Hôm nay,  

Trâu Chết Để Da

19/06/200800:00:00(Xem: 9015)
Người Việt Nam có câu "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng". Làm chuyện tốt thì được tiếng thơm muôn đời. Làm chuyện xấu thì "trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Ngay như con trâu, sau khi chết, người ta lột da nó để lợp trống. Da tốt thì cái trống bền lâu, đánh lên kêu vang dội. Da xấu thì chỉ ít lâu tang trống bị rách,... đánh không kêu nữa.

Ông Võ Văn Kiệt vừa nằm xuống ở cái tuổi 86. Theo tiểu sử do đảng Cộng Sản Việt Nam cung cấp, thì ông đã "đi theo cách mạng" từ năm 16 tuổi và gia nhập đảng một năm sau đó. Với 69 năm tuổi đảng và trải qua bao biến cố, cùng 2 cuộc chiến tranh ác liệt, mà ông được chết già trên giường bệnh, thì quả là một điều hiếm thấy. Nói theo thuyết nhân quả thì "Phúc phần" nhà ông Kiệt khá lớn, và có thể do tích tụ từ cha, đời ông để lại. Nhưng, không biết kiếp này, phúc của ông có đủ dày, để dành cho con cháu hay cho kiếp sau của ông hay không "

Cho đến nay, ngoại trừ tại 4 nước còn bị cộng sản cai trị là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, thì khắp nơi trên thế giới người ta đều biết rằng, cộng sản đồng nghĩa với độc tài, với phi dân chủ, với tội ác, với khủng bố... Nạn nhân bị các chế độ cộng sản tàn sát đã lên đến cả trăm triệu người. Nhưng, theo truyền thống dân tộc Việt Nam, "nghĩa tử là nghĩa tận", và khác với đảng Cộng Sản Việt Nam, dân ta không gán ép cho tất cả những ai theo đảng cộng sản là tội ác và khủng bố. Vì vậy, tuy ông Võ Văn Kệt đã từng là nhân vật thuộc hàng chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam, và đã từng làm thủ tướng, nhưng với một số tư tưởng tiến bộ, so với giới lãnh đạo đương thời; sự ra đi của ông Võ Văn Kiệt đã gây nhiều xúc động trong dân chúng, và số người tự nguyện đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng chắc là đông đảo. Đây là một chỉ dấu cho thấy tấm da trâu này cũng dùng được.

Tuy rằng lịch sử sẽ là nơi phê phán tối hậu, nhưng với một khuôn mặt nổi tiếng như ông Võ Văn Kiệt, thì đương nhiên đã có những phê phán về con người của ông từ lúc sinh thời, cũng như ngay sau khi ông vừa nằm xuống. Bởi vậy, bênh cạnh những lời sáo rỗng muộn màng của đảng cộng sản Việt Nam, người ta đã thấy rất nhiều phẩm bình của dư luận về ông, trong lúc Hà Nội còn đang lúng túng, chưa biết loan báo cái chết của ông như thế nào.

Nhìn chung thì dư luận khen cũng lắm, mà chê cũng nhiều. Người ta ca tụng ông Võ Văn Kiệt có công tiến hành "cuộc chuyển giao vĩ đại của một đất nước từ chiến tranh sang hoà bình, từ bao cấp sang đổi mới". Người ta gọi ông là nhà kiến trúc công trình "đổi mới". Là người đã can đảm đương đầu với đám lãnh đạo bảo thủ như Lê Đức Anh, Đỗ Mười... Người ta truyền tụng rằng, vào những năm sau năm 1975, ở cương vị là Bí Thư Thành Ủy Sài Gòn, ông Kiệt đã dũng cảm, đi ngược lại chủ trương của Hà Nội, để cứu đói cho dân Sài Gòn; lúc đó đang cùng cả nước bị thiếu đói vì những chính sách sai lầm của đảng cộng sản Việt Nam. Báo chí ngoại quốc đề cao ông Kiệt khi ở vị trí thủ tướng đã đưa Việt Nam ra khỏi cơn khủng hoảng tài chính, đã khuyến khuyến khích các xí nghiệp tư nhân làm ăn. Đặc biệt là việc ông đưa Việt Nam gia nhập khối ASEAN, vận động Hoa Kỳ bỏ cấm vận và mở bang giao với Hoa Thịnh Đốn. Cùng lúc kêu gọi các doanh nhân nước ngoài vào đầu tư vào Việt Nam. Ông Kiệt được đánh giá là vị thủ tướng năng động hơn hẳn những người tiền nhiệm của ông. Ông cũng được coi là một trường hợp hiếm có trong các nhà lãnh đạo cao cấp, dám tuyên bố công khai chống những sai lầm của hệ thống cộng sản....

