Hôm nay,  

Bãi Chiến Trường

10/12/200800:00:00(Xem: 7273)
BÃI CHIẾN TRƯỜNG
Hạnh Chi
Tựa bài viết có vẻ bạo động quá, nhưng xin thưa ngay, đây chỉ là bãi chiến của tâm, không có gươm đao chém giết gì cả.
Nhưng ai bảo bãi chiến này không khốc liệt bằng bãi chiến của những đối tượng thù nghịch, quyết tiêu diệt nhau bằng khí giới thế gian"
Trong kinh Phạm Võng hình như có dạy đại khái thế này: "Niết-bàn tùy thuộc nơi khả năng buông bỏ của mình. Dù ta có gạn lọc phiền não, an trú được trong hiện tại nhưng nếu tâm ta vẫn phải cẩn thận theo dõi xem phiền não đã đi chưa" an lạc đã tới chưa" Và nếu an lạc đã tới thì phải vội vã nắm bắt ngay, thì đấy chưa thực là Niết-bàn"
Chúng ta thường dễ dàng chấp nhận cái tương đối bằng khái niệm "không có gì tuyệt đối". Nhưng thực tế, định lực, trí lực của ta thường nhiều hơn ta tưởng, như người đang đau chân, đi khập khiễng, chậm chạp nhưng nếu bất ngờ bị kẻ gian rượt đuổi thì người ấy sẽ chạy rất nhanh, rất khỏe, quên hẳn cái chân đau, vì khi ấy là chạy để sống còn! Chỉ khi đã thoát hiểm, dừng lại mới cảm nhận sự ê ẩm của toàn thân và đau chân tiếp.
Quán tâm để tìm ra những vi tế của cảm thọ cũng thế. Nương vào lẽ Vô Thường để xả bỏ những hệ lụy ngỡ là Thường, ta đã vội tưởng đạt được an lạc rồi ư" Chưa chắc đâu vì chỉ khi ý thức an lạc chứ không cần dụng công nắm bắt nó, khi ấy mới thực sự là thong dong, an lạc; chứ mới xả được chút phiền não đã tưởng an lạc, vội giữ chặt, nắm bắt vì sợ nó bay đi, thì mới chỉ là vỏ ngoài của an lạc, một hạt sương phiền não rơi xuống, cũng đủ vỡ tan cái vỏ mong manh ấy. Nghĩa là, khi phải vất vả chống trả với khổ đau, phải biến ta thành "bãi chiến trường" để tìm an lạc thì an lạc đó chỉ ngắn ngủi, nhất thời. Khổ đau và phiền não như những giặc cướp luôn túc trực trước cửa nhà, chỉ cần ta lơ là, hé mở (lục căn) là chúng xâm nhập ngay và muốn tìm an lạc, ta lại phải "ra chiến trường" để vất vả chiến đấu tiếp!
Nhưng phàm, muốn đạt tới mục đích gì đã đặt ra mà không dụng công quyết tâm quyết chí đi tới thì làm sao có thành quả! Với Tâm, hành động quyết đi tới mục đích là hành động quyết xông pha vào bãi chiến trường, nơi giặc vô minh, phiền não thường xuyên hoành hành, dẫn dắt hành giả vào những vọng tưởng mờ mịt, tạo nghiệp chập chùng chẳng thấy lối ra. Loại giặc này vô hình vô tướng nên khí giới để diệt trừ chúng cũng phải cực kỳ vi tế. Trong trận chiến này, trước hết, hành giả phải có niềm tin rằng bên trong hình hài của thân tứ đại này là sự hiện hữu vô tướng nhưng thường hằng của Chân Tâm.       
"Ngoại hiện phàm phu chi tướng
Nội bí Bồ Tát chi tâm"
Bên ngoài hiện tướng là phàm phu nhưng bên trong ẩn tâm Bồ Tát.
