Hôm nay,  

Đi Tìm Đất Hiếm

28/10/201000:00:00(Xem: 12955)

Đi Tìm Đất Hiếm

Việt Long RFA/Nguyễn Xuân Nghĩa

...[TQ] muốn làm chủ một nguồn cung cấp kim loại và cho dân ta hít bụi độc, uống nước ô nhiễm...

Trước khi thăm viếng Malaysia và đến Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh thứ 17 của Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á vào cuối tuần này, Thủ tướng Ấn Độ đã hội kiến với Thủ tướng Nhật Bản tại Tokyo vào ngày Thứ Ba 26. Về triển vọng hợp tác giữa hai nước được truyền thông loan tải thì ngoài hồ sơ an ninh, người ta chú ý đến việc Ấn Độ sẽ bán "kim loại hiếm" hay "các nguyên tố đất hiếm" cho Nhật Bản. Tin đó khiến dư luận để ý tới việc Nhật Bản cũng sẽ mua những thứ kim loại cực hiếm này của Việt Nam. Chuyện những "kim loại cực hiếm" ấy là gì" Diễn đàn Kinh tế yêu cầu nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trình bày cùng quý thính giả. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa còn cho rằng Việt Nam lại có thể rút ra một số kinh nghiệm về kinh tế, sản xuất qua sự kiến này. Sau đây là cuộc trao đổi do Việt Long thực hiện...
Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Các vị Thủ tướng Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đã và sẽ bàn thảo vấn đề cung cấp cho Nhật Bản những kim loại, hay nguyên tố, gọi là "đất hiếm". Ông vui lòng giải thích về những kim loại hay nguyên tố đó, và hoạt động của các nguyên thủ quốc gia vừa kể diễn ra trong bối cảnh nào" 
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng chúng ta nên tìm hiểu về bối cảnh trước.
- Thứ nhất, những động thái quân sự gần đây của Trung Quốc tại khu vực Kashmir và gần bang Arunachal Pradesh của Ấn và tại Đông hải ngoài khơi Nhật Bản khiến hai xứ Nam Á và Đông Á phải quan tâm và tăng cường hợp tác về nhiều mặt, kể cả an ninh. Điều ấy có lợi cho Việt Nam khi nhiều cường quốc trong khu vực đều chú ý đến sự bành trướng đáng ngại của Trung Quốc. Việc Ấn Độ hợp tác với Việt Nam về huấn luyện quân sự cũng nằm trong chiều hướng đó.
- Thứ hai, trong mâu thuẫn Hoa-Nhật, giữa Trung Quốc và Nhật Bản, bùng nổ từ Tháng Chín vừa qua, người ta chú ý đến một hồ sơ là việc Bắc Kinh hạn chế xuất khẩu kim loại đất hiếm qua Nhật, khiến các doanh nghiệp Nhật đều lúng túng và Chính quyền Nhật đang ráo riết đi tìm các nguồn tiếp liệu khác, thí dụ như tại Ấn Độ và Việt Nam, hoặc cả Hoa Kỳ, Úc hay Brazil. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về sản phẩm chiến lược này, cứ bị gọi sai là "đất hiếm".
Việt Long: Như vậy, chúng ta bắt đầu nói về sản phẩm đó trước khi phân tích vì sao xứ nào cũng đang cần và vị thế của Trung Quốc trong lãnh vực này là gì.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Xuất phát từ nước Pháp vào thế kỷ 19, người ta dùng chữ "đất hiếm" hay "rare earth" để dịch chữ "terres rares" của Pháp. Đấy là 17 nguyên tố hóa chất có thể tìm thấy trên vỏ trái đất, là kim loại hiếm quý và cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp. Nếu gọi là "kim loại hiếm" thì có lẽ đúng hơn và còn dễ hiểu hơn từ "Hy Thổ Kim Thuộc" của Trung Quốc.
- Trên đại thể thì sau khi xác định bằng địa chất học, ta phải đào cả tấn đất, cán vụn thành sỏi, rồi xay thành bụi để qua nhiều đợt đãi lọc tinh chế bằng vật lý, hóa học hay quang học thì gạn được 17 thứ kim loại không thể thiếu trong hầu hết máy móc thiết bị của nền văn minh hiện đại. Từ máy nói, máy ảnh, máy tính, máy lọc dầu đến máy bay và cả bom tinh khôn. Tức là từ kỹ nghệ điện toán, không gian đến quốc phòng, đến năng lượng v.v... người ta đều cần tới những kim loại này. Vì vậy, chúng mới là sản phẩm chiến lược.
Việt Long: Thế Trung Quốc giữ vị trí gì trong lĩnh vực chiến lược đó" Phải chăng vì Trung Quốc có rất nhiều những nguyên tố đất hiếm hay kim loại quý như ông vừa nói"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa, vẫn nói về bối cảnh thì đây là đề tài kinh tế thú vị vì cho chúng ta, nhất là Việt Nam, nhiều bài học bổ ích cho tương lai.
- Từ vài thế kỷ nay, cùng với đà công nghiệp hoá và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta tìm ra công dụng của các kim loại quý trên mặt trái đất. Hoa Kỳ là nước dẫn đầu về sản lượng vì có trữ lượng rất lớn. Ngoài ra, nhiều xứ khác cũng có các kim loại này, như nước Nga, Kazahkstan, Úc, Ấn Độ, Brazil, v.v... Khi cải cách kinh tế để công nghiệp hoá, Trung Quốc bắt đầu thấy ra công dụng đó, trong ba chục năm, họ đã đào xới lung tung và nay là quốc gia dẫn đầu thế giới về sản lượng kim loại hiếm. Tính đến năm ngoái thì trong sản lượng của cả thế giới là 124 ngàn tấn, có 120.000 tấn là của Trung Quốc, tương đương với 97%. Và trong trữ lượng tìm ra trên mặt địa cầu, tính đến năm ngoái là gần triệu tấn thì Trung Quốc có được 36%. Trong khi ấy, sản lượng của Hoa Kỳ thì từ đỉnh cao là 40 ngàn tấn vào năm 1983 đã trở thành... số không kể từ gần 10 năm nay!
Việt Long: - Tức là từ khi Trung Quốc nhảy vào ngành này, cách đây ba chục năm, thì đó cũng là lúc Hoa Kỳ bắt đầu rút lui rồi nhường ngôi vị số một cho họ! Ông cho biết tại sao như vậy"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta đang chứng kiến một kinh nghiệm kinh tế mà Việt Nam nên để ý. Xin hãy nói về Trung Quốc đã vì Việt Nam là nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của mô thức Trung Quốc.
- Mô thức kinh tế Trung Quốc là sản xuất tối đa mà bất kể lời lỗ về kinh doanh vì chỉ để tạo ra công việc làm cho dân số quá đông. Quan niệm của lãnh đạo Bắc Kinh về "mối lời" là sự ổn định chính trị và xã hội bên trong và xây dựng thế lực kinh tế với bên ngoài. Nhưng cái phần lỗ mà họ không tính ra chính là những tổn thất về môi sinh, là khối tín dụng sẽ biến thành nợ thối hay là các doanh nghiệp sẽ phá sản nếu không được trợ cấp để tồn tại... Như nhiều ngành công nghiệp khác, kỹ nghệ khai thác kim loại hiếm của Trung Quốc là một điển hình.


