Hôm nay,  

Lạy Phật

04/10/200900:00:00(Xem: 10265)

Lạy Phật

Huệ Trân
Kính lạy Đức Thế Tôn,
Trong bóng đêm, con quỳ đã lâu trước tôn tượng Ngài mà vẫn không biết phải làm sao để lắng dịu được niềm thương cảm.
Lạy Phật,
Con từng học và cũng từng may mắn đạt được phần nào bài học, rằng cảm xúc ta không phải là ta. Ta là chủ thể, đứng nhìn cảm xúc là đối tượng. Ta nhận diện buồn vui chứ ta không phải là buồn vui.
Lạy Phật,
Nhưng những đêm như đêm nay, con đang là đứa học trò tồi tệ của Ngài. Trước những gì đang xảy ra cho 400 huynh đệ của con ở quê nhà, con không còn có thể bình an trong sự quán chiếu đó nữa, dù con biết, trong thẳm sâu, lời dạy đó là chân thật.
Lạy Phật,
Giờ phút này, con và những khổ nhục huynh đệ con chịu đựng đang là một. Vì được là một nên con đã khóc không ngừng. Con đã khóc vì sung sướng. Ôi, con cảm nhận sự nhiệm mầu của Lý Duyên Sinh, cái này héo để cái kia tươi, cái này mất để cái kia còn, cái này đau khổ để cái kia hạnh phúc …. Bao nhiêu dời đổi của thế gian không đi ra ngoài Tâm Phật là " Trong sinh diệt đã sẵn mầm bất diệt".
Lạy Phật,
Nhờ ơn Phật, nhờ ơn Thầy, Tổ, huynh đệ chúng con đã biết đi dưới mưa như đi trong nắng, đã biết mỉm cười trước những hằn học, bạo tàn, đã biết an nhiên nhận những cái đạp, cái đấm như nhận những vuốt ve, đã biết dùng củi lửa Quán Âm sưởi cơn lạnh, đã biết thọ pháp thực trong cơn đói.
Lạy Phật,
Nếu không nhờ ơn Phật, ơn Thầy, Tổ đã dạy dỗ, làm sao huynh đệ chúng con còn sống sót dưới những trận cuồng phong thập phần tàn khốc này! Dù bão vẫn đang cuồng xoay, gió vẫn đang hung hãn, nhưng còn sống sót đến phút giây này, huynh đệ chúng con đều biết chắc chắn rằng, không mưa nào, không gió nào, không ác nhân, không quỷ dữ nào, không người, không thú nào làm thui chột được hạt giống Bồ Đề đang lớn mạnh trong ruộng tâm chúng con.  Lạy Phật,
Huynh đệ chúng con biết chắc như thế vì qua hữu tướng, chúng con vẫn còn đây; và qua vô tướng, thì Lục Độ Ba La Mật vẫn chan hòa trong thân tứ đại.
Chúng con biết, với mắt-thường, của đời-thường, nhân thế khó tin những gì chúng con vừa trải qua mà vẫn tuân giữ được lời Phật dạy. Dù họ đã thấy, đã nghe, đang thấy, đang nghe, vẫn nhiều người không tin nổi.


Lạy Phật,
Hạnh phúc hay khổ đau chỉ là danh xưng, nhưng con-mắt-đời-thường không nhận ra như thế. Trước mỗi đổ vỡ, phải có kẻ hạnh phúc, người đau khổ. Con mắt nhân gian chỉ nhìn hạn cuộc như thế, nên qua những gì đã xảy ra, làm sao họ hiểu được rằng, họ có thể đang rất hạnh phúc vì đã xô đuổi được chúng con ra khỏi nơi tu học; nhưng chúng con cũng đang rất hạnh phúc vì có biến động này mới nhận ra mình đã hấp thụ được bao nhiêu, trong những lời Phật dạy.
Lạy Phật,
Chính cái khổ đói lạnh, thương tích, bệnh tật của thể chất đang thắp sáng cho chúng con niềm vui vô sinh bất diệt, niềm vui mà những ai còn khổ vì đói lạnh, thương tích, bệnh tật, khó cảm nhận được.
Riêng con ngồi đây, từ một nơi rất xa, mà vẫn nhìn thấy rõ bước chân của 15 huynh đệ chúng con vừa bị áp lực phải rời nơi tạm nương náu là chùa Phước Huệ để ra đi dưới đêm mưa buốt lạnh! Công an áp tải 15 huynh đệ chúng con xuống chân đèo, tới bến xe. Xe đưa đi đâu" Về hướng Sài Gòn. Về sài Gòn rồi dừng ở đâu" Không biết!
Lạy Phật,
Đêm mưa hôm nay 15 người. Đêm mưa ngày mai có thể 25 người. Đêm mưa ngày mốt có thể 35 người …. Đêm nay hướng đông, mai chắc hướng tây, mốt chắc hướng nam, hướng bắc …. Những kẻ đang áp lực huynh đệ chúng con không biết, nhưng Chư Phật biết, là dù nơi đâu, rồi chúng con sẽ thành "Thiên nhị bá ngũ thập nhân câu", 1250 vị tỳ kheo từng theo Phật suốt 49 năm hoằng hóa.
Lạy Phật,
Bằng tất cả tâm thành, nước mắt con vẫn không ngừng chảy. Con không thể ngừng khóc vì hạnh phúc, khi dõi nhìn từng bước chân huynh đệ chúng con trong những đêm mưa. Ôi, vững chãi thay, những bước chân của tôn giả Tu Bồ Đề, sau khi được Đức Phật tán than là bậc A La Hán ly dục, đã trang nghiêm thưa trước Phật: "Bạch Đức Thế Tôn, con không nói chứng đắc A La Hán, mới thực chứng đắc A La Hán".
Lạy Phật,
Con xin rời bồ đoàn, ra trước ánh trăng, và kính đảnh lễ Chư Phật mười phương, cho tới khi trăng lặn.
Xin Chư Phật, Chư Bồ Tát
chứng giám.
Huệ Trân
 (Đêm trăng tháng 10/09)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.