như chúng ta hay nghe nói người đi buôn chiến tranh, tức là những người trục lợi chiến tranh như buôn bán vũ khí, xâm chiếm đất đai, lãnh thổ của nước khác, thỏa mãn tham vọng bá quyền cá nhân, v.v… Nhưng lại không mấy khi chúng ta nghe nói có người đi buôn hòa bình. Vậy mà ở thời đại này lại có người đi buôn hòa bình. Thế mới lạ chứ! Các bạn đừng tưởng tôi nói chuyện vui đùa cuối năm. Không đâu! Đó là chuyện thật, người thật đấy. Nếu các bạn không tin thì hãy nghe tôi kể hết câu chuyện dưới đây rồi phán xét cũng không muộn. Vậy thì trước hết hãy nói cho rõ ý nghĩa của việc đi buôn hòa bình là thế nào để các bạn khỏi phải thắc mắc rồi sau đó sẽ kể chi tiết câu chuyện. Đi buôn thì ai cũng biết rồi. Đó là đem bán món hàng này để mua món hàng khác, hoặc đi mua món hàng này để bán lại cho ai đó hầu kiếm lời. Như vậy, đi buôn thì phải có lời...
Hồi đầu năm nay, một người bạn quen gọi đến, chỉ sau một tháng quốc gia chuyển giao quyền lực. Giọng chị mệt mỏi, pha chút bất cần, “Giờ sao? Đi đâu bây giờ nữa?” Chị không hỏi về kế hoạch chuyến đi du lịch, cũng không phải địa chỉ một quán ăn ngon nào đó. Câu hỏi của chị đúng ra là, “Giờ đi tỵ nạn ở đâu nữa?” “Nữa!” Cái chữ “nữa” kéo dài, rồi buông thỏng. Chữ “nữa” của chị dài như nửa thế kỷ từ ngày làm người tỵ nạn. Vài tháng trước, cuộc điện thoại gọi đến người bạn từng bị giam giữ trong nhà tù California vì một sai phạm thời trẻ, chỉ để biết chắc họ bình an. “Mỗi sáng tôi chạy bộ cũng mang theo giấy quốc tịch, giấy chứng minh tôi sinh ở Mỹ,” câu trả lời trấn an người thăm hỏi.
Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn. Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
Trong những thời khắc nguy kịch nhất, thảm họa nhất, tổng thống Hoa Kỳ là người duy nhất có tiếng nói quyền lực với toàn dân để đưa họ vượt qua nghịch cảnh. Tổng thống sẽ trấn an dân bằng luật pháp, bằng ý chí kiên cường, bằng bản lĩnh lãnh đạo, bao dung nhưng dứt khoát. Thậm chí, có khi phải bằng mệnh lệnh sắc bén để khống chế những tư tưởng bốc đồng sẽ gây hỗn loạn. Mấy trăm năm lập quốc của Mỹ đã chứng minh rất nhiều lần như thế.
(Sydney – 14 tháng 12, 2025) - Hàng trăm người có mặt tại bãi biển Bondi, Sydney, để dự lễ Hanukkah đã chứng kiến một trong những vụ khủng bố đẫm máu nhất kể từ sau thảm sát Port Arthur năm 1996. Vào lúc 6 giờ 45 chiều Chủ Nhật, hai tay súng mặc đồ đen xuất hiện trên cây cầu bộ hành nối Campbell Parade với Bondi Pavilion, bắt đầu nổ súng xuống đám đông đang dự lễ. Hai kẻ này dùng súng trường, bắn liên tục trong khoảng 10 phút, khiến hàng trăm người hoảng loạn bỏ chạy, nhiều người ngã gục ngay trên bãi cát và công viên ven biển. Ít nhất 12 người thiệt mạng, trong đó có 9 nạn nhân thường dân, 1 cảnh sát và 2 tay súng (một bị bắn chết tại chỗ, một bị bắt nhưng sau đó tử vong do vết thương). Ngoài ra, có ít nhất 38 người bị thương, trong đó có 2 cảnh sát và nhiều nạn nhân ở tình trạng nguy kịch.
Năm 2024, con người trung bình dành hai giờ rưỡi mỗi ngày trên mạng xã hội. Nhân lên, đó là hơn một tháng mỗi năm nhìn vào màn hình, lướt ‘feed’ (dòng tin), đợi ‘notification’ (báo tin), đếm ‘like’ (lược thích). Bạn dành nhiều thới giờ cho Facebook, Instagram, TikTok. Và câu hỏi không phải "có nhiều không?", mà là "chúng ta nhận được gì?" Câu trả lời, theo một nhóm triết gia, nhà tâm lý học, nhà xã hội học đương đại, không phải kết nối, không phải hạnh phúc, không phải sự thật. Mà là cô đơn có tổ chức, lo âu có hệ thống, và sự thật bị thao túng. Mạng xã hội—đặc biệt Facebook, nền tảng với ba tỷ người dùng, lớn hơn bất kỳ quốc gia nào trên hành tinh—không phải công cụ trung lập. Nó là kiến trúc quyền lực đang định hình lại não bộ, xã hội, và chính trị theo cách mà chúng ta chưa kịp nhận ra. Và đây là điều đáng sợ nhất: chúng ta không bị ép. Chúng ta tự nguyện. Chúng ta mở Facebook vì muốn "kết nối." Nhưng sau ba mươi phút lướt, chúng ta cảm thấy trống rỗng hơn. Chúng ta vào để "cập nhật
Trong sân khấu chính trị đồ sộ từ cổ chí kim của nước Mỹ, hiếm có nhân vật nào diễn xuất giỏi như Donald J. Trump. Những cuộc vận động tranh cử từ hơn mười năm trước của Trump vốn đã tràn ngập những lời hứa, giáo huấn, sự tức giận vì “nước Mỹ quá tệ hại”, những lời phỉ báng đối thủ. Tất cả hòa hợp thành những bản giao hưởng ký tên DJT. Mỗi lần Trump bước lên sân khấu, điệu nhảy YCMA vô tư, không theo chuẩn mực, thay cho tiếng kèn hiệu triệu “hoàng đế giá lâm.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.