- Từ khi cào đất hiếm, 30 năm về trước, Trung Quốc lại hồ hởi thi đua theo kiểu Bước Nhảy vọt Vĩ đại của Mao, vì các doanh nghiệp nhà nước bất kể lớn nhỏ đã được cấp phát tín dụng nhẹ lãi để đào đất hiếm mà bất kể chi phí. Trong 10 năm đầu sau cải cách, sản lượng tăng 40% một năm, rồi cứ năm năm lại nhân đôi một lần cho tới khi thành vô địch thế giới. Nhưng vì sản xuất ào ạt, cho nên Trung Quốc làm giá sụt mất 95% so với tình hình năm 1979!
Việt Long: Trước sự tung hoành đó của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các nước khác tính sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Họ hoan hô vì có kim loại hiếm với giá cực rẻ thì tội gì cào đất và hít bụi độc cho dân thêm khổ" Không chỉ Mỹ mà các xứ khác cũng đều thấy là việc khai thác này bớt có lợi. Song song, luật lệ bảo vệ môi sinh và quyền lợi lao động cũng chặt chẽ hơn nên họ khỏi tìm kiếm đào xới làm chi khi đã có nhà cung cấp rẻ tiền là Trung Quốc. Nghĩa là việc xứ này bán rẻ kim loại quý có góp phần đáng kể cho cách mạng công nghệ toàn cầu từ đầu thế kỷ 21!
- Bây giờ, ta mới nói đến bài học của mô thức kinh tế Trung Quốc mà Việt Nam dại dột tưởng là mẫu mực. Phí tổn chìm, hay "ẩn phí" ở đây, là môi sinh bị hủy hoại, quyền lợi và sức khoẻ của công nhân không được bảo vệ, nhiều doanh nghiệp đào chui bán lậu với mức lời cực thấp và khi phá sản thì đành quịt nợ, làm hệ thống ngân hàng bị chìm dưới núi nợ xấu.
- Năm năm trước, Bắc Kinh mới thấy ra sự dại dột này. Họ nghiên cứu việc chấn chỉnh sản xuất và phân phối để tiến dần tới chế độ tập trung kiểm soát. Song song, họ nghĩ đến việc tìm nguồn cung cấp khác vì biết rằng với đà lạm thác, tức là khai thác vô trách nhiệm, trữ lượng kim loại quý sẽ chỉ vừa đủ cho nhu cầu nội địa. Thứ ba là họ phải giữ thế độc quyền về các sản phẩm chiến lược vì liên hệ đến an ninh. Đây là ý nghĩa câu nói của Đặng Tiểu Bình năm 1992, rằng "Trung Đông có dầu khí thì Trung Quốc có đất hiếm." Đó là võ khí chiến lược!
Việt Long: Sau khi thấy ra sự sai lầm, Trung Quốc đã làm những gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nhân kinh nghiệm này, ta nên trước tiên chú ý đến các dự án khai thác bauxite tại Việt Nam, đó là kết quả của sự giác ngộ Trung Quốc! Sau khi mua chuộc lãnh đạo, họ muốn làm chủ một nguồn cung cấp kim loại và cho dân ta hít bụi độc, uống nước ô nhiễm...
- Rồi đầu năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh ra chỉ thỉ kiện toàn kiểm soát và điều hướng sản xuất. Từ Tháng Năm, họ cấm sản xuất lậu, dẹp luôn các cơ sở kém hiệu năng để chỉ còn 20 doanh nghiệp thay vì 90 đơn vị đào đất tìm kim loại hiếm. Rồi họ đặt ra hạn ngạch xuất khẩu, một năm không bán ra quá 35 ngàn tấn. Sau khi gây mâu thuẫn với Nhật Bản về tranh chấp và đụng độ quanh khu vực Senkaku/Điếu ngư đài vào mùng bảy Tháng Chín, họ hăm dọa sẽ ngưng xuất khẩu luôn, bất chấp cam kết về ngoại thương trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Khi Trung Quốc hạn chế dần việc xuất khẩu và giá cả của nhiều kim loại hiếm sẽ tăng. Doanh nghiệp và Chính phủ Nhật có thấy trước việc đó và đang chuẩn bị đối phó. Các nước khác cũng vậy.
