Hôm nay,  

Thời Gian Và Ưu Tiên

30/03/201000:00:00(Xem: 11675)

Thời Gian Và Ưu Tiên

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng
Thời gian là một thứ tài nguyên không thể thiếu nhưng lại vô cùng hiếm hoi. Làm gì cũng phải có thời gian, và ngay cả không làm gì thì thời gian vẫn lừng lững trôi đi. Thời gian hiếm hoi vì chỉ có tiêu đi chứ không vun bồi thêm được. Đối với thời gian, chúng ta không thể co dãn, tích luỹ hay để dành, cho vay hay đòi lại. Chính vì vậy mà tôi không xem thời gian là một thứ “vốn”, vì nếu là vốn thì có thể đầu tư dể tăng trưởng. Thời gian không thể tăng trưởng.
Với hai đặc tính trên, thời gian thường là yếu tố hạn chế của mọi công việc, kế hoạch, chương trình. Trong quy tắc của công nghệ sản xuất, tài nguyên hiếm hoi nhất quyết định số lượng thành phẩm. Chẳng hạn, một xưởng lắp ráp xe hơi chỉ có 20 ngàn bánh xe thì dù có dư thừa mọi thứ vật liệu khác thì cũng chẳng thể sản xuất quá 5 ngàn chiếc xe. Do sự hiếm hoi nhưng lại luôn luôn cần thiết của nó, nếu muốn đạt hiệu quả thì chúng ta phải biết quản lý thời gian.
Bước căn bản nhất để quản lý thời gian là đặt ưu tiên cho công việc-ưu tiên càng cao thì lượng thời gian phân bổ vào đấy phải càng nhiều. Theo một số cuộc nghiên cứu, nếu có trên ba ưu tiên cùng một lúc thì hiệu quả hầu như là con số không, vì như vậy không ưu tiên nào thực sự là ưu tiên.
Trong hoàn cảnh của những người Việt tị nạn, chúng ta có trách nhiệm ba chiều: đối với cộng đồng, đối với xã hội đang định cư, và đối với Việt Nam; do đó chúng ta cần chọn ưu tiên để sao cho tròn trách nhiệm với cả ba. Một cách để không bị tản lực và mất hiệu quả là chọn một ưu tiên chính và hai ưu tiên phụ. Trong sách lược 10 năm tôi đề nghị thì xây dựng nội lực và thế đứng cho cộng đồng là ưu tiên hàng đầu vì nó sẽ bổ trợ cho hai ưu tiên kia. Phát triển thế và lực cho cộng đồng Việt cũng là xây dựng hậu phương vững mạnh cho những nỗ lực nhằm thay đổi Việt Nam và cũng sẽ tự động đóng góp cho xã hội và củng cố nền dân chủ của quốc gia định cư.


Trong 35 năm qua, như một tập thể chúng ta đã không đặt ưu tiên rõ ràng cho hành động nên hoạt động thiếu trọng tâm, dẫn đến tình trạng rối hoảng, phản ứng trước biến cố, đối phó với hậu quả, và bị động. Tình trạng này rất rõ trong các sinh hoạt đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam. Cộng đồng Việt ở hải ngoại đã phản ứng trước những biến cố “nóng” như Thái Hà, Tam Toà, Bầu Sen, Đồng Chiêm, Bát Nhã… Đó là chưa kể những vụ bắt bớ hàng trăm nhà đấu tranh cho dân chủ. Vì chỉ phản ứng nên việc làm thiếu bề sâu về nội dung và chiều dài về sách lược. Lực đã ít lại bị chia ra lắt nhắt--việc này chưa xong thì phải bỏ dở để đối phó với việc mới xảy ra, không việc nào đến nơi đến chốn.
Không những vậy, chúng ta lại chểnh mảng đối với nhu cầu xây dựng, củng cố và phát triển cộng đồng.  Như phân tích ở trên, đây lẽ ra phải là ưu tiên hàng đầu vì cộng đồng có nội lực và thế đứng ở quốc gia định cư chính là căn bản cần thiết cho những nỗ lực vận động có bề sâu và chiều dài nhằm thay đổi Việt Nam. Đó là chưa kể trách nhiệm chúng ta phải có đối với đồng bào đang khốn khó ở ngay trong cộng đồng gần gũi của chúng ta.
Trong 10 đến 15 năm tới đây, chúng ta có cơ hội để chuyển biến cộng đồng và thay đổi Việt Nam. Muốn tận dụng cơ hội ấy chúng ta cần tập trung năng lực và tài nguyên vào một ít trọng tâm nhất định trong một thời gian đủ dài. Trong sách lược 10 năm gởi đến cộng đồng, tôi đưa ra 4 trọng tâm để xây dựng nội lực và thế đứng cho cộng đồng và bốn trọng tâm để thay đổi Việt Nam. Tôi đề nghị mỗi người chọn không quá hai trọng tâm cho thời gian từ 3 đến 5 năm tới: một đối với cộng đồng và một đối với Việt Nam. Sau khi chọn trọng tâm để theo đuổi, chúng ta cần nhắc nhở nhau tránh “xé rào”, nhẩy từ việc này sang việc khác.
Được vậy, chúng ta có hy vọng sẽ hoàn thành trách nhiệm đối với đồng bào, dân tộc, và xã hội.