Với dư luận Việt Nam, thì bên cạnh những lời khen tương tự, cũng không thiếu những chỉ trích dành cho ông Kiệt. Điểm đặc biệt là, sự phê bình này không chỉ đến từ những thành phần vốn dĩ không ưa cộng sản, mà hầu hết lại đến từ các diễn đàn của giới trẻ có học ở trong nước. Tuổi trẻ Việt Nam rất sòng phẳng, họ kính cẩn nghiêng mình trước sự ra đi của một bậc lão thành cách mạng; nhưng đối với họ, công, tội phải rạch ròi. Tuy ông Võ Văn Kiệt có một số công lao nhất định trong thời kỳ đổi mới, nhưng thực ra đó chỉ là xu thế mà ông buộc phải chạy theo, chứ chẳng phải sáng kiến tài tình nào của ông. Bởi vì, sau khi khối xã hội chủ nghĩa tan rã, để có thể tồn tại, cộng Sản Việt Nam không còn lựa chọn nào khác là phải chuyển hướng. Ông Kiệt cầm quyền ngay vào giai đoạn đó, nên phải nương theo. Cùng lúc đó, ông phải thủ thế, không dám thẳng thắn như ông Trần Xuân Bách, hầu không bị chính cái cơ chế của đảng gạt ra ngoài. Người ta cũng nghi ngờ về thực tâm của ông trong những bài viết hay tuyên bố có tính cách tiến bộ trong những năm gần đây của ông. Bởi vì chính ông là tác giả của nghị định 31/CP, một nghị định vô cùng phản tiến bộ. Đến nỗi sau này, do áp lực của thế giới, chính đảng cộng sản phải huỷ bỏ nó. Trong khi ông Kiệt lại không hề đả động đến lỗi lầm cùng những tai tiếng do nghị định vừa kể của ông gây ra. Bên cạnh đó, tuy ông đưa lời kêu gọi hoà giải giữa những người ở hai chiến tuyến trước đây, nhưng những kêu gọi đó của ông vẫn không ra khỏi lề thói trịch thượng của kẻ thắng ban phát cho người bại, mà ông muốn kêu gọi hoà giải. Điểm quan trọng nhất được vạch ra là, với những hiệp định dâng đất nhượng biển của cộng sản Việt nam cho Trung Quốc, rồì sự xâm lấn bờ cõi của nước đàn anh phương bắc, và sự nhu nhược của Cộng Sản Việt Nam, ông Võ Văn Kiệt đã không hề có lời nào đả động đến sự nhục nhã này. Cuối cùng, mặc dù không bị chỉ trích trực tiếp về sự tham ô nhũng lạm, nhưng người ta cũng đặt nhiều nghi vấn về những tài sản và các cơ sở làm ăn khổng lồ do vợ con ông đứng tên.