Chân Tâm này có nhiều tên gọi, tùy tông phái, tông môn, tùy ngay cả nơi ý thích của hành giả. Gọi là gì cũng được nhưng bản chất của nó thì không hề đổi thay. Bản chất đó là sự nhận biết đến, đi của mọi sự vật, mọi cảm thọ bằng cái nhận biết thuần khiết, không qua một lăng kính phân biệt nào. Nhìn bông hoa thì nhận là bông hoa. Hoa mầu đỏ thì là hoa đỏ, không phân biệt héo tươi, tốt xấu gì! Cũng bởi không khởi tâm phân biệt nên cái nhận biết đó rỗng rang, thảnh thơi, bình đẳng, khoáng đãng. Chân Tâm này là không gian mênh mông, tĩnh lặng, vô ngôn nhưng lại có khả năng siêu việt nhận biết tất cả mọi cảm thọ đang vận hành, từ ở tầng cạn là Ý đến tầng sâu là Thức. Nếu cái nhận biết này có một trái tim thì ta có thể hình dung trái tim đó luôn mở rộng với vạn hữu, mọi người và mọi loài, thinh lặng và sáng rỡ.         
Hình hài phàm phu chỉ là khối thịt xương do duyên hợp từ đất, nước, gió, lửa, tự nó không có khả năng thấy, nghe, hay cảm nhận gì, mà cái thấy được, nghe được, nhận biết được là từ Chân Tâm (cái-nhận-biết-bên trong), là con-người-thật, là Phật-tánh, là Đức Phật. Mỗi hình hài phàm phu đều mang một Đức Phật bên trong, nhưng phàm phu vẫn rong ruổi khổ nhọc đi tìm ông Phật bên ngoài vì không đủ thông minh và không đủ niềm tin là đang sẵn có ông Phật bên trong! Đức Thế Tôn biết, thế, thương hại nhân gian quá, mà phải xác quyết rằng: "Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành"

Lời Phật nói, chúng ta từng nghe. Kinh Phật dạy, chúng ta từng học nhưng nghiệp chướng phiền não cũng vẫn theo chúng ta từng bước vì những huân tập sâu dầy của kiếp nhân sinh không một sớm một chiều gột bỏ được. Chính tấm màn vô minh này đã che mờ Ông Phật hằng có bên trong. Ông Phật này luôn lặng thinh, tỉnh sáng, tọa ngay nới lằn ranh rất mỏng giữa mê và ngộ. Vì lằn ranh quá vi tế nên ta vẫn vấp ngã, lạc nẻo mà không hay! Tôi và Buồn phải ở hai hình thái, chủ thể và đối tượng; nếu mơ màng nói "Tôi buồn" là rất dễ biến thành "Nỗi buồn của tôi" để bị nhận chìm trong hố thẳm đau buồn đó; trong khi thực thể, "Tôi" là chủ, đứng nhìn "Buồn" là khách. Chủ không đổi rời, chỉ có khách đến rồi đi nhưng vọng tâm vô minh đã không kịp nhìn ra lằn ranh đó mà đồng hóa hai vai trò.
Chính nơi đây, bãi chiến trường thường xảy ra khi một lúc nào đó, ta bị sức ép quá nặng của khổ đau mà bật lên ước muốn tìm cầu giải thoát. Trên đường tìm giác ngộ, việc chọn pháp môn hay tư thế thích hợp căn cơ mình chỉ là hình thức để nương tựa. Động lực thiết yếu phải khởi từ niềm khát khao mãnh liệt, cực kỳ mạnh mẽ và nghiêm túc, như câu chuyên bà già cô đơn trong chòi lá dưới chân núi. Bà cụ chỉ học lóm được dăm câu kệ, trong đó có câu đúng, câu sai nhưng cụ nào biết, mà chí tâm chí thành, tận lực trì tụng ngày đêm nên chính cái chân tâm ấy đã chiêu cảm tới Chư Phật, biểu hiện thành hào quang rực rỡ phát ra từ căn chòi nghèo nàn đó.