Từ ngày nước Mỹ lập quốc, chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại bị đối thủ mang ra mổ xẻ, tấn công với những lời lẽ không phù hợp với tư cách một người tranh cử vị trí lãnh đạo quốc gia. Nhưng ngược lại, cũng chưa bao giờ nụ cười của một ứng cử viên tổng thống lại trở thành niềm hy vọng cho một đất nước đang đối đầu với mối nguy hiểm “duy nhất suốt 248 năm” (theo lời cựu Phó Tổng Thống Dick Chenny.) Đó là nụ cười của Kamala Harris – Một nụ cười đang ngày càng thay hình đổi dạng cuộc tranh cử tổng thống kinh điển của nước Mỹ.
Cựu Tổng Thống Donald Trump đã trình bầy kế hoạch kinh tế của ông tại Economic Club of New York trước đám đông các kinh tế gia, lãnh đạo doanh nghiệp và nhà báo vào 5-9-2024 vừa qua. Buổi nói chuyện này nằm trong chiến dịch tranh cử. Kế hoạch kinh tế trong nhiệm kỳ 2 nếu ông thắng cử bao gồm nhiều chính sách mà ông đã thi hành trong bốn năm đầu cầm quyền. Ông tuyên bố sẽ loại bỏ nhiều chương trình của chính quyền Biden. Ứng cử viên tổng thống của Cộng Hòa quảng cáo chương trình của ông với thuế nội địa thấp, thuế nhập cảng cao chưa từng thấy, giảm bớt luật lệ, và kinh tế phát triển mạnh. Nhưng nhiều chuyên viên đã nghi ngờ giá trị của chương trình kinh tế này. Nhiều người đã lên tiếng chỉ trích đề xuất kinh tế của Trump như chúng ta sẽ thấy trong những phần dưới đây của bài báo này.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 sắp tới không chỉ định hình tương lai chính trị của quốc gia trong vài năm tới mà còn đặt ra những câu hỏi căn bản về bản sắc và tương lai của chính nước Mỹ. Trong khi kết quả bầu cử sẽ quyết định nhiều vấn đề quan trọng, những xung đột sâu sắc về bản chất của nước Mỹ đã được phản ảnh rõ nét qua đường lối, chính sách nêu ra tại hai đại hội Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vừa qua.
Tôi đã xem qua cả trăm bài viết với với nội dung và ngôn từ (“đầu đường xó chợ”) tương tự nhưng chưa bao giờ bận tâm hay phiền hà gì sất. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, các bạn DLV đều không quen cầm bút nên viết lách hơi bị khó khăn, và vô cùng khó đọc. Họ hoàn toàn không có khái niệm chi về câu cú và văn phạm cả nên hành văn lủng củng, vụng về, dài dòng, lan man trích dẫn đủ thứ nghị quyết (vớ vẩn) để chứng minh là đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn luôn đúng đắn. Họ cũng sẵn sàng thóa mạ bất cứ ai không “nhận thức được sự đúng đắn” này, chứ không thể lập luận hay phản bác bất cứ một cáo buộc nào ráo trọi.
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.