Tóm lại, tuy đã có khá nhiều lời khen, tiếng chê đối với ông Võ Văn Kiệt được dư luận đề cập đến khi ông vừa nằm xuống; nhưng chắc chắn là chưa đủ để đánh giá chính xác về con người của ông. Hiện nay có thể còn nhiều điều liên quan đến ông vẫn đang bị Cộng Sản Việt Nam dấu nhẹm. Cũng như có những sự kiện không được đưa ra mổ xẻ tường tận vì sự tế nhị trong lúc tang chế. Nhưng rồi đây lịch sử sẽ vô cùng công bình đối với ông. Và đến lúc đó người ta sẽ biết cái trống lợp bằng miếng da trâu này bền được bao lâu"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.
Từ khi Tối Cao Pháp Viện lật đổ Roe v. Wade, chúng ta đều biết câu chuyện không dừng lại ở đó. “Để tiểu bang tự quyết” chỉ là cái cớ. Và Texas, tiểu bang bảo thủ dẫn đầu, vừa chứng minh điều đó bằng một luật mới: trao cho bất kỳ ai quyền săn lùng và kiện những người dính dáng tới thuốc phá thai. Texas vốn đã có một trong những lệnh cấm khắc nghiệt nhất: phá thai bị cấm hoàn toàn, trừ vài ca y tế khẩn cấp. Không ngoại lệ cho thai dị tật chết non. Không ngoại lệ cho hiếp dâm. Không ngoại lệ cho loạn luân. Thế nên, nhiều phụ nữ Texas chỉ còn con đường tìm đến thuốc phá thai qua mạng, thường từ những nhà cung cấp ở ngoài tiểu bang. Luật mới nhắm thẳng vào cánh cửa mong manh ấy.
Suốt 250 năm, người Mỹ đồng ý rằng cai trị bởi một người duy nhất là sai lầm, rằng chính quyền liên bang vốn cồng kềnh, kém hiệu quả. Lẽ ra hai điều ấy đủ để ngăn một cá nhân cai trị bằng mệnh lệnh từ Bạch Ốc. Nhưng Trump đang làm đúng điều đó: đưa quân vào thành phố, áp thuế quan, can thiệp vào ngân hàng trung ương, chen vào quyền sở hữu công ty, gieo nỗi sợ để buộc dân chúng cúi đầu. Quyền lực bao trùm, nhưng không được lòng dân. Tỉ lệ chấp thuận của ông âm 14 điểm, chỉ nhỉnh hơn chút so với Joe Biden sau cuộc tranh luận thảm hại năm ngoái. Khi ấy chẳng ai lo ông Biden “quá mạnh”. Vậy tại sao Trump, dù bị đa số phản đối, vẫn dễ dàng thắng thế?
Có bao giờ bạn nói một điều rõ ràng như ban ngày, rồi nghe người khác nhắc lại với nghĩa hoàn toàn khác? Bạn viết xuống một hàng chữ, tin rằng ý mình còn nguyên, thế mà khi quay lại, nó biến thành điều bạn chưa từng nghĩ đến – kiểu như soi gương mà thấy bóng mình méo mó, không phải bị hiểu lầm, mà bị người ta cố ý dựng chuyện. Chữ nghĩa, rơi vào tay kẻ cố ý xuyên tạc, chẳng khác gì tấm gương vỡ. Mỗi mảnh gương phản chiếu một phần, nhưng người ta vẫn đem mảnh vỡ đó làm bằng chứng cho toàn bộ bức tranh. Một câu, một đoạn, một khẩu hiệu – xé khỏi bối cảnh trở nên lệch lạc – hóa thành thứ vũ khí đâm ngược lại chính ý nghĩa ban đầu. Câu chuyện của đạo diễn Trấn Thành gần đây là một minh họa. Anh chỉ viết đôi dòng thương tiếc chia buồn với sự ra đi của nghệ sĩ đàn bầu Phạm Đức Thành. Vậy thôi. Thế mà lập tức bị chụp mũ, bêu riếu, bị gọi “3 que,” “khát nước,” “Cali con.” Người ta diễn giải đủ kiểu, vẽ ra đủ cáo buộc: từ tội mê văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đến tội phản quốc.
Sau thất bại trước đối thủ đảng Dân Chủ Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020, nội các “gia đình trị” của Donald Trump gần như biến mất khỏi chính trường. Các đồng minh không thể có cùng tiếng nói với Trump, nhất là sau vụ bạo loạn Quốc Hội Jan 06. Duy nhất một người vẫn một lòng trung thành không bỏ rơi Trump, đó chính là Stephen Miller. Nhiệm kỳ hai của Trump, người được cho là có quyền lực hơn trong vòng tròn thân cận của Trump, hơn cả JD Vance, chẳng ai khác hơn chính là Stephen Miller. Để tạo ra những ảnh hưởng chính trong chính quyền Trump hôm nay, Miller đã có một đường dài chuẩn bị, khôn ngoan và nhẫn nại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.