Hành giả đi từng bước, phải lần tìm cái nguồn sinh ra vọng rồi "lâm chiến" với nó bằng tất cả sự tự tin, dũng mãnh của ý chí tìm cầu giải thoát giác ngộ. Trân chiến này nhẹ nhàng hay khốc liệt, trường kỳ hay đoản kỳ là tùy thuộc trí tuệ và quyết tâm của hành giả.
Theo kinh nghiệm của bao người xưa thì khi công phu tu tập đạt tới trạng thái rỗng-không-tuyệt-đối là lúc ta có thể nhìn thấy mặt-mũi-thật của bao khổ đau mà ta từng bị giam hãm ngày đêm.
Hóa ra, cái khổ đau đó vẫn đứng tách rời. Nó là đối tượng bị nhìn. Ta là kẻ đứng nhìn. Nó và ta chẳng có chi ràng buộc, sao nó lại có khả năng khiến ta khổ đau"
Khi tâm-vọng bị tâm-không nhận diện một cách dũng cảm như thế, nó sẽ lập tức biến dạng từ khổ đau thành phương tiện giải thoát hữu hiệu nhất cho hành giả!     
Đó là, sự kỳ diệu khi ta nhận ra cái ta quyết diệt, quyết tìm, đã hòa tan thành cái rỗng rang, cái nhận biết mọi sự vật hoàn toàn qua cảm quan khác.    
Đó là, qua bao nhiêu quá trình tu tập khổ nhọc, cái ta tìm ra chẳng có gì là mới mẻ! Nó chính là những cái vẫn Từng-Là, Đang-Là; chỉ khác, ta  không lầm lẫn nhìn nó Là-Ta hay Của-Ta nữa. Ta vừa giải thoát khỏi sự ràng buộc với nó. Ta đã bước ra, đã tách rời. Ta trở về được ngôi vị chủ-nhân-ông mà ta vẫn-hằng-là.
Tới đây, bãi chiến trường đã lặng!
Ôi, để bước qua được lằn ranh Mê và Ngộ rất vi tế này, biết bao bãi Chiến-Trường-Tâm khốc liệt đã và đang xảy ra, đã cứu vớt hoặc dìm sâu bao hành giả miệt mài khổ lụy. Có lẽ biết thế nên Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ đã sách tấn chúng ta qua ba câu thơ ngắn nhưng thật đầy đủ, khi diễn tả về Tâm:
"Tâm, tâm, tâm, nan khả tầm
Khoan thời biến pháp giới,
Trách giả bất dung châm"
Một thiền-sư đã dịch rất sát nghĩa là:
"Tâm, tâm, tâm, khó thể tìm
Rộng thời trùm pháp giới,
Hẹp không dung mũi kim"
Nghe được lời khuyến tấn này, dù đã bị quần thảo tả tơi, tôi lại hăng hái lên đường.
Ra bãi chiến trường lần này, khí giới tôi mang theo là hạnh thứ ba, thứ tư và thứ năm trong Lục Độ Ba La Mật. Đó là Nhẫn Nhục, Tinh Tấn và Thiền Định.      
Tôi tự biết, năng lượng của mỗi hạnh, tôi đều chỉ có rất giới hạn, nhưng nương theo lời cổ nhân "Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng", tôi có thể thành thật tự nhủ rằng: "Biết mình biết người, trăm trận . một thắng!"
Chiến đấu với những đối thủ hữu hình còn dễ, chứ đối tượng đã vô hình, lại, khi bao trùm cả pháp giới, lúc nhỏ như mũi kim thì trận chiến này chẳng đơn giản đâu! Chiến sỹ lơ mơ như tôi, trăm trận thắng một cũng là kỳ công lắm! Nhưng nếu thắng được một, rồi thừa thắng xông lên, tiếp tục chiến đấu, biết đâu ..
Vâng, biết đâu . biết đâu ..
Đó là lời các Bậc Thầy Từ Bi luôn khuyến khích chúng ta.
Điều quan trọng là hãy can đảm cất bước.
NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, Đông 2008)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.