Hôm nay,  

Lạy Phật

04/10/200900:00:00(Xem: 10238)

Lạy Phật

Huệ Trân
Kính lạy Đức Thế Tôn,
Trong bóng đêm, con quỳ đã lâu trước tôn tượng Ngài mà vẫn không biết phải làm sao để lắng dịu được niềm thương cảm.
Lạy Phật,
Con từng học và cũng từng may mắn đạt được phần nào bài học, rằng cảm xúc ta không phải là ta. Ta là chủ thể, đứng nhìn cảm xúc là đối tượng. Ta nhận diện buồn vui chứ ta không phải là buồn vui.
Lạy Phật,
Nhưng những đêm như đêm nay, con đang là đứa học trò tồi tệ của Ngài. Trước những gì đang xảy ra cho 400 huynh đệ của con ở quê nhà, con không còn có thể bình an trong sự quán chiếu đó nữa, dù con biết, trong thẳm sâu, lời dạy đó là chân thật.
Lạy Phật,
Giờ phút này, con và những khổ nhục huynh đệ con chịu đựng đang là một. Vì được là một nên con đã khóc không ngừng. Con đã khóc vì sung sướng. Ôi, con cảm nhận sự nhiệm mầu của Lý Duyên Sinh, cái này héo để cái kia tươi, cái này mất để cái kia còn, cái này đau khổ để cái kia hạnh phúc …. Bao nhiêu dời đổi của thế gian không đi ra ngoài Tâm Phật là " Trong sinh diệt đã sẵn mầm bất diệt".
Lạy Phật,
Nhờ ơn Phật, nhờ ơn Thầy, Tổ, huynh đệ chúng con đã biết đi dưới mưa như đi trong nắng, đã biết mỉm cười trước những hằn học, bạo tàn, đã biết an nhiên nhận những cái đạp, cái đấm như nhận những vuốt ve, đã biết dùng củi lửa Quán Âm sưởi cơn lạnh, đã biết thọ pháp thực trong cơn đói.
Lạy Phật,
Nếu không nhờ ơn Phật, ơn Thầy, Tổ đã dạy dỗ, làm sao huynh đệ chúng con còn sống sót dưới những trận cuồng phong thập phần tàn khốc này! Dù bão vẫn đang cuồng xoay, gió vẫn đang hung hãn, nhưng còn sống sót đến phút giây này, huynh đệ chúng con đều biết chắc chắn rằng, không mưa nào, không gió nào, không ác nhân, không quỷ dữ nào, không người, không thú nào làm thui chột được hạt giống Bồ Đề đang lớn mạnh trong ruộng tâm chúng con.  Lạy Phật,
Huynh đệ chúng con biết chắc như thế vì qua hữu tướng, chúng con vẫn còn đây; và qua vô tướng, thì Lục Độ Ba La Mật vẫn chan hòa trong thân tứ đại.
Chúng con biết, với mắt-thường, của đời-thường, nhân thế khó tin những gì chúng con vừa trải qua mà vẫn tuân giữ được lời Phật dạy. Dù họ đã thấy, đã nghe, đang thấy, đang nghe, vẫn nhiều người không tin nổi.


Lạy Phật,
Hạnh phúc hay khổ đau chỉ là danh xưng, nhưng con-mắt-đời-thường không nhận ra như thế. Trước mỗi đổ vỡ, phải có kẻ hạnh phúc, người đau khổ. Con mắt nhân gian chỉ nhìn hạn cuộc như thế, nên qua những gì đã xảy ra, làm sao họ hiểu được rằng, họ có thể đang rất hạnh phúc vì đã xô đuổi được chúng con ra khỏi nơi tu học; nhưng chúng con cũng đang rất hạnh phúc vì có biến động này mới nhận ra mình đã hấp thụ được bao nhiêu, trong những lời Phật dạy.
Lạy Phật,
Chính cái khổ đói lạnh, thương tích, bệnh tật của thể chất đang thắp sáng cho chúng con niềm vui vô sinh bất diệt, niềm vui mà những ai còn khổ vì đói lạnh, thương tích, bệnh tật, khó cảm nhận được.
Riêng con ngồi đây, từ một nơi rất xa, mà vẫn nhìn thấy rõ bước chân của 15 huynh đệ chúng con vừa bị áp lực phải rời nơi tạm nương náu là chùa Phước Huệ để ra đi dưới đêm mưa buốt lạnh! Công an áp tải 15 huynh đệ chúng con xuống chân đèo, tới bến xe. Xe đưa đi đâu" Về hướng Sài Gòn. Về sài Gòn rồi dừng ở đâu" Không biết!
Lạy Phật,
Đêm mưa hôm nay 15 người. Đêm mưa ngày mai có thể 25 người. Đêm mưa ngày mốt có thể 35 người …. Đêm nay hướng đông, mai chắc hướng tây, mốt chắc hướng nam, hướng bắc …. Những kẻ đang áp lực huynh đệ chúng con không biết, nhưng Chư Phật biết, là dù nơi đâu, rồi chúng con sẽ thành "Thiên nhị bá ngũ thập nhân câu", 1250 vị tỳ kheo từng theo Phật suốt 49 năm hoằng hóa.
Lạy Phật,
Bằng tất cả tâm thành, nước mắt con vẫn không ngừng chảy. Con không thể ngừng khóc vì hạnh phúc, khi dõi nhìn từng bước chân huynh đệ chúng con trong những đêm mưa. Ôi, vững chãi thay, những bước chân của tôn giả Tu Bồ Đề, sau khi được Đức Phật tán than là bậc A La Hán ly dục, đã trang nghiêm thưa trước Phật: "Bạch Đức Thế Tôn, con không nói chứng đắc A La Hán, mới thực chứng đắc A La Hán".
Lạy Phật,
Con xin rời bồ đoàn, ra trước ánh trăng, và kính đảnh lễ Chư Phật mười phương, cho tới khi trăng lặn.
Xin Chư Phật, Chư Bồ Tát
chứng giám.
Huệ Trân
 (Đêm trăng tháng 10/09)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.