Việt Long: Các quốc gia có thể đối phó như thế nào"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói chung, bài toán cung cầu và giá cả đang đảo lộn nên tất nhiên chi phối các quyết định kinh doanh - là vi mô - và kinh tế, là vĩ mô.
- Thí dụ là phải tìm ra nguồn cung cấp điền thế, để thay dần kim loại Trung Quốc. Bài toán kinh doanh và kinh tế dẫn tới giải pháp hợp tác về ngoại thương và ngoại giao với các nước có kim loại hiếm này. Đó là sự hợp tác của Nhật với Ấn Độ, Cộng hoà Mông Cổ và Việt Nam để khảo sát và khai thác.
- Còn các nhà sản xuất lớn trước đây như Hoa Kỳ hay Úc cũng phải cân nhắc lại yếu tố lời lỗ và môi sinh để phục hoạt các mỏ đã có, như Mountain Pass tại California hay Mount Weld tại Úc. Thứ ba, nhờ giá tăng vì nguồn cung cấp thu hẹp thì người ta phải khảo sát địa chất để tìm ra dự trữ mới ở những nơi trước đây không ai cần ngó tới. Những tiến trình ấy sẽ mất nhiều năm mới thành dự án đầu tư rồi đi vào sản xuất.
- Tuy nhiên, ngay trước mắt thì mỗi kim loại lại có đặc tính riêng về kỹ thuật và giá cả. Có loại tối cần thiết cho năng lượng, không gian hay quốc phòng thì mua nơi nào với giá nào cũng phải trả. Có loại thật nhỏ và thật ra cực rẻ, chưa đầy 1% của giá thành thì nếu có phải mua đắt hơn, vấn đề vẫn chưa là nguy kịch. Có loại mà người ta có thể thay thế được thì phải tìm cách thay thế. Có loại thì có thể tái tạo từ phế vật cũ. Cũng có loại siêu hạng mà dù có đất thì Trung Quốc cũng chẳng thể sản xuất ra nên sẽ phải đổi chác với giá đắt hơn... Nói chung, có gần một chục sản phẩm có ý nghĩa sinh tử nhất mà mỗi loại lại xử trí một cách và sớm nhất thì phải vài năm mới hoàn thành.
Việt Long: Tức là từ hai đến năm năm tới, các quốc gia và doanh nghiệp sẽ phải tính toán lại. Việt Nam nên làm gì trong hoàn cảnh đó"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, Việt Nam nên rút tỉa bài học Trung Quốc để rà soát lại từ chiến lược kinh tế đến các dự án hợp tác mà Bắc Kinh nắm dao đằng chuôi còn dân ta là nạn nhân. Các dự án bauxite là thí dụ đầu tiên. Thứ hai, ViệtNam có trữ lượng đáng kể, có thể là 17 triệu tấn đất hiếm, nhưng là loại xin gọi là "xốp", là nhẹ vì có mật độ kim loại ít nên cũng đừng vội lạc quan.
- Then chốt nhất khi đi vào khai thác thì Việt Nam cần cân nhắc lợi ích đếm được bằng tiền với những phí tổn chìm về môi sinh hay sức khoẻ. Khi các nước công nghiệp hoá như Pháp, Đức, Nhật, đang cần các sản phẩm này thì Việt Nam nên hợp tác với họ hơn là với Trung Quốc. Nhưng trong hợp tác thì cần định giá cho đúng so với các ẩn phí và nên hợp tác để học lấy công nghệ hiện đại, có hiệu năng cao và xử lý bùn đất một cách an toàn nhất về môi sinh. Khi ấy, Việt Nam mới thấy thế nào là văn minh tiên tiến so với sự mờ ám vẩn đục của dự án bauxite.
Việt Long: Xin cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.